Khi ngân hàng có một số nợ xấu khó thu hồi, có nghĩa ngân
hàng phải ghi số nợ đó là lổ trong các thu chi tài chính. Có trường hợp nợ xấu
có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, trái phiếu và quyền sở hữu tài sản của doanh
nghiệp hay cá nhân mượn nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng phải giao nhiệm vụ
cho chuyên viên hay nhân viên có nghiệp vụ nhằm quản lý nợ xấu này thông qua
các công cụ quản lý và giao dịch nhằm thu hồi số nợ hay tạo ra lợi nhuận. Các
công cụ này đòi hỏi chuyên môn, thời gian và sự cải thiện nhằm tạo ra sản phẩm
trung gian giao dịch mới trên thị trường. Biến nợ xấu thành các sản phẩm tài
chính có thể giao dịch thông thường. Có thể đi kèm với giảm giá hay ưu tiên về
giá trị để thu hút nhà đầu tư mới mua số nợ xấu này.
Trong qui mô lớn hay số lượng lớn nợ xấu có thể tạo ra gánh
năng cho ngân hàng, mà bản thân ngân hàng phải công khai thu chi tài chính với
cổ đông và người gửi tiền. Như vậy sự thất thoát hay lổ qua số lượng nợ xấu sẻ
tạo ra tâm lý tiêu cực cho nhà đầu tư và người gửi tiền. Đó là lý do, các ngân
hàng ít khi nào thông báo chi tiết cụ thể mức nợ xấu tại ngân hàng. Ngoài ra,
ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát của chính phủ có thể dựa trên số liệu
nợ xấu mà buộc ngân hàng phải thay đổi chính sách cho vay vốn và quản lý vốn. Một
trong các lý do mà có nhiều nợ xấu do phương thức quản lý vốn và cho vay vốn
trong các năm trước khi có cuộc khủng hoảng tài chính 2008 tại Hoa Kỳ. Ngoài ra
do mức hoa hồng và lệ phí thu từ mỗi hợp đồng cho vay vốn tạo ra nhiều thiếu
xót khi người phê duyệt vốn vay và các rủi ro tồn tại trong từng trường hợp của
khách hàng dùng vốn vay đầu tư vào thị trường bất động sản hay kinh doanh mặt
hàng có tính rủi ro cao. Nghiệp vụ xem xét các giá trị rủi ro trong từng trường
hợp vay vốn khác nhau, do đó tính chuyên môn của nhân viên ngân hàng cần có. Điều
này giúp ngân hàng hoạt động lâu dài và tạo ra lợi nhuận thông qua việc cho vay
vốn liên quan đến các hoạt động kinh tế lành mạnh.
Khi đánh giá số nợ xấu tại thị trường tài chính lên khoảng
30 tỉ USD, thì có nhiều lý do để phân loại số nợ xấu này theo mức độ có thể
chuyển đổi nợ xấu ra làm cổ phiếu, trái phiếu hay quyền sở hữu trên tài sản của
doanh nghiệp là khách hàng đả vay nợ từ ngân hàng. Nếu số lượng nợ này có thể
chuyển đổi thành các sản phẩm tài chính với mức khấu trừ hay giảm giá thì sẻ có
khách hàng mới mua số nợ này. Nhưng bên cạnh đó, ngân hàng trung ương hay cơ
quan tài chính của chính phủ sẻ đứng ra bảo trợ cho việc giao dịch các mua bán
này. Thông qua việc kiểm định khả năng thay toán và mức đổ rủi rỏ của từng loại
nợ mà chính phủ cho phép biến thành cổ phiếu, trái phiếu và các hình thức sở hữu
khác. Lúc đó sẻ có một lượng tiền mặt được lưu thông vào thị trường tài chính
giảm đi giá trị của số lượng nợ xấu. Nó củng giúp ngân hàng giải phóng nguồn vốn
và tạo ra mức tín dụng mới cho các doanh nghiệp đang cần vốn kinh doanh, hay
người tiêu dùng đang cần chi tiêu.