Monday, October 8, 2012

E-book of Management for Managers and CEOs

Lời Mở Đầu
 “Sáng kiến có thể đem lại sự thành công trong lợi nhuận. Thời gian mà doanh nghiệp trẻ có thể làm được là dám theo đuổi sáng kiến, ý tưởng của mình, tìm người đầu tư, chọn phương thức hiệu quả cho việc kinh doanh. Phát triển thị trường, nuôi dưỡng mối quan hệ với khách hàng là các tác động tiếp theo.”
 *****
 Khi nhìn lại các quốc gia trong khu vực như Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Nam Triều Tiên và Nhật Bản, doanh nghiệp trẻ Việt Nam sẻ có nhiều câu hỏi và củng có nhiều câu trả lời cho sự thành công của các quốc gia này. Trong tiếng Việt, có câu thành ngữ - thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Nó có thể áp dụng cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030.



Các quốc gia phương Tây đang chuyển dần sự đầu tư cho các loại sản xuất tiêu dùng sang các thị trường bao quanh Trung Quốc với nhiều lý do khác nhau. Vấn đề chính trị luôn tác động đến chính sách ngoại giao, đầu tư, trao đổi mậu dịch quốc tế, và hợp tác quốc tế. Hầu như các quốc gia có ưu đải về mậu dịch với thị trường Hoa Kỳ luôn thành công về mặt kinh tế trong thời gian ngắn nhất. Ngoài ra còn yếu tố con người. Tức là tự bản thân quốc gia đó hoạch định ra các chính sách kinh tế hiệu quả nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động có lời và xuất khẩu nhiều hơn ra thị trường nước ngoài. Singapore, Đài Loan, Nam Triều Tiên và Nhật Bản là câu trả lời cho khả năng chuyển mình của nền kinh tế tại Việt Nam có thể đạt được qui mô lớn hơn với tốc độ gia tăng GDP trên 10% một năm và mức lạm phát dưới 3% một năm.

Vị trí địa lý của thị trường Việt Nam có lẻ chưa khai thác triệt để cho các giá trị: kinh tế, thị trường chuyển tiếp, cung cấp nguyên nhiên liệu và trung chuyển hàng hóa và dịch vụ, du lịch, và cầu nối văn hóa và an ninh trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Cuốn sách này được rút tỉa các kiến thức tổng hợp quốc tế và sự phân tích, bình luận mà tôi dùng phương pháp so sánh và đối chiếu để giúp các bạn trẻ Việt Nam khai thác cả ba giá trị: thiên thời, địa lợi và nhân hòa trong việc hình thành doanh nghiệp của mình, hay hoàn thiện chức năng chuyên môn của mình trong doanh nghiệp mình làm việc. Nhờ vậy mà nền kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng GDP lớn hơn 10%, mức lạm phát dưới 3%, và đạt cán cân mậu dịch theo tỉ lệ xuất khẩu/nhập khẩu là 70/30 một năm. Trong năm 2030, GDP của Việt Nam có thể vượt qua con số 1000 tỉ USD, nếu dùng công thức đơn giản là 12% tăng trưởng GDP và mức lạp phát dưới 3%, đồng thời mức thặng dư mậu dịch lớn, mức tiết kiệm cao trên 15% thu nhập cá nhân, và qui mô phát triển cơ sở hạ tầng hiệu quả (Đừng nên đua nhau đầu cơ nhà đất hay chứng khoáng cho giá trị tức thời, nhưng ngược lại gây xáo trộn nền kinh tế Việt Nam về lâu dài)

Khi nói đến quản lý kinh tế một doanh nghiệp, cán bạn trẻ sẻ luôn nghĩ đến các giá trị sau:

1)      Thị trường là nơi mà sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra phục vụ người tiêu dùng.
2)      Nguồn tài nguyên sẳn có hay cần có: nhân lực, cơ sở, máy móc, thiết bị, công nghệ, phát minh, vốn. (quản lý nhân sự, vốn, vật tư, thương lượng giá cả)
3)      Mối quan hệ giao dịch với đối tác là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, ngân hàng, nhà đầu tư hay đối tác làm ăn
4)      Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước trong và ngoài nước
5)      Tình hình chính trị và ổn định trong và ngoài nước

Từ năm giá trị vừa nêu trên, các bạn trẻ sẻ quyết định cho sự phân bổ nguồn nhân lực theo các nguồn tài nguyên khác nhau cho kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Các doanh nghiệp kinh tế sẻ khai thác giá trị lợi nhuận theo sự cung cấp sản phẩm và dịch vụ có sức thỏa mản cao cho nhu cầu cho thị trường. Khi doanh nghiệp tiêu dùng tại Việt Nam đứng trước nguy cơ cạnh tranh về giá, mẫu mã, chuẩn loại, chất lượng từ các quốc gia nước ngoài, điển hình là Trung Quốc. Các doanh nghiệp trong nước luôn hoan man, lo lắng không biết tìm ra đối sách nào để tồn tại, cạnh tranh.

Trong khi đó các doanh nghiệp quản lý thông tin, đài truyền hình, giáo dục, viễn thông, vận tải, quản lý cầu cảng hàng không, hải cảng, kho bải, khu chế xuất, sẻ có các mục tiêu khác nhau vì họ ít có đối thủ cạnh tranh như các doanh nghiệp kinh tế. Họ cần chú trọng cho việc hiệu quả là gia tăng sự lưu thông hàng hóa có hiệu xuất cao, giảm thời gian chờ kho bải, củng như giảm chi phí vận chuyển nhằm tạo ra giá rẻ cho hàng hóa của Việt Nam. Hệ thống thông tin và giải chí có nhiệm vụ tuyên truyền tạo ra động lực làm việc, tạo ra môi trường sống lành mạnh, động lực làm giàu tích cực và có ý thức. Các cơ quan chức năng của chính phủ có một nhiệm vụ hoàn toàn khác là tạo ra một môi trường lý tưởng và hoàn hảo cho các doanh nghiệp kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn. Củng như tạo môi trường sinh sống, sinh hoạt lành mạnh cho người tiêu dùng trong nước và du khách nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài. Nâng cao khả năng tri thức cho nhân viên, cộng đồng cư dân trong khu vực; các cơ quan chức năng không chỉ kích thích tinh thần hiếu học, phát huy sáng kiến, cải tiến sản phẩm, dịch vụ, nâng cao điệu kiện sống mà nó còn gián tiếp tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho thị trường phát triển trong tương lai.

Doanh nghiệp tư nhân luôn chọn cho mình một hướng đi theo các giá trị quản lý tài nguyên như sau:

1)      Phân bổ nhân sự (tuyển dụng, đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật, định hướng phát triển của doanh nghiệp rỏ ràng)
2)      Ngân sách (tìm nguồn, phát triển nguồn, gia tăng nguồn)
3)      Doanh thu từ hoạt động kinh tế (giảm chi phí, gia tăng lợi nhuận)
4)      Sự hổ trợ về các điều kiện tối ưu từ nhà đầu tư hay chính phủ
5)      Sử dụng đất đai và chi phí  hay thuê mướn đất đai, máy móc thiết bị

5 yếu tố này tạo ra hai mặt tích cực và tiêu cực cho các hoạt động của doanh nghiệp. Mặt tích cực là khả năng thay đổi theo điều kiện thay đổi của thị trường. Khai thác thông tin từ thị trường hay nội bộ tạo ra ưu thế đi trước các đối thủ cho từng chiến lược kinh doanh. Các doanh nhiệp củng có thể gặp phải các mặt tiêu cực. Khi có quá ít khó khăn hay đối thủ cạnh tranh, họ sẻ ỷ lại và độc quyền không cải thiện môi trường kinh doanh cho quyền lợi của người tiêu dùng. Điều này có thể gây nguy hại cho quốc gia, khi nền kinh tế mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài vào. Đó là lúc mà các doanh nghiệp trong nước sẻ bị các công ty nước ngoài cạnh tranh trên toàn phương diện trong các lĩnh vực: giáo dục, hàng không, ngân hàng, đài truyền hình, quản lý kho bải cụm cảng, nhà máy điện, xe điện, xe vận tải, bưu chính viễn thông. Giá trị cạnh tranh luôn giúp doanh nghiệp phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn về thời gian, giá trị cung cấp với sự cải thiện trong phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm, phương thức phục vụ. Ngoài ra yếu tốn con người là quan trọng nhất. Có nghĩa nhà doanh nghiệp sẻ quản lý nhân viên của mình theo sự khen thưởng hợp lý, nhằm tạo ra động lực sáng tạo, cố gắng, cải tiến, tương trợ, trung thành, nhiệt tình, say mê trong công việc. Có như vậy thì doanh nghiệp mới tồn tại trước sự cạnh tranh khốc liệt tại thị trường trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, luôn tạo cho nhân viên một niềm tin là nổ lực của họ làm được sẻ tạo ra tương lai ổn định, hạnh phúc, và thành đạt cho bản thân họ và doanh nghiệp.

Khi nói đến phát triển kinh tế, sẻ không ít người luôn cảm nhận là phải làm thế này hay thế khác cho các giá trị cảm tính hơn là lý tính. Nhưng thực tế là sự thành công về kinh tế của các nước như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ đều mang những đặc tính chung sau:

1)      Giá trị của hoàn cảnh chính trị trong và ngoài nước tạo ra hai loại đầu tư: nội bộ và bên ngoài. Nguồn đầu tư hầu như chịu ảnh hưởng của các chính sách ngoại giao của quốc gia đối với các quốc gia khác.
2)      Giá trị kiến thức và động lực làm giàu của các thành viên trong xã hội thông qua quá trình cạnh tranh từ khi còn là học sinh, sinh viên, nhân viên và thành viên trong xã hội. Các kiến thức giúp con người nhận ra cơ hội và khai thác cơ hội một cách tích cực và chủ động. Nó còn giúp con người bắt chước các giá trị có sẳn và cải tiến nó thành những giá trị tốt hơn. Động lực làm giàu giúp con người tạo ra sáng kiến, không ngừng học hỏi và phát minh ra sản phẩm phục vụ thị trường. Sáng kiến có thể được đánh giá giống như là phần thưởng vật chất mà nhà phát minh nhận được. Kiến thức còn tạo ra một khái niệm xã hội hóa những con người thành đạt. Có nghĩa một người thành đạt củng muốn có nhiều người thành đạt như mình.
3)      Sự khai thác giá trị so sánh thông qua qui mô toàn cầu hóa, internet, quản lý vận chuyển cung cấp vật liệu linh kiện giúp doanh nghiệp từ thị trường này có thể thăm nhập vào thị trường khác ở tốc độ của tin học và sự tiện lợi.
4)      Nguồn tài chính có khả năng nối kết giữa nhiều thị trường giúp gia tăng sự lưu chuyển hàng hóa và giao dịch ở tốc độ cao. Trả bằng thẻ tín dụng, chuyển khoảng điện tử, bộ chíp tài khoảng gắn trong thiết bị cầm tay đả giúp gia tăng sự giao dịch trong và ngoài nước tạo ra mức doanh thu và thuế thu nhập cao hơn
5)      Các cấu trúc modular hay theo cụm và khối giúp cho các doanh nghiệp dể dàng bắt trước kiểu dáng, mẫu mã trong việc tạo ra sản phẩm tương tự nhưng giá thành rẻ hơn. Đồng thời dể thay thế, sửa chửa và lấp ráp.
6)      Toán được áp dụng vào nhiều lĩnh vực tài chính, thương mại tạo ra những sản phẩm siêu lợi nhuận cho nhà đầu tư. Ngay cả người tiêu dùng củng không hiểu hết các thủ thuật kiếm tiền của các công ty tài chính. Phần lớn các công ty tài chính đa quốc gia thuê các chuyên gia kinh tế có bằng tiến sĩ, thạc sĩ về toán kinh tế và tâm lý con người để chế tạo ra các loại sản phẩm tài chính siêu lợi nhuận. Chủ nghĩa tư bản không tạo ra lợi nhuận, mà giá trị sở hữu tư nhân và động lực kiếm tiền của con người tạo ra các công thức tạo ra lợi nhuận. Do đó chính phủ điều chỉnh thu nhập thông qua thuế trên từng nhóm thu nhập khác nhau và dùng pháp luật hạn chế các hành vi đầu cơ trục lợi.
7)      Sự thay đổi hay chuyển biến một thành phố, khu chế xuất, vùng nông thôn thành một tâm trung phát triển một ngành công nghệ chuyên môn đều mang giá trị tài chính và chính trị cho khả năng quốc phòng và nguồn tài chính mạnh. Tại sao Ấn Độ có thể phát triển mạnh về kỷ nghệ thông tin và lập trình ở qui mô toàn cầu? Tại sao Đài Loan lại có khả năng thay thế thung lũng silicon của Hoa Kỳ ở các sản phẩm máy tính, điện thoại, thông tin và công nghệ viễn thông? Tại sao Nam Triều Tiên có thể vươn lên trong kỷ nghệ chế tạo xa hơi, điện tử, viễn thông, máy công nghiệp và đóng tàu? Tại sao Singapore có thể phát triển một trung tâm tài chính, giải trí, nghiên cứu có tầm vóc khu vực và thế giới trong thời gian là 30 năm? Nhật Bản là ngoại lệ, vì chính phủ Nhật Bản biết khai thác cả ba yếu tố: chính trị, xã hội, và con người trong thời hậu chiến 1945-1990. Yếu tố chính trị đóng vai trò gia tăng sự ban giao quốc tế, mậu dịch giữa các quốc gia với nhau.
8)      Giá trị hoán đổi giữa việc khai thác tài nguyên, sức lao động cho lợi nhuận của doanh nghiệp và của xã hội theo giá trị thu nhập của từng cá nhân là thành viên trong xã hội. Điều này có thể lý giải tại sao Trung Quốc thành công trong thời gian ngắn là 30 năm với phương châm “làm giàu là niềm kiêu hảnh” hay “làm giàu là ưu tiên hàng đầu”. Nó mang ý nghĩa cho sự hy sinh ở nhiều khía cạnh tranh xã hội, nhưng đồng thời lại tạo ra nhiều giá trị thiết thực cho xã hội. Mức thất nghiệp luôn phải là dương trong khoảng 3% đến 5% tạo ra động lực làm việc của người lao động, vì họ luôn nghĩ rằng nếu họ chê công việc đó, thì sẻ có người khác sẳn sàng thay thế vị trí của họ. Điểm thứ hai là khi xã hội có bất công ở một mức nào đó như về mức thu nhập, thì xã hội mới phát triển ở tốc độ cao. Bởi vì người có tài sẻ tiếp tục ra sức làm giàu, khi người không có tài sẻ nhận phần của mình qua mức lương căn bản. Nhưng bên cạnh đó, chính phủ sẻ tái phân phối thu nhập thông qua nguồn thuế cho các chương trình an sinh xã hội hổ trợ cho người nghèo, thất nghiệp, giáo dục. Đó là công cụ mà chính phủ giảm đi sự bất công và bất an trong xã hội. Các quốc gia Bắc Âu thường đóng thuế cao vì chính phủ muốn phân phối thu nhập thông qua các chương trình an sinh, giáo dục, y tế, nhà ở miễn phí. Nhưng các chính phủ này có lợi thế là mức GDP của họ tăng trưởng ở mức phù hợp với chính sách thuế cao. Việt Nam có thể áp dụng nhiều phương thức trong cùng một thị trường vì mức thu nhập của từng nơn khác nhau, chính quyền địa phương không thể thực hiện đồng bộ theo qui mô toàn quốc. Ví dụ ngân sách của thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Long An, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tài cao do có nhiều doanh nghiệp nước ngoài và trong nước hoạt động, do đó chính quyền địa phương ở đây có khả năng thực hiện nhiều chương trình phục vụ cho xã hội, con người, y tế, giáo dục. Còn các tĩnh, thành không có nguồn thu nhập cao do chưa khai thác giá trị kinh tế thị trường sẻ phụ thuộc vào nguồn ngân sách từ trung ương hổ trợ cho các chương trình xã hội. Mà ngân sách của trung ương thì do thu thuế và lợi tức từ các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước đóng góp. Như vậy người dân có hộ khẩu tại các thành phố lớn và khu công nghiệp phát triển sẻ có nhiều ích lợi và ưu đải hơn là cư dân có hộ khẩu ở nơi khác. Hộ khẩu củng giúp cho chính phủ quản lý số cư dân chính thức sinh sống trong khu vực quản lý của mình. Ngoài ra tư nhân củng có thể tham gia hổ trợ cho chính phủ trong các chương trình mạnh thường quân đóng góp cho hoạt động công ích của xã hội. Họ có thể được giảm thuế dựa trên số tiền đóng góp trong các chương trình cộng đồng này.

Lý do mà tôi biên soạn cuốn sách này là muốn đóng góp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam có hiệu quả, lợi nhuận cao hơn, đa dạng sản phẩm hơn, và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Việt Nam có thể đạt tốc độ phát triển kinh tế cao khi có nhiều nhà doanh nghiệp trẻ thành công. Nếu trong vòng 20 năm tới, Việt Nam có hơn 10 doanh nghiệp trẻ có tài sản hơn 1 tỉ USD, thì đó không chỉ là niềm hãnh diện của người dân Việt Nam, mà còn là xu hướng phát triển kinh tế vi mô hiệu quả cho nền kinh tế năng động tại Việt Nam. Điều tiếp theo, tôi hy vọng là giúp cho nước Việt Nam có nhiều nhà doanh nghiệp trẻ thành công. Nếu các bạn trẻ có dịp tu nghiệp nước ngoài, thì con số thành công sẻ lớn hơn nhiều. Như vậy sự đóng góp nhỏ này cho việc tiết kiệm chi phí du học, củng là điều mà tôi cần nên làm. Nếu chi phi đi du học là 10 ngàn USD, và số lượng sinh viên đi du học là 10,000 người, như vậy tôi có thể giúp cho Việt Nam tiết kiệm khoảng 100 triệu USD. Nếu cuốn sách này được chuyển đến tay của 1 triệu sinh viên thì con số tiến kiệm sẻ là 10 tỉ USD.

Cuốn sách này được tôi biên soạn dựa trên các tài liệu quốc tế do các nhà kinh tế, giáo sự Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ biên soạn. Đồng thời tôi so sánh và sửa đổi các giá trị này cho phù hợp với môi trường xã hội, chính trị, văn hóa, lịch sử và con người của Việt Nam. Tôi hạn chế ví dụ hay dẩn chứng, vì các bạn trẻ đọc cuốn sách này sẻ liên tưởng đến các hoàn cảnh cụ thể trong thực tế của doanh nghiệp hay cơ quan chức năng mà suy luận và áp dụng cho phù hợp. Các giá trị thành công ở nước ngoài không nhất thiết phải giử nguyên bản và đem áp dụng tại Việt Nam. Việt Nam có thể ứng dụng các phiên bản có hiệu chỉnh và thay đổi, gọi là sự linh động và biến hóa phù hợp với tính cách và văn hóa của dân tộc. Hay gọi là niềm tự hào của bản sắc dân tộc. Và điều cốt lỏi mà các sinh viên Việt Nam cần nhận ra là sự hoà nhập và khai thác giá trị kinh tế so sánh, kinh doanh cạnh tranh, và đuổi kịp các quốc gia trong khu vực về trình độ công nghệ, tiếp thị, khả năng quản lý, sáng tạo sản phầm, thì họ sẻ đu kau năng gia tăng doanh thu trong việc tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong và ngoài nước. Do đó doanh nghiệp Việt Nam cần thành lập cầu nối cho việc cung cấp và gia công cho các tập đoàn công nghiệp của Hoa Kỳ, đại lý bán lẻ, và dịch vụ y tế, dịch vụ thương mại tại Hoa Kỳ, Riêng Nhật Bản, thị trường Việt Nam có thể phát triển theo một công thức riêng: vốn, công nghệ, chuyên gia từ Nhật Bản cộng nhân công rẻ, có chất lượng, sáng tạo, kỷ luật, say mê tạo ra sản phẩm tiêu thụ toàn  thế giới.

Tôi đả rút gọi đóng gói các kiến thực vào cuốn sách này. Với mười hai chương và phần đặc biệc “Cán Bạn Trẻ Việt Nam và Ước Mơ Làm Giàu” trong phần cuối của 12 chương. Nó sẻ giúp các bạn thành công mau hơn và hiệu quả hơn trong việc xác định ước mơ, nghề nghiệp và tương lai của mình. Các bạn trẻ sẻ đọc từng chương hay chỉ đọc phần cuối cho mục đích kinh doanh làm giàu của mình. Điều quan trọng là khi các bạn làm giàu, các bạn nên nhớ đóng góp cho xã hội Việt Nam bằng hành động cụ thể là tham gia các chương trình từ thiện và phục vụ cộng đồng nơi bạn đang sinh sống.

Cuốn sách này sẻ đem lại nhiều ích lợi, thực tiển và hiệu quả cho doanh nghiệp áp dụng. Sự phổ biến của cuốn sách này không chỉ tiết kiệm tiền đi du học của các sinh viên, mà nó còn mang giá trị hệ thống hóa cao. Thường các bạn trẻ luôn thèm khác hay ngưỡng mộ một cá nhân nào đó đả thành công từ bàn tay trắng, và trở nên giàu có với việc gây dựng nên một tập đoàn tài chính, công nghệ thông tin, ngân hàng, may mặc, sản xuẩt đồ gồ. Có lẻ ích ai nghĩ lý do nào mà tôi lại bỏ công biên soạn mà không thu được lợi nhuận nào cho cá nhân của tôi. Tôi mong muốn việc tôi làm có thể giúp Việt Nam trở thành một quốc gia giàu có trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Một ngày không xa, tôi có thể ngồi trên chiếc xe điện siêu tốc từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chính Minh trong vòng 5 tiếng hay 6 tiếng. Ngoài ra tôi có thể lái một chiêc xe hơn do kỷ sư Việt Nam thiết kế có chất lượng cao, an toàn và tiện nghi hiện đại. Tôi có thể đi du lịch bằng tàu thủy do công ty đóng tàu của Việt Nam chế tạo. Tôi có thể xem truyền hình độ nét cao từ một sản phẩm do công ty điện tử của Việt Nam chế tạo. Tôi có thể dùng máy điện toán sách tay do công ty Việt Nam sản xuất. Tôi có thể ăn cơm trưa tại một tiệm thuộc hệ thống nhà hàng do người Việt Nam quản lý có tiêu chuẩn quốc tế và sự đồng bộ trong mọi khâu sản xuất và phục vụ khách hàng. Tôi có thể ở trong một căn hộ tiện nghi và hiện đại do kiến trúc sư Việt Nam thiết kế, cùng các vận dùng mang dòng chử “made-in-Vietnam” có chất lượng cao, kiểu dáng đẹp, độ bền tốt. Ngày đó không còn xa, mà các bộ lảnh đạo của Việt Nam sẻ làm được khi GDP của Việt Nam vượt qua con số 1000 tỉ USD trong năm 2030.

Cuốn sách này là chìa khóa mở ra cánh cửa cho nền kinh tế của Việt Nam có thể hoạt động ở mức độ hiệu quả, hiệu xuất cao ở qui mô toàn cầu trong gia đoạn 2011-2030.

Thị trường Việt Nam đả mở ra cánh cửa cho sự hội nhập của kinh doanh sản xuất phục vụ cả thị trường trong và ngoài nước. Nhật Bản vươn mình ngang hàng với các cường quốc phương tây cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. rối trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới giữa thập niên 1980s. Trong khi đó Trung Quốc trở nên giàu có vì biết khai thác các cơ hội có một không hai: (a) môi trường chính trị của chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Khối Tư Bản Phương Tây trước 1990, (b) tốc độ toàn cầu hóa dưới sự ảnh hưởng của tin học, internet, và tự do mậu dịch và sự nới lỏng của luật kinh doanh tài chính tại Hoa Kỳ giúp mở rộng đầu tư, (c) chiến tranh khu vực và giá  dầu leo thang, (d) cộng đồng người Hoa có mặt hầu như ở mọi nơi trên thế giới, (e) khả năng theo kịp công nghệ Phương Tây, Nhật Bản thông qua việc liên doanh và mua bản quyền và phát triển theo phiên bản gốc tạo ra giá thành hạ, (f) kiểm soát tỉ giá hối đoái và cố định tỉ giá theo USD giúp mức xuất siêu tạo ra thặng dư mậu dịch cho vốn đầu tư trong và ngoài nước, (g) lượng lao động dư thừa tạo ra giá lao động thấp cho nguồn kinh doanh sản xuất cho xuất khẩu, (h) ngân sách chi phí thấp cho việc bảo vệ môi trường giúp các doanh nghiệp có lợi nhuận cao và khả năng cạnh tranh về giá thành, (i) biết kết hợp sở hữu của nhà nước trong sở hữu tư nhân nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài, (j) các nhà đầu tư vào thị trường địa ốc có thể nghiên cứu cho giá trị lời nhuận lâu dài như xây dựng nhà cho thuê, phục vụ thương mại và các ích lợi theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tại khu vực mà họ đầu tư, nhưng vậy họ sẻ có nguồn lợi nhuận từ tiền thuê và giá trị gia tăng của các tòa nhà, đất mà họ sở hữu.
Từ các bài học của Nhật Bản, Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Singapore, tôi tin là Việt Nam sẻ đạt được các giá trị cơ bản sau: (1) mức tăng trưởng GDP trên 13% một năm, (2) mức lạm phát sẻ dưới 3% một năm, (3) mức đầu tư nước ngoài phải ở mức 15% đến 30% GDP tùy theo từng giai đoạn tăng trưởng, (4) mức tiết kiệm của người tiêu dùng từ 15% đến 30% một năm, (5) gia tăng tỉ lệ kinh tế dịch vụ lên con số 80% trong năm 2020-2030, (6) cùng lúc nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, đường xá, cầu cống, thông tin, hàng không, vận tải, dịch vụ và giáo dục) và khả năng chế biến và chế tạo sản phẩm có giá trị trí tuệ và kinh tế cao. Nhưng kết quả này phải do sự phối hợp giữa các tác nhân hiệu quả trong nền kinh tế tạo ra.

Nhìn lại 20 năm qua, các bạn trẻ sẻ có nhiều niềm tin hơn cho các chính sách kinh tế kinh tế mà chính phủ thực hiện. Tôi không có dịp tham gia vào việc phát triển kinh tế của Việt Nam, nhưng tôi hy vọng cuốn sách nhỏ này sẻ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc khai thác triệt để các giá trị của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, phát triển công nghệ, khuyến khích đầu tư và tiết kiệm, xây dựng hệ thống tiếp thị toàn cầu nhằm nối liền thị trường Việt Nam và thị trường quốc tế.

Nếu một thành phố có đầy đủ tiện nghi mà không ai biết đến, thì doanh thu về du lịch sẻ không có. Muốn có du khách, nhà đầu tư, thì cần có một phương thức quảng cáo toàn cầu hiệu quả cho các hạng mục sau: sản phẩm, khả năng cung cấp, giá thành, khu vực cần phát triển và đầu tư, mức thuế thấp, các ưu đải về kinh doanh và thuế, đội ngủ nhân công có tay nghề, vị trí thuận lợi, nguồn cung cấp địa phương, điều kiện thiên nhiên, phong cảnh, giá trị văn hóa và lịch sử, đặc sản của từng địa phương và phương tiện giao thông và hệ thống thanh toán và dịch vụ.

Ngoài ra, các bạn trẻ cần quan tâm cho khái niệm đầu tư vốn và thu lợi nhuận về vốn. Dù đó là vốn cá nhân hay vốn của doanh nghiệp. Vốn phải được đầu tư để tạo ra lợi nhuận. Một triệu USD với mức lời là 10% thì mỗi năm tạo ra lợi nhuận lũy tiến, tức là lời cộng vào vốn tạo ra lợi nhuận lớn hơn. Sau 10 năm đầu tư, một triệu USD có mức lải xuất là 10% sẻ là 2 triệu 593 ngàn USD. Nếu các doanh nghiệp trẻ và người dân Việt Nam có thói quen cất tiền mặt và ngoại tệ ở nhà thì sự thiệt hại cho nền kinh tế của Việt Nam rất lớn. Lấy ví dụ, dùng 10 tỉ USD được đem đầu tư trong và ngoài nước có mức lời từ 10% đến 30% một năm thì trong vòng 10 năm, số tiền có được là 77 tỉ 812 triệu USD ở mức lời 10% hay 413 tỉ 575 triệu USD ở mức lời 30%. Đó là những con số mà các bạn trẻ và người tiêu dùng nên chú ý và quan tâm cho tài sản mà minh không đầu tư tạo ra lợi nhuận. Vàng chỉ có giá trị khi các loại đầu tư khác không ổn định làm tăng giá vàng lên. Nếu cổ phiếu tăng giá hay thị trường trái phiếu tiến triển, nhà đầu tư sẻ mua cổ phiếu và trái phiếu hơn là mua vàng. Nhưng khả năng thay đổi tùy theo từng thời điểm. Vốn được đầu tư vào đâu có lợi cho nền kinh tế Việt Nam?

Các loại quĩ đầu tư nên cần thành lập do tu nhân và nhà nước quản lý sẻ tạo ra nhiều giá trị phát triển cho nền kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030. Tôi không đề cập đến việc làm sao đầu tư đúng cách và chọn dự án đầu tư, vì nó là bí mật thương nghiệp và an ninh quốc gia. Các bạn trẻ có các chọn lựa nhiều công thức, sách lược cho việc đầu tư tạo ra lợi nhuận kinh tế. Ngoài ra các bạn trẻ cần quan tâm giá trị sau: giá trị kinh tế tăng tỉ lệ thuận với giá trị của sản phẩm xuất khẩu có sự gia tăng của vốn, kiến thức, công nghệ, đầu tư và nâng cấp. Thủy sản, nông sản, dầu thô, mỏ quặng chỉ có giá trị hạn chế tạo ra vốn cơ bản cho nền kinh tế phát triển, nhưng tốc độ phát triển trên 10% một năm cần các loại hình kinh tế có giá trị cao như lập trình công nghệ cho doanh nghiệp và cá nhân toàn cầu, dịch vụ doanh nghiệp và giải trí, chế tạo sản phẩm y tế, máy, đóng tàu chuyên dùng, may mặc cao cấp, sản phẩm giải trí và văn hóa nghệ thuật. Có nghiều ngành mà đại học đào tạo nhưng không có nơi tuyển dụng sinh viên ra trường. Doanh trẻ phải đi tiên phong trong việc khám phá thị trường nước ngoài cho nhu cầu cao khi nhu cầu trong nước còn thấp hay chưa có. Đó là bài học từ Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan cho các hạn mục kinh doanh dịch vụ mà Việt Nam có thể cạnh tranh. Nhưng tiếng Anh là chìa khóa cho sự thành công. Đồng thời tỉ lệ lạm phát ở dưới mức 3% một năm do sự hạn chế chi thu và gia tăng thặng dư mậu dịch quốc tế, mới giúp nhà đầu tư yên tâm mua cổ phiếu và đầu vào các hạn mục kinh doanh.

Các bạn trẻ sẻ tự hỏi nên áp dụng kinh tế thực tiển hay kinh tế lý thuyết. Thực tế con người có những khác nhau về nhu cầu, năng lực và hình dáng, do đó khả năng thành công của mỗi người củng khác nhau. Kinh tế thực hành dựa trên nhiều yếu tố: tâm lý con người, toán học thống kê và phân tích, khoa học ứng dụng và khai thác sản phẩm. Chính phủ đóng vai trò điều phối và ngăn ngừa các hành vị gây nguy hại cho quốc gia và người dân. Doanh nghiệp trẻ có lẻ luôn gặp phải các chướng ngại trước mặt như: sáng kiến, chọn phương thức kinh doanh, vốn, tìm thị trường, và phát triển sản phẩm cho cạnh tranh. Các bạn trẻ Việt Nam có lẻ cần nhiều thứ hổ trợ cho sự thành công của mình, nhưng không thể thiếu các thứ sau: (a) tìm hiểu thị trường và nhu cầu người tiêu dùng, doanh nghiệp nước ngoài, (b) tìm hiểu và phân tích khả năng và tiềm năng của thị trường Việt Nam, (c) Tìm ra câu trả lời động lực làm việc và làm giàu của người Việt Nam có giống như người Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan không? (d) Ý nghĩa làm giàu và lợi nhuận bắt đầu từ đâu? (e) Sự trao đổi trong giao dịch là chià khóa của lợi nhuận và thành công, bởi vì bạn phải có sản phẩm hay dịch vụ để thõa mãn cho khách hàng, khách hàng là thượng đế, (f) không thể bốc lột người khác khi họ củng chính là khách hàng của mình hay là khách hàng của doanh nghiệp mà mình có cổ phần, khách hàng phải có khả năng mua sắm hàng hóa và dịch vụ mình làm ra, (g) đóng góp cho xã hội là tạo điều kiện cho người khác có cơ hội nâng cao thu nhập của họ, mà họ có thu nhập cao, thì họ sẻ mua sắm và tiêu thụ nhiều hơn, ( khi mình đi xe hơi, thì nên giúp người khác đi xe gắn máy; khi mình đi máy bay, thì giúp người khác đi xe hơi. Đó là chu kỳ tiến hóa của kinh tế tiêu dùng trong xã hội hiện đại.)

Làm sao Việt Nam có thể chọn ba khu vực trong quốc gia để lên kế hoạch phát triển kinh tế 30 năm để đạt được như Singapore, Đài Loan và Nam Triều Tiên? Có nghĩa là chính phủ sẻ chọn ra ba nhóm chuyên viên để lên kế hoạch phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác ngoại giao cho việc chọn nhà thầu và đối tác lâu dài. Dự án phát triển ba thành phố tương lai có mức thu nhập như Singapore, Đài Loan và Nam Triều Tiên. Nếu kế hoạch này thành công, thì chỉ riêng ba khu vực kinh tế đặc biệt này có thể tạo ra tổng sản phẩm quốc dân khoảng hơn 1500 tỉ USD trong năm 2040 hay 2050. Ở Hoa Kỳ, Nhật Bản có nhiều thành phố có tuổi đời dưới 50 năm hay 30 năm. Bên cạnh đó, chính phủ và doanh nghiệp sẻ tiếp tục kích thích các khu vực kinh tế khác phát triển theo chuyên môn cao và đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm hạn chế thiệt hại khi nhu cầu tiêu thụ của một sản phẩm nào đó bị thu nhỏ. Như các bài học trong các cuộc khủng hoản tài chính, kinh tế trong khu vực và trên thế giới có thể giúp Việt Nam đạt mục tiêu này.

Sự gia tăng phát triển kinh tế đồng nhất sẻ tăng hiệu quả trong việc chọn các mặt hàng chủ đạo để gia công, chế biến, chế tạo cho tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu. Ngoài ra, sự đảm bảo về tiêu chuẩn, chất lượng, giá cả, dịch vụ và khả năng quản lý và khen thưởng sẻ tác động trực tiếp đến sự lớn mạnh của doanh nghiệp và thu nhập kinh tế của Việt Nam. Qui mô tăng tốc của GDP (tổng sản phẩm quốc dân) hay thu nhập doanh nghiệp đều dựa vào bốn nguồn chi tiêu: chi tiêu của chính phủ, chi tiêu của doanh nghiệp, chi tiêu của đầu tư trong và ngoài nước, và chi tiêu của người tiêu dùng. Sự điều chỉnh một trong bốn mức chi tiêu này sẻ tác động đến việc phát triển kinh tế của Việt Nam trong năm 2011-2030. Sự chi tiêu luôn đi kèm với lợi nhuận thu được ở các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Vốn phải sinh ra lợi nhuận, kinh doanh phải tạo ra lợi nhuận. Nếu giá thành sản xuất trong nước cao hơn hàng nhập khẩu sẻ tạo ra lổ hổng của sự phát triển nền kỷ nghệ trong nước. Có nhiều loại nghành kinh tế không có vốn để nâng cấp hay học hỏi từ chuyên gia nước ngoài, có lẻ chính phủ là nguồn lực chính thúc đẩy các loại hình này phát triển và tồn tại theo thời gian. Ngoài ra, chính phủ sẻ khuyến khích tư nhân đầu tư vào nghiên cứu, nâng cấp công nghệ và tay nghề của công nhân để tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế xuất khẩu cao hơn. Đồng thời chính phủ củng nên ngăn mức thất thoát về ngoại tệ cho các sản phẩm xa xỉ, vì hiện tại Việt Nam cần vốn đầu tư trong nước cho mục tiên phát triển kinh tế lâu dài. Các bạn trẻ sẻ luôn ao ước làm giàu và sở hữu nhiều thứ trong cuộc sống: nhà, xe gắn máy, xe hơi, du thuyền, các thứ tiện nghi trong gia đình, … Đó là thử thách mà các bạn muốn tìm ra câu trả lời làm sau mình có thể biến ý tưởng của mình thành sự thành công của vật chất là tiền và sự thành công.

Các bạn trẻ trong vai trò quản lý sẻ so sánh và nối kết các giá trị kinh tế thực hành với thực tế và hoàn cảnh xã hội của Việt Nam để tìm ra những phương án và chính sách có giá trị kinh tế ở qui mô lớn. Ngày nay không ai cho thuê đất để trồng rừng, vì giá trị lợi nhuận thấp. Nếu có thể chọn các dự án khả thi cho việc thành lập thành phố cho thuê thông qua hệ thống quảng cáo toàn cầu sẻ thu hút được các nhà đầu tư lớn từ Trung Đông, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Úc, Châu Âu và Nam Mỹ. Một trong các tác nhân kích thích cho nền kinh tế Việt Nam lớn mạnh và ổn định là mức thu nhập và tiền thưởng. Mậu dịch là loại hình kinh doanh mà nhiều người Việt Nam đả làm cho việc nhập hàng hóa nước ngoài về và bán ra cho người tiêu dùng có mức trênh lệch của lợi nhuận. Bên cạnh đó, có doanh nghiệp sẻ đeo đuổi việc bắc chước chế tạo ra sản phẩm ở bước đầu, rồi dần dần tự sáng tạo ra thương hiệu của riêng mình và cạnh tranh với hàng nước ngoài tại thị trường của họ. Đây là bài toán của sự kiên nhẩn, chịu khó, sáng tạo, cải tiếng, tiết kiệm, gia tăng hiệu xuất mới có thể giúp doanh nghiệp thành công.

Hiện nay, các công ty Trung Quốc, Ấn Độ luôn thuê các chuyên gia nước ngoài làm tư vấn trong giai đoạn đầu rồi từ từ tự đào tạo chuyên gia trong nước trên mọi công đoạn kinh doanh và sản xuất. Nếu các bạn trẻ có thể hình dung ra mổi chiến lược của các công ty này đều có sự đóng góp của các nhân viên có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân trong các lĩnh vực khác nhau thì đó là điều mà các bạn sẻ càng hoan mang. Ở qui mô nhỏ thì các doanh nghiệp Việt Nam cần tập trung vào các giá trị ưu tiên: (a) biết khả năng của mình, biết khả năng của đối thủ cạnh tranh, (b) hiểu tâm lý của người tiêu dùng và khả năng tiêu thụ của họ, (c) biết khai thác cơ hội cho doanh nghiệp thông qua các phương thức quản cáo, tiếp thị, (d) động viên nhân viên cho sáng kiến và đóng góp dựa trên khả năng gia tăng doanh thu của doanh nghiệp, (e) luôn dành vốn cho việc cải thiện công nghệ và đào tạo chuyên môn cho nhân viên, (f) tạo ra không khí gia đình trong doanh nghiệp để mọi người xem nhau như là một tập thể thống nhất.

Sự ổn định về thu nhập sẻ giúp các bạn trẻ và nhân viên làm việc nhiệt tình và đóng góp nhiều sáng kiến cho hiệu quả của hoạt động kinh tế và hoạt động hành chính. Ngoài ra tôi còn hy vọng là các bạn trẻ Việt Nam có cơ hội triển khai các dự án đầu tư trong và ngoài nước trên ba qui mô: vốn của chính phủ, vốn liên doanh giữa chính phủ và tư nhân, và vốn của tư nhân. Nó sẻ khai thác triệt để vốn trong nước, không bị lảng phí khi không được đầu tư mà chỉ cất giữ dưới dạng ngoại tệ mạnh, vàng, trang sức và kinh doanh địa ốc. Nền kinh tế phát triển theo ba chiều kích: số lượng, chất lượng, và mức sống của người tiêu dùng. Việt Nam muốn gia tăng nền kinh tế với tốc độ hơn 13% một năm thì cần sự phối hợp đồng bộ các yếu tố sau: (a) nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ sở hạ tầng, dự trù khả năng của cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế mở rộng từ 10 năm đến 20 năm, (b) chuyển dần kinh tế gia công và khai thác tài nguyên liệu thô sang kinh tế chế tạo, nghiên cứu và sản xuất dịch vụ có mức vốn và trí tuệ cao, (c) nâng cấp hệ thống tài chính nhằm cung cấp hiệu quả vốn vay cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, củng như giữ uy tính cho khách hàng bỏ vốn đầu tư, (d) mở rộng thị trường thông qua hệ thống quảng cáo toàn cầu, khai thác thị trường quốc tế, nâng cao hệ thống thông tin liên lạc, (e) nâng cao hệ thống giáo dục để trang bị kiến thức cần thiết cho học sinh lớp 9, lớp 12 có thể làm việc tại các khu chế xuất, văn phòng, còn sinh viên tốt nghiệp đại học sẻ có khả năng làm việc ở các bộ phận chuyên môn hơn. Sự chủ động của doanh nghiệp tìm khách hàng tại thị trường nước ngoài có nhiều giá trị hơn là thụ động chờ khách hàng đến tìm mình.

Có nhiều công thức đầu tư và kinh doanh an toàn cho các doanh nghiệp trẻ có thể tham khảo, củng như việc thành lập quĩ phúc lợi cho cơ quan chính phủ và doanh nghiệp tư nhân. Vì các loại quĩ này có nhiệm vụ là đảm bảo nguồn thu nhập hiện tại và khi cán bộ nghĩ hưu. Ở Hoa Kỳ và các quốc gia phương tây có nhiều loại quĩ giúp cho nhà đầu tư, nhân viên, cán bộ trong chính phủ có mức thu nhập cao khi họ về hưu. Tùy theo số tiền đóng góp lúc mình đi làm, mà khi về hưu mình sẻ có một nguồn thu nhập phù hợp. Sự vận dụng các loại quĩ đầu tư này có lợi ích to lớn cho nền kinh tế của Việt Nam trong các năm tới.

Ngoài ra, các dự án đầu tư ở nước ngoài, như Nhật Bản không chỉ tạo ra nguồn lợi nhuận cho các cán bộ về tài chính mà nó còn là cầu nối cho sự gia tăng các khoản đầu tư của chính phủ Nhật Bản và doanh nghiệp Nhật Bản vào thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030. Một khoảng đầu tư 5 triệu USD vào thị trường Nhật củng tạo ra hai nguồn lợi nhuận lâu dài cho cán bộ Việt Nam. Nếu có 100 cán bộ cùng đầu tư với số tiền là 500 triệu USD thì lợi nhuận lâu dài sẻ vượt con số 1 tỉ USD đến 5 tỉ USD trong các lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận ngoại giao. Thị trường Hoa Kỳ có thêm một lợi thế là với số vốn là 1 triệu USD, nhà doanh nghiệp Việt Nam có thể xin visa EB-5, và tiếp theo nếu nhà đầu tư Việt Nam có thể thuê mướn 10 nhân viên trong 2 năm đầu tiên của dự án đầu tư và tạo ra lợi nhuận đóng thuế cho chính phủ Hoa Kỳ, thì nhà đầu tư Việt Nam có cơ hội xin thường trú nhân tại Hoa Kỳ, còn gọi là thẻ xanh cho nhà đầu tư nước ngoài có vốn đầu tư tại Hoa Kỳ. Đây là cơ hội rất tốt cho các các doanh nghiệp trẻ trong việc thành lập văn phòng giao dịch tại thị trường Hoa Kỳ.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi Trẻ Online ngày 30 tháng 12 năm 2010. Bà cho rằng nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chưa đúng khả năng của nó, “nhưng mốc 100 tỉ USD chính là cơ hội để VN đáng giá và học bài học của chính mình về quá trình phát triển thời gian qua.” So với các quốc gia Đông Nam Á như Philippine, Malaysia và Thái Lan, GDP của Việt Nam đều thấp hơn nhiều. Còn như Trung Quốc, một tỉnh có thể có mức GDP vượt 500 tỉ USD. Một công ty của Nhật Bản như Toyota có mức doanh thu trong năm 2010 là 229,8 tỉ USD, giá trị cổ phiếu là 123,9 tỉ USD, và lợi nhuận là 2,4 tỉ USD. HSBC Holding PLC có giá trị cổ phiếu là 180,54 tỉ USD, và mức doanh thu là 62,09 tỉ USD và lợi nhuận là 6,69 tỉ USD. Việt Nam sẻ tăng trưởng ở tốc độ cao hơn, lạm phát thấp hơn 3%, quản lý môi trường hiệu quả, ổn định các dịch vụ cơ sở hạ tầng cho kinh tế xuất khẩu và tiêu dùng khi các giá trị kinh tế ứng dụng và thực tiển được áp dụng một cách hệ thống và chuyên môn cao. Hiệu quả cho việc phát triển kinh tế trên qui mô lớn cần nhiều giá trị hiện thời đả ứng dụng thành công trên thế giới: (a) quản lý con người dựa trên năng lực và thưởng trên hiệu quả, (b) GDP hay lợi nhuận cần mở rộng khi thị trường giao tiếp với nhiều thị trường mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, (c) Nâng cao khả năng khai thác dùng công nghệ tiên tiến như giá thành nội địa.

Muốn thành công tại các thị trường hải ngoại, thì nhà doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng các yêu cầu cao nhất tại ba thị trường - Nhật Bản, Hoa Kỳ và Châu Âu – là Việt Nam có thể thay đổi về chất lượng, mẫu mả, số lượng và tính năng và màu sắc cho các thị trường thấp hơn và mức tiêu thụ khác nhau. Một thị trường kinh tế hoạt động hiệu quả khi nó hội đủ các yếu tố sau: (a) nguồn nhân lực cung cấp các doanh nghiệp, (b) khả năng nâng cao chất lượng và sáng tạo của nhân viên, (c) nguồn nguyên nhiên vật liệu sẳn có tại thị trường và hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo thuận lợi cho xuất và nhập khẩu, (d) hệ thống phân phối, tài chính, cổ phiếu, luật pháp (e) hệ thống quảng cáo toàn cầu hiệu quả giúp sản phẩm dịch vụ tiếp thị đến các doanh nghiệp và người tiêu thụ nước ngoài và nội địa, (f) kết hợp sức mạnh trong nước và nước ngoài cho việc đuổi kịp công nghệ kỷ thuật cao và quản lý doanh nghiệp hiệu quả.

Giúp một nhà doanh nghiệp cùng các bộ quản lý hiểu các điều cần thiết về hoạt động doanh nghiệp, xin đọc “Phần Đặc Biệc cho Nhà Doanh Nghiệp” gần cuối cuốn sách. Nó là một trong các công cụ giúp doanh nghiệp quản lý thành công tại thị trường nội địa và quốc tế.

Nguồn vốn trong nước cần được khai thác ở các thị trường: (a) đầu tư nội địa cho giá trị gia tăng, (b) đầu tư hải ngoại cho giá trị gia tăng và tạo cầu nối kinh tế, (c) đầu tư vào các ngành kinh tế tạo ra giá trị kinh tế và tinh thần về lâu dài. Khái niệm lợi nhuận ngắn hạn cho chi tiêu hàng tháng, và lợi nhuận dài hạn cho các chi tiêu trong tương lai sẻ mang các giá trị tích cực giúp Việt Nam có các quĩ đầu tư lớn và đa dạng trong tương lai ở tại Việt Nam và thị trường quốc tế như Nhật Bản và Hoa Kỳ. Một ngày không xa, tên của bạn sẻ nằm trong danh sách các tỉ phủ trẻ tuổi của tạp trí Fortune của Hoa Kỳ. Xin hãy chuyển cuốn sách này đến các bạn trẻ khác, vì họ sẻ có cơ hội làm giàu cho nền kinh tế của Việt Nam.


Phần Hai: Các Yếu Tố Gia Tăng  Trong Cạnh Tranh
 “Không có gì hoàn thiện tuyệt đối, chỉ có khái niệm hoàn thiện tương đối trong từng giai đoạn.”
*****
Một sự kết hợp của sản phẩm và dịch vụ trong các khía cạnh: giá cả, chất lượng, mẫu mã, tính năng, và tiếp thị là những yêu cầu cần thiết cho doanh nghiệp phát triển hiệu quả nhằm tăng mức tiêu thụ trên thị trường, mở rộng thị trường, tiếp tục thu hút khách hàng, không ngừng chủ động sáng tạo ra những sản phẩm mới cho những nhu cầu thay đổi của người tiêu dùng trên thị trường. Nếu doanh nghiệp biết khai thác khả năng từ nguồn nhân lực, tài nguyên, thiết bị máy móc, các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trên thị trường, có lẻ đó là một cơ hội giúp doanh nghiệp có sức mạnh tồn tại và phát triển cho cả thị trường nội địa và nước ngoài. Khi đi thăm dò thị trường hay khảo sát thị trường trong và ngoài nước, các giá trị của sản phẩm và dịch vụ do các doanh nghiệp đối thủ luôn là sự thách thức và tạo ra sự kích thích cho sự phát triển và cải thiện bên trong doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp phục vụ khách hàng tốt hơn, giá rẻ hơn, chất lượng đảm bảo, giá trị phục vụ cao hơn.

Kinh tế toàn cầu nối kết các thị trường với nhau qua hệ thống giá, vật tư, phân phối, và chủng loại tạo ra sự cạnh tranh không ngừng. Các nhà sản xuất luôn thương luợng về giá cả cho các nhà cung cấp và sản xuất ở các nước trước khi quyết định đặc hàng sản xuất theo giá cả, chất lương, tính năng qui định. Ví dụ, một chiếc máy xem phim đĩa DVD mang nhản hiệu Sony được sản xuất tại Trung Quốc. Phần lớn các linh kiện và vỏ hộp được gia công sản xuất tại Trung Quốc, còn các tụ điện, dây dẩn, mạch IC, và các loại đèn led được gia công ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc hay các quốc gia khác, cuối cùng là các chíp điện tử được sản xuất dưới nhản hiệu Sony hay một nhà gia công thứ ba dưới bản quyền gia công các con chip điện tử cho công ty Sony. Các công ty đa quốc gia luôn khai thác sự khác biệt về giá gia công, nguyên liệu, thuế doanh thu nhằm sản xuất sản phẩm có chất lượng cao ở mức giá cạnh tranh.

Ngoài ra những thay đổi về môi trường cạnh tranh trên toàn cầu mà mổi thị trường sẻ thay đổi thế mạnh của mình theo từng thời điểm khác nhau nhằm tiếp tục thu hút nguồn đầu tư nước ngoài, và gia tăng xuất khẩu cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Trong các chủng loại sản phẩm mà Việt Nam có thể thu hút nhà đầu tư nước ngoài là sản phẩm điện tử tiêu dùng, hóa chất, mỹ phẩm, thuốc men, dụng cụng y khoa, sản phẩm phần mềm ứng dụng, thiết kế mẫu mã, sản xuất xe hơi, xe gắn máy, thiết bị cơ khí, công cụ chuyên dùng, sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm chế biến, nước giải khác, rượu bia, thuốc lá, các loại thiết bị phục vụ cho công nghệ thông tin, đóng tàu, dầu khí, may mặc, và gia công xuất khẩu. Các giá trị cạnh tranh này củng cần có sự hổ trợ của chính phủ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống thông tin liên lạc, đường xá, phương tiện giao thông vận tải thủy-bộ-hàng không, mạng lưới cung cấp điện ổn định, hệ thống xử lý chất thải. Bên cạnh đó là sự hiệu quả của hệ thống giáo dục phổ thông nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản cần thiết cho một công nhân ViệtNamcó thể hoàn thành công việc ở các công ty nước ngoài với trình độ lớp 9 hay lớp 12. Những giá trị kiến thức này củng là tài sản vô hình mà một doanh nghiệp nước ngoài luôn đòi hỏi ở cán bộ quản lý và nhân viên ViệtNam.

Trong quá trình sản xuất theo qui trình hiện đại có hiệu xuất cao, giá thành hạ, chất lượng được bảo đảm, các công ty nước ngoài sẻ áp dụng nhiều loại phương thức sản xuất dây chuyền, hay sản xuất theo module, hay sản xuất theo đơn đặc hàng dựa trên độ phức tạp và tính năng của từng loại sản phẩm. Các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, thường được áp dụng các phương thức quản lý chất lượng đặc biệt nhằm thõa mản các yêu cầu của khách hàng. Từ việc in ấn bao bì, nhản hiệu, các hướng dẩn xử dụng, thì các loại vật liệu, chất liệu sẻ luôn được kỷ càng chọn lựa phù hợp cho từng loại thị trường. Nhất là kích thước và tiêu chuẩn đo lường và màu sắc của mỗi thị trường thường là khác nhau. Giống như xe hơi có tay lái bên trái cho phần đông các thị trường, như lại ở bên phải cho các thị trường như Nhật Bản, Anh Quốc, Hồng Kông. Ngoài ra đơn vị đo lường là galon (khoảng 3.8 lít) cho thị trường Hoa Kỳ. Hay đơn vị là centimeter hay Inch tùy theo thị trường. Thể tích các chai bia cho thị trường Hoa Kỳ khác với thị trường Việt Nam và Nhật Bản. Nguồn điện xử dụng cho các loại sản phẩm điện tử có thể là 110 volt hay 220 volt hay 100 volt tùy loại thị trường qui định. Nhà sản xuất phải biết các tiêu chuẩn này nhằm sản xuất các sản phẩm phù hợp theo thị trường mà mình muốn bán ra.

Một doanh nghiệp luôn trải qua quá trình loại suy cho việc thử nghiệm và chọn kết quả có hiệu xuất cao nhất để áp dụng trên toàn thể các nhà máy, phân xưởng trong và ngoài nước. Một cán bộ quản lý giỏi hay nhân viên có trách nhiệm sẻ biết quan sát và đánh giá các thao tác hàng ngày, sau đó nhận ra phương thức nào hiệu quả nhất cho việc cải thiện quá trình lao động nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đa dạng, tính năng được cải thiện, và nâng cao hiệu xuất xử dụng chất liệu, giảm đi sự thất thoát tài nguyên hay phí phạm nguồn vốn cung cấp của công ty. Những khái niệm như vậy luôn cần được phát huy và thảo luận trong công ty từ cấp quản lý xuống nhân viên sản xuất và xử lý các công đoạn. Có như vậy mọi người mới hiểu giá trị của sự đóng góp của toàn tập thể cho sự phát triển và lớn mạnh của doanh nghiệp. Không nên coi nhẹ các công việc này và quan niệm rằng chỉ có cán bộ quản lý là chịu trách nhiệm, mà ban quản lý doanh nghiệp cần giải thích cho tất cả các nhân viên trong công ty ở mọi cấp.

Khi thị trường Việt Nam chuyển đổi từ thị trường do nhà nước quản lý sang thị trường có sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài, các giá trị chuyển đổi mà thị trường Việt Nam cần vượt qua là những giá trị chính yếu quyết định cho cuộc cách mạng khoa học kỷ thuật thuật, công nghiệp hóa, điện khí hóa, công nghệ thông tin hóa, sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, quản lý con người, tài nguyên, phẩn phối hàng hóa và phân phối quyền lợi trong xã hội. Yếu tố thứ nhất là trình độ học vấn, kiến thức, sự nhận xét giá trị toàn cầu và giá trị nội địa cho việc chọn loại hình kinh doanh, chế tạo chuyên môn cao. Phần Lan từng là một quốc gia thuộc địa của Nga, sau thế chiến thứ hai, Phần Lan đả tập trung phát triển nền kinh tế của mình qua việc khuyến kích người dân đi học đại học, chọn các ngành học như giáo dục, công nghê tiên tiến như bán dẩn, thông tin, viển thông. Mà kết quả là có sự hình thành công ty Nokia nổi tiếng toàn cầu, chiếm thị trường điện thoại di động hơn 30%. Dan Mạch củng là một quốc gia nhỏ ở Châu Âu, nhưng biết tập trung phát triển công nghệ sản xuất điện sạch từ sức do và năng lượng mặt trời, quốc gia này củng tạo ra một công ty Vestas chuyên cung cấp các trạm phát điện bằng sức gió lớn nhất trên thế giới với các tính năng ưu việt hơn các quốc gia khác. Singapore củng là quốc gia biết đầu tư vào sức người với sự hổ trợ của chính phủ trong việc khuyến khích người dân Singapore học nhiều hơn, nhất là số tiến sĩ tại Singapore tính theo tỉ lệ bằng ¼ số tiến sĩ tại Hoa Kỳ. Mà học tập trung trong các ngành về hóa sinh, y tế, thông tin, tài chính, vận chuyển, thực phẩm cho các trung tâm nghiên cứu chế tạo các sản phẩm chủ đạo có giá trị cao. Ấn Độ tạo ra phiên bản thung lũng Silicon của Hoa Kỳ nhưng lại có giá thành rẽ hơn và sức sáng tạo nhiều hơn phục vụ toàn cầu với các công ty Tata, Wipro, và Infosys. Trong khi đó Trung Quốc lại có nhiều tham vọng hơn khi gia tăng về số lượng và chất lượng trong việc nghiên cứu sản phẩm, công nghệ mới và gia tăng thương hiệu có chất lương toàn cầu. Qua các quốc gia này, Việt Nam có thể nhận ra ba điều: khai thác nguồn lao động phổ thông và thị trường nguyên liệu thô cho giá trị vốn gia tăng, nâng cấp hạ tầng cơ sở từ giáp dục đến cầu cống điện nước giao thông thông tin cho hiệu quả sản xuất xuất khẩu, đầu tư chiều sâu cho một hay hai loại ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao chiếm lĩnh thị trường toàn cầu từ 10% đến 40% trong tương lai.

Quản Lý Hiệu Quả Để Giảm Giá Thành

“Người tiêu dùng muốn mua hàng hóa với chất lượng, mẫu mã, tính năng, nhưng không thể bỏ qua giá cả hợp lý.”
*****

Cạnh tranh trên giá cả đòi hỏi nhiều mặt như lợi nhuận dựa trên số lượng bán ra. Nâng cao mức độ hiệu suất trong sản xuất, nâng cấp hệ thống thiết bị, giảm lượng sản phẩm sai qui cách, quản lý tốt các khâu trong sản xuất. Hiệu quả của việc phân phối nhân sự và xử dụng tài nguyên công ty sẻ gia tăng lợi nhuận hay giảm chi phí trong việc tạo ra sản phẩm có chất lượng cao thõa mản các nhu cầu của người tiêu dùng, nhưng sự giảm giá cả kích thích người tiêu dùng mua nhiều hơn. Công ty bán lẻ Wal-Mart của Hoa Kỳ đả áp dụng việc thương lượng các công ty gia công, cung cấp sản phẩm ở Trung Quốc cho việc phục vụ người tiêu dùng Hoa Kỳ các sản phẩm tiêu dùng với các khẩu hiệu như “giảm giá mổi ngày” nhằm thu hút khách đến các cửa hàng bách hoá tổng hợp trong hệ thống bán lẻ Wal-Mart.

Ngoài ra các công ty còn áp dụng sản xuất và dự trử nguyên liệu và link kiện ở mức tối thiểu, nhằm hạn chế việc quản lý số lượng lớn các sản phẩm, linh kiện trong kho. Nhưng vậy công ty sẻ giảm thiểu các chi phí cho việc sản xuất quá nhiều sản phẩm khi khách hàng hay thị trường chưa dùng đến. Nhưng phưong thức quản lý này củng có một mặt rủi ro, khi nhà cung cấp linh kiện và vật liệu gặp sự cố không thể cung cấp số lượng theo nhu cầu sản xuất của công ty. Ví dụ nếu công ty sản xuất xe hơi có công xuất sản xuất một ngày là 100 xe hơi, và các đối tác cung cấp linh kiện như hệ thống ống thoát khí thải, bánh xe, máy xe, đèn có thể vận chuyển số lượng linh kiện cho 100 xe hơi trong thời gian là 2 ngày. Thời gian sản xuất của họ là 3 ngày. Như vậy công ty xe hơi chỉ cần dự trử số linh kiện này tối thiểu là 5 ngày cho mức sản xuất là 100 xe một ngày. Như vậy nhà quản lý nhà máy sẻ dể dàng điểu chỉnh số lượng xe sản xuất khi nhu cầu của các đại lý tăng lên. Với hình thức này, công ty sẻ hạ mức chi phí của việc quản lý linh kiện, phụ tùng và bảo quản kho bải ở mức thấp nhất. Nhưng rủi ro nếu các công ty cung ứng không giao hàng kiệp thời hay có sự đình công sẻ gây ra hậu quả giây chuyền cho công ty lấp ráp xe hơi.

Ngoài ra khi thị trường có mức lao động dư thừa quá lớn, các công ty có nhu cầu thuê mướn nhân viên có trình độ kiến thức và tay nghề ở mức tối thiểu, hay thời gian đào tạo ngắn, có thể áp dụng sự khai thác nguồn lao động rẻ cho nhu cầu tạm thời. Trung Quốc đang áp dụng phương thức này khi thuê nhân viên mới có mức lương thấp hơn là mức lương trả cho nhân viên củ. Do đó các công ty gia công của Trung Quốc có thể chào giá thấp hơn cho các nhà sản xuất nước ngoài. Hay một hiện tượng là có ba loại hình xí nghiệp tồi tại trong cùng một thị trường, dựa trên qui mộ đầu tư vốn, công nghệ, chi phí cho môi trường làm việc, thiết bị chống ô nhiểm, quyền lợi cho công nhân - tạm gọi là xí nghiệp loại A, B, và C. Cả ba loaị xí nghiệp này do ba loại kinh doanh đầu tư quản lý - tư nhân, quốc doanh, liên doanh - nhằm tạo ra các loaị sản phẩm chất lượng khác nhau. Do đó các yêu cầu vốn, công nghệ, nghiệp vụ, và giá trị gia tăng được thêm vào củng thay đổi khác nhau. Điều gì sẻ khiến cho quốc gia này trở thành vô địch trong việc tạo ra sản phẩm gọi là 'thượng vàng, hạ cám' cho bất kỳ khách hàng khó tính nào trên thế giới ,và với khả năng có thể điều chình giá thành một cách linh động giống như phưong châm 'tiền nào của nấy' hay 'muốn rẻ thì giảm chất lượng hay giảm chi phí ở các công đoạn khác nhau như tăng giờ làm việc hay yêu cầu giảm giá khi mua với số lượng linh kiện vật tư nhiều hơn'.

Tăng giờ làm việc nhưng không tăng lương củng là một cách giảm giá thành của doanh nghiệp nhưng nó hạn chế ở giai đoạn ban đầu trong khi thị trường lao động dư thừa nhiều và việc làm còn thiếu. Do đó doanh nghiệp có thể dùng biện pháp này để giảm giá thành cho sản phẩm. Thường công nhân bị bắt buộc làm 10 hay 12 tiếng một ngày. Bước kế tiếp là yêu cầu khách hàng mua số lượng hàng lớn hơn. Nếu khách hàng yêu cầu sản xuất 10.000 tivi màn hình phẳng 21-inch giá là 280 USD, nhưng nhà sản xuất có thể đồng ý cung cấp số lượng là 12.000 chiếc ti-vi với giá là 270 USD. Bởi vì khi thêm 2000 cái tivi, nhà sản xuất có thể thương lượng giảm giá gia công với các nhà cung cập linh kiện và bộ phận khác. Đó là hai cách trong nhiều cách để cạnh tranh bằng giảm giá.

Trong quá trình sản xuất, nhà sản xuất luôn có sẳn kế hoạch thay đổi giá cho những khách hàng khó tính nhất trong trường hợp các khách hàng này muốn bán cho một nhóm khách hàng có mức thu nhập tương ứng: thấp, vừa và cao.

Nếu liệt kê danh sách các khâu cho quá trình sản xuất của một chiếc tivi hay bất kỳ một sản phẩm nào, nhà quản lý giỏi của doanh nghiệp sản xuất sẻ nắm rỏ là ai có thể thương lượng cho việc giảm giá thành trong mối quan hệ domino hay dây chuyền liên kết của việc sản xuất bao gồm: nhà cung cấp vật liệu, nguyên liệu, năng lượng, vận chuyển, kho bải, thuế quan, chi phí bảo vệ môi trường, lương trả cho nhân viên, thiết bị máy móc để sản xuất tự động hóa cao, hay thủ công. Tất cả các đại diện của các doanh nghiệp liên quan trong dây chuyền cung ứng và sản xuất đều hiểu rỏ qui tắc của cuộc cạnh tranh về giá cho sản phẩm cuối cùng. Do đó tất cả sẻ đồng ý giảm bớt lợi nhuận để tiếp tục cung cấp sản phẩm đả hoàn thành cho khách hàng là ngươì tiêu dùng thông qua nhà phân phối.

Ngoài ra khi một công ty nước ngoài chọn địa điểm xây dựng nhà máy, họ sẻ có sẳn các kế hoạch trong việc phân bố vị trí của các khâu sản xuất nhằm rút ngắn thời gian vận chuyển linh kiện, vật liệu, kiểm tra chất lượng, hiệu quả thao tác của nhân viên trong quá trình làm việc trong một ngày. Bên cạnh đó, nhà quản lý củng chú ý khả năng sáng tạo, hay mức độ tập trung làm việc của nhân viện trong công việc, giúp nhân viên có thể giảm sự buồn ngủ hay đơn điệu trong các thao tác bằng việc chuyển nhân viên từ công đoạn này sang công đoạn khác cùng trong một hệ thống dây chuyền của nhà máy. Cách thức này vừa gia tăng sự sáng tạo và khả năng chuyển đổi các thao tác trong qui trình gia công, vừa giảm tính đơn điệu trong một thời gian dài làm cho nhân viên mất tính tập trung. Ngoài các hình thức giúp cho nhân viên hoạt động hiệu quả hơn, giảm chi phí của sai sót, vấn đề kích thích tinh thần làm việc luôn thể hiện ở tính đoàn kết. Như các công ty Nhật Bản thường có hát tập thể trước mổi ngày làm việc nhằm gia tăng tinh thần làm việc của nhân viên. Và sự tham gia các buổi sinh hoạt giải trí tập thể ngoài giời làm việc củng giảm sự căng thẳng của nhân viên, tăng khả năng hiểu nhau giữa các nhân viên và cấp trên.

Các khu chế xuất hay kinh tế đặc biệt được phát triển nhằm phục vụ sự thuận lợi cho sự tập trung cao các điều kiện vừa nêu trên cho sự thương lượng về chi phí và lợi nhuận nhằm cùng nhau chia sẻ quyền lợi về lâu về dài. Bên cạnh đó, chính phủ củng chủ động kích thích kinh tế phát triển bằng các biện pháp giúp các nhà doanh nghiệp nội địa: vốn đầu tư thiết bị lải suất thấp cho việc tăng năng xuất, tăng chất lượng, độ chính xát, độ an toàn, giảm thuế doanh nghiệp, kềm tỉ giá hối đoái cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa và nguyên liệu cho thị trường nội địa. Những giá trị lâu dài là tinh thần làm việc, sức sáng tạo, và độ tập trung cao luôn ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu xuất của các khâu sản xuất trong một công ty. Nếu một nhân viên không bị chi phối bởi các vấn đề gia đình hay cá nhân, người nhân viên này có thể hoàn thành công việc được giao trong thời gian ngắn nhất, ít sai sót nhất, có nhiều sáng kiến nhất giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc củng công ty, đơn vị quản lý. Do vậy mà có nhiều công ty luôn tạo ra điều kiện tốt cho các nhân viên có môi trường sống không gặp nhiều khó khăn, nhằm gián tiếp gia tăng sự đóng góp của nhân viên cho sự phát triển của công ty. Như hổ trợ xây dựng nhà ở cho công nhân với mức thuê thấp, hay giá bán rẻ và có chương trình trả góp. Các trung tâm đào tạo tay nghề, nghiệp vụ, kiến thức cho công nhân, nhân viên. Nếu số lượng lao động phổ thông quá lớn như trường hợp Trung Quốc, có thể chính sách này không thực hiện đồng bộ, mà chỉ giới hạn cho nhân viên có trình độ giáo dục cao và thu nhập cao. Tại Nhật Bản, nhân viên khi bắt đầu công việc là ngay tức khắc quên đi hết mọi vấn đề cá nhân, trong tinh thần làm việc chỉ còn có công ty mà thôi. Đó là điều kiện hoàn hảo mà một công ty Nhật Bản muốn tạo ra nhằm gia tăng tính hiệu quả của việc tập trung làm việc cho hiệu quả của sản xuất và lao động mà nhân viên có thể đóng góp cho công ty trong thời gian của ngày làm việc hôm đó. Sự quan tâm của một doanh nghiệp đối với nhân viên trong các lĩnh vực có giá trị kinh tế cao rất là cần thiết. Bởi vì hiệu xuất làm việc của một nhân viên có thể tính ra hàng ngàn USD, hàng trăm ngàn USD, hay triệu USD. Đó là lý do tại sao một chuyên gia đầu tư được trả mức lương cao so với các nhân viên văn phòng khác.

Nếu một cán bộ quản lý Việt Nam làm việc cho một công ty Nhật Bản có mức lương là 700 USD. Thì nhà quản lý này sẻ so sánh khả năng của mình với các đồng nghiệp hay cá nhân khác trong thị trường Việt Nam cho việc cho hiệu xuất và tốc độ làm việc của mình cho công ty Nhật Bản. Mối quan hệ giữa nhà quản lý hay nhân viên Việt Nam với công ty Nhật có thể phản ánh giá trị tạo ra hiệu xuất cho các quá trình làm việc hay sản xuất. Nếu mức độ sản xuất giá trị kinh tế của người quản lý hay nhân viên được điều chỉnh ở mức cao nhất, tức là họ cảm thấy hài lòng với điều kiện hiện tại thì họ sẻ tạo ra những hiệu quả tích chực cho việc gia tăng chất lượng, sáng tại, quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn. Sự tăng trường mà các công ty Nhật Bản hy vọng trong các dự án đầu tư tại ViệtNamlà sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hợp lý có sự tiêu thụ tại ViệtNamvà các thị trường khác trên thế giới. Khi mức lương mà công nhân ViệtNamthu được từ công việc mà họ đóng góp cho các công ty nước ngoài, họ sẻ tự hỏi làm sao họ có thể mua sắm các sản phẩm mà họ gia công hay làm ra. Ý nghĩa của giá trị gia tăng trong làm việc và cuộc sống sẻ dần dần nâng cấp giá trị sản xuất mà công nhân ViệtNamcó thể đóng góp cho các công ty Nhật Bản hay các nước khác. Nếu kiến thức của công nhân Việt Nam có thể giúp họ gia tăng giá trị của các sản phẩm Nhật Bản như điện thoại di động, tivi màn hình phẳng, máy điện tử gia dụng, máy điện tử cho y tế, xe hơi, may mặc, và dược phẩm thì mức lương của công nhân Việt Nam củng sẻ thay đổi. Giá trị của sản phẩm còn thể hiện giá trị của công nghệ và sáng tạo mà doanh nghiệp đầu tư vào. Sự chuyển đổi sản phẩm theo tính năng, chất lượng, mẩu mã mà công ty Nhật Bản hoạt động tại Việt Nam sẻ quyết định các yếu tố lương qua giá trị đón nhận của sản phẩm khi bán ra thị trường trong nước và quốc tế. Nếu lợi nhuận gia tăng thì chủ công ty Nhật Bản sẻ có các quyết định khuyến khích nhân viên Việt Nam qua mức lương, tiền thưởng hay các loại thưởng khác nhau.

Cán bộ quản lý và nhân viên ViệtNamcó thể phân tích các giá trị cạnh tranh mà nguồn nhân công và thị trườngSingapoređả tạo ra nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư lớn từ Nhật Bản và các quốc gia khác. Với khái niệm “tôi làm việc cho công ty, vì công ty thành công, thì tôi củng thành công và đó là niềm tư hào mà tôi có thể chia sẻ với mọi người.” sẻ giúp các cán bộ quản lý, nhân viên Việt Nam vượt qua bức tường vô hình của cảm giác đang làm việc cho một công ty nước ngoài. Chính động lực này sẻ kích thích nguồn nhân lực Việt Nam đang làm việc cho công ty nội địa hay quốc tế một sự tự tin, hảnh diện, và tinh thần trách nhiệm trong việc phát huy hết khả năng của họ trong việc gia tăng các giá trị vào sản phẩm và qui trình làm việc. Đó là sự cạnh tranh bằng việc gia tăng giá trị cho sản phẩm nhằm gia tăng giá trị lợi nhuận trong từng món hàng gia công và xuất khẩu ra thị trường toàn cầu. Các công ty gia công và thiết kế tại Singapore chuyển sang các sản phẩm có giá trị lớn hơn như dụng cụ y tế, máy xéc nghiệm, các thiết bị văn phòng cao cấp để cạnh tranh với sự gia tăng về thu nhập của người dân Singapore. Do đó Việt Nam củng sẻ thực hiện các cách thức cạnh tranh trong mối quan hệ lương cho việc chuyển dần sang sản xuất, lấp ráp, gia công, thiết kế, chế biến các loại sản phẩm có giá trị cao từ vài trăm USD lên vài ngàn USD, hay vài chục ngàn USD lên hàng triệu USD. Các sản phẩm này cần trình độ chuyên môn cao của nhân viên, thiết bị máy móc tối tân, trình độ khoa học tiên tiến mới có thể chế tạo và gia công ở mức tiêu chuẩn cao. Như việc may một chiếc áo sơ-mi, quần Jeans, áo Vét để xuất khẩu sang các nước. Giá trị cao nhất của bộ đồ vét là khoảng 300 USD đến 600 USD, như vậy doanh nghiệp Việt Nam sẻ thu lợi nhuận là bao nhiêu. Nếu so việc sản xuất một máy y tế chụp hình nảo, có giá và trăm ngàn USD, thì giá trị lợi nhuận của doanh nghiệp Việt Nam nhận được sẻ lớn hơn. Hay việc sản xuất một xe chuyên dụng về nông nghiệp hay vận chuyển côn-ten-nơ hoàng hóa củng tạo ra giá trị lợi nhuận cao hơn.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các công ty Nhật Bản hình thành trong việc khai thác sản xuất phục vụ thị trường Hoa Kỳ và các thị trường phương tây khác. Bước đầu các công ty Nhật Bản sẻ áp dụng sản xuất các sản phẩm tương tự với giá thành thấp hơn. Sau đó Nhật Bản mới chuyển sang trực tiếp tự mình sản xuất các loại sản phẩm theo phương thức và công nghệ của Nhật Bản từ kinh nghiệm học hỏi được hay tự phát minh sáng chế ra. Ngoài ra Nhật Bản biết áp dụng các phát minh sáng chế nước ngoài vào việc chế tạo các loại sản phẩm phục vụ người tiêu dùng như đầu máy video cassette và các loại sản phẩm điện tử khác. Ngày nay, Nhật Bản tự xây dựng và chế tạo hầu như mọi thiết bị và công nghệ từ khả năng của nguồn nhân lực trong nước cho thị trường trong nước và nước ngoài. Một trong các nhân vật là tấm gương cho sự phá triển thành công về kinh tế của Nhật Bản là nhà sáng lập ra công ty Matsushita Electric Indsutrial Company, ông Matsushita Konosuke, với hai nhản hiệu nổi tiếng là Panasonic va National trên toàn thế giới. Ông sinh năm 1895, thành lập một doanh nghiệp nhỏ cuối thế chiến thứ hai. Những giá trị canh tranh của ông giúp cho công ty Panasonic có vị trí như ngày hôm nay. Nhà sáng lập ra công ty Sony, ông Akio Morita, củng là một trong những tấm gương hảnh diện cho nền công nghiệp Nhật Bản trong thời hậu chiến. Ngày nay các sản phẩm Sony có mặt hầu như mọi nơi trên thế giới, và không ai là không biết thương hiệu Sony của Nhật Bản.

Trong khía cạnh giá cả, thì nhà tiếp thị và phát triển sản phẩm sẻ có nhiều phương thức giúp cho doanh nghiệp phát triển và chiếm lĩnh thị trường. Như phân tích khả năng tiêu thụ của thị trường do tỉ lệ của ba nhóm người tiêu dùng: thu nhập cao, trung và thấp. Nếu sự khai thác này hiệu quả thì nhà sản xuất hay doanh nghiệp sẻ tạo ra lợi nhuận. Như việc sản xuất loại xe hơi giá rẻ của công ty Tata ở Ấn Độ ở mức dưới 3000 USD phục vụ người tiêu dùng Ấn Độ và các quốc gia khác. Khái niệm giá cả quyết định sản xuất và chế tạo sản phẩm sẻ giúp các kỷ sự nghiên cứu việc ứng dụng các loại vật liệu, công đoạn chế tạo, gia công linh kiện ở các quốc gia khác, để cuối cùng tạo ra một sản phẩm có giá như mong đợi. Ví dụ một chiếc xe có giá 3000 USD, sẻ được chia ra làm 10 nhóm linh kiện và bộ phận, nhằm chia ra tỉ lệ chi phí cho mỗi nhóm, Từ đó các kỷ sư sẻ dể dàng thay đổi vật liệu, chất lượng, phương thức gia công cho việc đảm bảo sản phẩm làm ra có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Những phương thức sản xuất theo module củng giúp cho một công ty thay đổi các chức năng, bộ phận, kích thước của sản phẩm dể dàng theo các điều kiện của mỗi thị trường tạo ra. Nếu một chiếc xe hơi xử dụng chung một loại máy, nhưng chỉ thay đổi các cấu trúc khác sẻ giúp cho công ty bán ra nhiều loại xe ở nhiều thị trường khác nhau. Hay các loại điện thoại di động, thiết bị điện tử phục vụ gia dụng củng được áp dụng cho việc cạnh tranh bằng điều chỉnh giá cả dể dàng hơn, khi nhà sản xuất có thể linh động trong việc thay thế một bộ phận, hay mạch IC nào đó cho việc giảm chi phí sản xuất. Các công trình xây dựng nhà hiện đại giống nhau hay thay đổi ở các khu vực nào đó – phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ, buồn tắm, khu sinh hoạt giải trí - đều có thể áp dụng phương thức gia công module cho việc gia tăng chất lượng, số lượng, sự đồng nhất về tiêu chuẩn nhưng giá thành lại không tăng.

Bên cạnh phương thức module, một thị trường sẻ cần có nhiều nhà cung cấp, gia công địa phương nhưng đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn, giá cả cạnh tranh quốc tế. Nếu một công ty Nhật Bản chuyên về một trong các loại sản phẩm như sản xuất ti-vi màn hình phẳng, xe gắn máy cao cấp, xe hơi, thang máy, nhà dân sự, điện thoại di động, máy vi tính xáy tay, mỹ phẩm, thực phẩm chế biến, thì sẻ có rất nhiều thứ mà công ty này muốn có những nhà cung cấp uy tín địa phương cung cấp. Nhưng đương nhiên là phải thỏa mản các tiêu chuẩn khắc khao mà công ty Nhật yêu cầu. Phần lớn các yêu cầu về tiêu chuẩn của thị trường Nhật Bản hay các sản phẩm của Nhật Bản đều có mức yêu cầu rất cao, và cao hơn các công ty của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Do đó nếu một công ty Việt Nam có thể cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, và các loại dịch vụ cho công ty Nhật Bản, thì có lẻ công ty Việt Nam này đủ sức cung cấp cho các công ty nước ngoài khác có mặt tại thị trường Việt Nam.

Một công ty sản xuất xe hơi hay các loại thiết bị điện tử cần rất nhiều loại nhà thầu cung cấp các loại linh kiện trong một chiếc xe hơi, như ghế ngồi, kiếng chắn gió, kiến chiếu hậu, bóng đèn pha, đèn xi-nhan, đèn đọc sách, đồng hồ đo tốc độ, hệ thống thắng, hệ thống khí thải, máy truyền lực, bình đựng nhiên liệu, sơn xe, vỏ xe, khung xe, dây điện, các loại dây chuyền lực, bình giải nhiệt, và nhiều thứ khác như máy nghe nhạc, máy chỉ đường. Tất cả các linh kiện phụ do các nhà thầu cung cấp. Hảng sản xuất xe thường trực tiếp chế tạo máy khởi động và khung xe. Bởi vì nó là linh hồn của chiếc xe. Còn các bộ phận khác sẻ có bản vẻ kiểu cho các nhà thầu gia công theo kích thước và chất lượng yêu cầu và bản mẩu. Vì một nhà thầu có thể cung cấp phụ tùng cho nhiều hảng xe khác nhau. Hay các công ty điện tử củng có thể mua linh kiện từ một nhà thầu cho các sản phẩm của mình. Như màn hình của điện thoại di động có thể do một hay hai hảng sản xuất theo yêu cầu các khách hàng, còn kiểu dáng và chức năng của điện thoại sẻ là công nghệ bí mật của từng công ty chế tạo điện thoại.

Ngoài việc cạnh tranh cho sản phẩm tương tư với sản phẩm ngoại nhập, nhưng giá thành thấp hơn sẻ đóng vai trò quyết định. Khi nhìn sự thay đổi ở thành thị, rồi sang vùng nông thôn, có nhiều doanh nghiệp sẻ tự sáng kiến ra nhiều loại sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng. Xây dựng nhà giá rẻ với các nguyên vật liệu tự có của địa phương củng là biện pháp nâng cao điều kiện sống của người tiêu dùng có mức thu nhập thấp. Chính phủ hay các doanh nghiệp có sự hổ trợ vốn của chính phủ sẻ phát triển các loại sản phẩm chưa lấp ráp, nhưng đả hoàn chỉnh các bộ phận linh kiện, người mua chỉ cần đem về lấp ráp lại thành sản phẩm hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, người dân vùng nông thôn có thể mua dụng cụ đồ mộc, thợ nề và các dụng cụ khác cần thiết, rồi học các lớp đào tạo miễn phí hay giá rẻ của chính quyền địa phương tổ chức, sẻ có thể tự sản xuất ra các vận dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt của họ. Đó là một trong các giá trị học hỏi tác động rất lớn lên khái niêm làm việc, sang tạo, say mê, và cầu tiến của người dân Việt Nam.

Để giảm giá chi phí trong sản xuất, kinh doanh, nhà doanh nghiệp luôn xem xét từng khoảng chi phí trong tất cả các khâu, không loại trừ bất cứ khâu nào trong sản xuất cho việc tính toán của hiệu quả và giá thành cho từng khâu. Nếu giảm được chí phí nào không cần thiết, thì nên cắc giảm. Ngoài ra giá thành của sản phẩm còn được tính trong cả các khoản chi phí giao tiếp. Có thể đây là một tập tục do văn hoá và tính cách dân tộc, nhưng chi phi cho hoạt động kinh doanh và sản xuất vẩn phải tính cho lợi nhuận tạo ra, củng như giá thành của sản phẩm. Sự cạnh tranh về giá thành không chỉ đơn giản là việc đưa ra những con số chi phí nhỏ hơn con số của đối thủ cạnh tranh hay con số mong đợi của đối tác, mà bên cạnh đó việc giảm giá thành là một công thức giảm giá dây chuyền cho các doanh nghiệp trung gian và liên đới. Vì lợi nhuận của sản phẩm duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra nhu cầu khác nhau cho các doang nghiệp và nhà cung cấp khác trong chuổi dây chuyền sản xuất. Nếu doanh nghiệp sản xuất ra tivi giảm giá thành cho hảng của Nhật Bản, thì không chỉ công ty đó sẻ cắt giảm tiền lời trên từng chiếc tivi xuất xưởng, mà các nhà cung cấp linh kiện như dây điện, màn hình phẳng, vỏ nhựa tivi, hộp đựng carton, các mạch IC, các remote control củng sẻ thỏa thuận giảm lợi nhuận để duy trì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất tivi cho hảng Nhật Bản. Sự linh động cho việc thông báo các doanh nghiệp khác để họ cùng đồng loạt giảm giá các linh kiện giúp cho giá thành của sản phẩm luôn thấp để giữ các mối sản xuất đơn đặt hàng từ đối tác nước ngoài.

Giá thành là yếu tố thứ nhất cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thương trường. Người tiêu dùng sẻ mua sản phẩm khi giá thành hạ, hay do những mặt tâm lý khác. Nhưng thực tế cho thấy, nếu các nhản hiệu nổi tiếng muốn bán ra thị trường cho sự tiêu thụ ồ ạc cho đại đa số người tiêu dùng có thu nhập vừa và thấp. Yếu tố giá thành có thể áp dụng cho từng loại thị trường, thời điểm cạnh tranh, số lượng công ty cạnh tranh trên thị trường, và tâm lý của người tiêu dùng. Thị trường cao cấp do đặc tính của khách hàng, vị vậy chất lượng mẩu mả và tính riêng biệt khẳn định thẩm mỹ, nghệ thuật, và địa vị xã hội của người tiêu dùng. Yếu tố giá không nhất thiết áp dụng cho tất cả khách hàng. Bởi vì những khách hàng cao cấp thường chú ý vào nhản hiệu, uy tín, chất lượng, và số lượng phát hành hạn chế như xe Ferrari hay quần áo vét hiệu Armani có số lượng giới hạn. Khách hàng muốn mua củng cần có những mối quan hệ với nhà sản xuất, hay đại lý trước khi có được ưu đải mua sản phẩm đó hay không.

Chính phủ củng tác động đến giá thành của sản phẩm nội địa trên thị trường quốc tế. Chính phủ quan tâm đến tỉ giá hối đoái của tiền nội địa và ngoại tệ mạnh. Nếu tỉ giá của tiền nội địa thấp sẻ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu được nhiều hơn, ngược lại thì giá thành sẻ tăng khi tỉ giá hối đoái tăng không có lợi cho các sản phẩm sản xuất trong nước. Khi xát định mức chi phí cho việc sản xuất ra sản phẩm bao gồm các chi phí nội bộ và bên ngoại cộng với tiền thuế và các dịch vụ chuyên chở và tiền giao dịch, giá thành sẻ được ước định. Nhưng sau đó thì ban quản lý xem xét lại các quá trình trước đây đả thẩm định cho kế hoạch cải thiện nâng cao chất lượng, hiệu xuất, năng xuất, tính năng, mẩu mã, và quản lý nhân sự cho khả năng làm việc của họ. Giá thành của sản phẩm luôn được xét kỷ trong các khâu liên quan từ giai đoạn đầu vào cho đến giai đoạn đầu ra khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng, có như vậy thì nhà quản lý của doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh hiệu quả về giá thành và các yếu tố khác.

Già thành còn quyết định trong việc liên kết với các doanh nghiệp khác thiết lập hệ thống cung cấp sản phẩm và dịch vụ tại một địa điểm như khu thương xá hay trang web điện tử nhằm gia tăng tính tiện lợi cho khách hàng khi đi mua sắm. Như cha mẹ dẩn con các đi mua sắm tại một tiệm bán hàng hóa. Nếu cửa hàng này có đủ các loại sản phẩm phục vụ cho cả người phụ nử, đàn ông và thiếu nhi ở các lứa tuổi khác nhau, thì sẻ gia tăng lượng khách đến cửa hàng nhiều hơn. Cũng như công ty Amazon.com bán đủ loại sản phẩm từ sách báo, đồ điện tử, đến các loại sản phẩm tiêu dùng khác nhau. Ngoài ra amazon.com xử dụng hệ thống các thành viên bán lẻ và sỉ đả đăng ký vào mạnh lưới bán hàng của amazon.com, như vậy mổi một giao dịch hoàn tất, thì người bán sẻ trả một lệ phí nhất định cho amazon.com. Một công ty hay doanh nghiệp có thể bán trực tuyến trên website của họ, hay thông qua amazon.com để gia tăng nguồn doanh thu. Sự tiện lợi ở chổ amazon.com thực hiện một nhiệm vụ giống như ủy ban quản lý của chợ Bến Thành đối với các xạp bán trong chợ. Nhưng khác ở chổ, là các xạp này phải thuê mặt bằng, đóng thuế doanh thu. Còn các công ty hay doanh nghiệp bán qua mạng của amazon.com chỉ trả tiền lệ phí khi họ bán được sản phẩm. Như vậy, amazon.com lo quản lý các thành viên tham gia mua bán trên mạng amazon.com để đảm bảo các giao dịch thực hiện thành công và có sự hài lòng cao của người mua và người bán. Người mua sẻ có những nhận xét về người bán giúp cho các khách hàng chọn lựa trước khi đồng ý mua sản phẩm. Sự hiệu quả của cách quản lý mà amazon.con thực hiện giúp có nhiều người tiếp tục mua bán thông qua mạng lưới của amazon.com.

Sự tiện lợi của một doanh nghiệp trên mạng internet hay trong các cửa hàng hay cơ sở thương mại đều có nét chung giống nhau là phục vụ khách hàng theo môi trường cho phép. Nếu khách hàng muốn mua món hàng đắt tiền và muốn có món hàng ngay tức khắc, hay kiểm tra món hàng trước khi mua, thì khách hàng thường đi ra tiệm hay khu mua sắm để chọn món hàng, Ngoài ra các khách hàng thích mua sắm trên mạng do giá cả rẻ hơn vì nhà bán lẻ không cần thuê mướn mặt bằng, nhân viên, điện nước, và các chi phí khác, thì họ sẻ sẳn sàng chọn lựa cách trao đổi thông qua mạng điện toán cho việc đở tốn thời gian đi tìm sản phẩm và giá cả lại cao hơn. Nhưng mua bán trên mạng hay tại cửa hàng đều cần các yếu tố sau cho việc gia tăng mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và nhà doanh nghiệp: (1) trung thực, (2) uy tín, (3) tinh thần trách nhiệm, (4) duy trì mối quan hệ lâu dài thông qua các hình thức liên tạc bằng thư điện tử, thơ gửi bưu điện, các giao tiếp trong các sinh hoạt cộng đồng và (5) phương thức thanh toán an toàn. Google không cần bán hàng trên web của mình, như ngược lại Google tạo ra lợi nhuận thông qua thuật toán phân tích ngôn ngữ cho nội dung tìm kiếm thông tin của người xử dụng chương trình tìm địa chỉ trang web của Google. Tại sao Microsoft hay Yahoo.com vẩn không có thể vượt qua được sự cạnh tranh của Google trong việc phát triển ra các sản phẩm chương trình chạy hệ điều hành, các lập trình ứng dụng cho điện thoại di động, các chương trình soạn thảo văn bản miễn phí.

Giá cả quyết định lợi nhuận theo ba mức độ: người thu nhập cao sẳn sàng mua các sản phẩm có chất lượng cao và giá trị khan hiếm; người thu nhập trung bình sẻ mua có các sản phẩm có chất lượng vừa phù hợp cho nhu cầu của họ không mắc quá hay rẻ quá và củng có lúc mua hàng cao cấp, và cuối cùng là người thu nhập thấp hy vọng là mình có thể mua được loại sản phẩm hay dịch vụ tương đương với khả năng tài chính của mình như một tivi màu giá 1.5 triệu đồng, hay máy lạnh giá 2 triệu đồng, hay xe gắn máy giá 8 triệu đồng. Nếu một hảng hàng không có thể chia các hạng ghế ra làm hai loại là loại thương nhân “business class” và loại thường “coach class” thì hảng hàng không đả biết là họ chỉ có thể phục vụ hai loại khách hàng. Nhưng thực tế, các hảng hàng không có thể bán số lượng ít vé còn dư hay vé khuyến mãi ở mức giảm giá “discount” là 20% đến 50% giá bình thường. Vì đây là biện pháp làm cho người tiêu dùng tin rằng họ sẻ có dịp mua được các loại vé khuyến mãi rẽ như vậy thông qua các công ty môi giới trung gian hay các trang web du lịch. Sự giảm giá này có hai ý nghĩa: (1) thu được một lợi nhuận cao hơn là trường hợp giữ giá cao mà không bán được món hàng, nếu biết chắc là món hàng đó không có ai mua ở giá bình thường, và món hàng đó không cất giữ được như ghế ngồi trên chuyến bay hay phòng trống ở các khách sạn, (2) gia tăng sự chú ý của khách hàng đến doanh nghiệp thông qua các chương trình khuyến mãi, (3) tạo ra một cơ hội cho khách hàng tin rằng họ có thể mua được sản phẩm vào một thời điểm nào đó ở cái giá rẻ không ngờ. Cạnh tranh về giá luôn đòi hỏi nhiều tính toán dựa trên sự phân tích và hiểu quả tâm lý của người tiêu dùng trong thị trường. Có những loại sản phẩm bán giá rẻ hơn như đi kèm với việc bán ra một hay nhiều sản phẩm khác.

Sự liên kết của nhiều thương hiệu cho việc áp dụng “one-stop shopping” nhằm giảm chi phí quản lý hay quản cáo, nhưng có thể giúp nhiều doanh nghiệp cùng bán ra nhiều loại sản phẩm. Một công ty mậu dịch hay tập đoàn kinh doanh sẻ mở rộng nhiều loại hình dịch vụ và sản phẩm nhằm tạo ra giá cả cạnh tranh cho việc phục vụ khách hàng với nhiều sản phẩm khác nhau. Điều này có thể nhận ra ở công ty FPT hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau tại thị trường Việt Nam. Sự mở rộng kinh doanh trong nhiều lĩnh vực kinh tế có nhiều lợi ích cho một công ty: (a) hạn chế rủi ro khi nhu cầu thay đổi của một loại hàng hóa hay dịch vụ, (b) tăng khả năng nâng cao sự cạnh tranh khi công ty có thể cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ cho thị trường, (c) khai thác tối đa hệ thống hành chính cho việc quản lý nhiều hạn mục kinh doanh với số lượng nhân viên và tài nguyên cho phép.


Mẩu Mả và Tính Năng

“Xã hội con người phát triển thể hiện qua kiến trúc và số lượng các sản phẩm phục vụ con người giúp họ tận hường cuộc sống tiện nghi. Thẩm mỹ và hiệu quả chính là cảm giác người tiêu dùng yêu cầu khi giá trị tri thức và xã hội thay đổi thông qua sự cảm nhận khác nhau của các giác quan.”
*****

Bất cứ doanh nghiệp nào củng biết khai thác giá trị cạnh tranh dựa trên các yếu tố như mẫu mã, chất lượng, độ bền, sự an toàn và sự tiện lợi tạo ra điểm khác biệc với các thương hiệu khác. Sản phẩm mang hình thức vật lý nhiều hơn là dịch vụ, do đó doanh nghiệp sẻ biết biến đổi phương thức kinh doanh cho sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp của mình kinh doanh có thể phục vụ khách hàng ở mức độ hài lòng cao nhất. Khách hàng luôn chọn món hàng có mẩu mã đẹp và nhiều chức năng phụ vụ cho nhu cầu của họ. Một doanh nghiệp về khách sạn, nhà hàng sẻ chú trọng cả hai mặt - vật lý và cảm tính. Vì khách hàng sẻ đến với một khách sạn có chất lượng tốt và giá cả hợp lý trên nhiều thang điểm khác nhau. Phòng ốc sãch sẻ, trình bày đẹp và tiện nghi. Bên cạnh đó nhân viên có thái độ phục vụ ân cần, lịch sự và tôn trọng khách hàng. Nhưng khách sạn và nhà hàng sẻ có các phương thức tạo ra giá trị hình thức hay còn gọi là mẫu mã cho việc thu hút khách hàng đến với sản phẩm ăn uống được chuẩn bị kỷ lưỡng và trình bày trên các dĩa có hoa văn đẹp và chất lượng tinh sảo. Không khí, đèn trang trí và các giá trị khác tạo cho khách một cảm giác đặc biệt khi đến với khách sạn và nhà hàng.

Dịch vụ có thể biến dạng theo phong cách phục vụ, giống như việc một khách hàng có hai kinh nghiệm khi ở trọ hai khách sạn khác nhau. Mẫu mã có thể nói đến kiến trúc của phòng óc, thiết bị tiện nghi, phong cách phục vụ. Nếu mẩu mã của khách sạn là phong cách phục vụ lẩn cảm giác lý tính của khách tại khách sạn, thì giữa hai khách sạn đả có sự khác biệt về công thức tạo ra mẫu mã nhằm thu hút khách hàng. Nếu một sản phẩm điện thoại di động không làm cho người tiêu dùng có cảm giác là mình đang sống trong một thế giới mới, có sự hiện diện của một xu hướng đang thịnh hành, thì họ sẻ không hài lòng, mà sẳn sảng tìm một sản phẩm khác có khả năng làm cho họ hài lòng theo nghĩa chức năng gắn liền với sự hiện đại hoá của xã hội. Nhật Bản là một quốc gia có tốc độ phát triển và ứng dụng công nghệ khoa học kỷ thuật cao vào trong cuộc sống của con người. Có những tính năng của sản phẩm tiêu dùng được tái sử dụng thường xuyên như việc xem tivi có thể chuyển đổi xem nhiều kênh trên một màn hình và nối kết với mạng thông tin để truy cập thư điện tử, website, và mua sắm. Việc xử dụng được lập đi lập lại nhiều lần bởi người tiêu dùng. Nhà sản xuất luôn biến đổi các ý tưởng sáng tạo cho việc phát triển các sản phẩm mang mẫu mã phụ hợp hay đi trước thời đại, củng như kèm theo các chức năng hữu ích cho người tiêu dùng. Nếu mẫu mã tạo ra cảm giác dể chịu, hài lòng, xu thời, tiện lợi, thì tính năng nhằm phục vụ khách hàng ở mức cao nhất. Ví dụ một điện thoại di động có thể mang nhiều hình dáng và màu sắc khác nhau, nhưng tính năng sẻ tùy theo giá tiền mà nhà sản xuất sẻ xử dụng các module chip có tính năng khác nhau và kích thước khác nhau. Nếu điện thoại mang thêm chức năng là chìa khóa vô tuyến, máy trả tiền, máy xem phim, máy tải nhạc, máy chụp hình, máy quay phim, và máy chỉ đường hay máy giao dịch chứng khoán, chuyển khoản ngân hàng, thì người tiêu dùng có thể chỉ cần có một cái điện thoại nhỏ gọn như vậy mà có thể làm được nhiều việc cho cuộc sống và làm việc của họ. Nhưng bên cạnh đó, chiếc điện thoại này còn có khả năng bảo mật hay tự hũy khi bị thất lạc.

Một sản phẩm có nhiều tính năng sẻ đem lại nhiều tiện ích và hổ trợ cho mục đích sử dụng khác nhau. Có những tính năng người tiêu dùng không nhận ra nếu nhà sản xuất không giới thiệu hay hướng dẩn. Các phát minh, sáng kiến được nhà sản xuất làm ra nhằm phục vụ ngườI tiêu dùng. Nhà sản xuất có thể sử dụng nguồn nhân lực sẳn có để nghiên cứu và sáng chế ra những sản phẩm với những tính năng hiện đại và kỷ thuật cao, lẩn khả năng nối mạng. Trong kinh doanh dịch vụ như tài chính, du lịch, ăn uống, giải trí, các đặc điểm của chất lượng và tính năng đều là hai phương thức hiệu quả và quan trọng cho việc cạnh tranh trên thị trường. Nghành kinh doanh tạo ra sản phẩm không nhìn thấy được bằng mắt hay cầm bay tay, có những đòi hỏi về chất lượng và tính năng khác nhau. Chẳn hạn như kinh doanh tài chính; nhà doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm tài chính cho vay ngắn hạn và dài hạn cho nhiều loại khách hàng: doanh nghiệp, tư nhân sản xuất, và cá nhân. Để đảm bảo vốn vay, khách hàng có thể cần thế chấp và sự bảo lãnh để hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp tài chính.

Mẫu mã do sự sáng tạo, kết hợp hài hòa của trí tuệ tạo ra những cảm giác hài lòng hay thỏa mản trong từng cá nhân khi cảm nhận thông qua quá trình tương tác với sản phẩm hay dịch vụ. Khi người tiêu dùng có mức độ tri thức, kiến thức, và thu nhập nhất định thì bản thân họ sẻ có những nhu cầu thẩm mỹ khác nhau. Yêu cầu thẩm mỹ sẻ quyết định yếu tố tâm lý trong trong việc chọn lựa sản phẩm dựa trên mẩu mả. Khi mẩu mả đạt được yêu cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp sẻ tiếp tục chuyển sang một chủng loại khác cho việc yêu cầu sử dụng có mục đích rỏ ràng. Tức là mẫu mã đả thỏa mản thì sản phẩm đó có các tính năng phù hợp cho người sử dụng hay không. Như việc thiết kế ngôi nhà đẹp về thẩm mỹ và tiện lợi, người kiến trúc sư củng cần tham khảo với kỷ sư thi công xây dựng trong việc bản thiết kế có tính khả thi xây dựng cho độ an toàn sử dụng, và khả năng liên kết với các kết cấu xây dựng cho mục đích xử dụng hay không. Còn về sản phẩm tiêu dùng, nếu là một loại sản phẩm điện tử sử dụng trong gia đình, thì tính năng của sản phẩm phải đáp ứng được các yêu cầu cho người xử dụng như tính an toàn ,tiện lợi, dể sử dụng, và có mối liên kết thông qua mạng internet với các thiết bị khác để giúp người sử dụng có thể điều chỉnh và kiển soát dể dàng thông qua hệ thống internet. Các sản phẩm như xe gắn máy, ti-vi, điện thoại, mỹ phầm, thức ăn chế biến, nước giải khát, thiết kế, làm phim, sản xuất xe hơi, máy điện toán, máy điện gia dụng đều cần sức sáng tạo của nhân viên và đội ngủ thiết kế. Nếu một nhân viên Việt Nam có thể hòa nhập vào làng sóng toàn cầu hóa và xu hướng thẩm mỹ không biên giới và đa văn hóa thì sẻ giúp cho công ty Việt Nam phát triển nhiều loại sản phẩm thu hút thị hiếu của người tiêu dùng. Sự say mê và sức tưởng tượng sẻ giúp giúp các nhà thiết kế mẫu mã và chế tạo chức năng giúp cho sản phẩm có mức tiêu thụ cao hơn.

Bản thân nhà thiết kết và kỷ sư cho phát triển sản phẩm và dịch vụ, họ đều nắm rỏ các giá trị hoán chuyển giữa thẩm mỹ và giá trị cấu trúc và trức năng vận hành hiệu quả. Củng như một xe hơi có hình dáng khí động lực học cao sẻ gia tăng tính tiếm kiệm nhiên liệu và đạt tốc độ cao và có cấu trúc bảo vệ tính mạng cho người lái xe. Đồng thời tạo ra nhiều không gian bên trong xe cho cảm giác thoải mái. Trong khi đó, thông qua quá trình chọn lựa, phát triển, đầu tư, thiết kế doanh nghiệp luôn biết cách chọn lựa ra các tối ưu kết hợp giữa mẫu mã và tính năng và giá thành phù hợp với từng thị trường. Bản thân họ củng sẻ luôn đặt mình vào vai trò của khách hàng trong việc phản ứng như thế nào trước các sản phẩm sẻ tung ra thị trường hay dịch vụ sẻ được giới thiệu với khách hàng. Đó là sự hiệu quả của khâu thiết kế, phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp là người dự đoán các phản ứng của nhiều loại khách hàng thuộc từng loại thị trường khác nhau, có những sản phẩm có giá trị toàn cầu đều được tiếp đón như nhau trên tất cả thị trường như nước ngọt Coca- cola, quần jean Levi's, xe hơi Toyota Camry hay Honda Accord, truyện tranh Nhật Bản manga. Nếu các sản phẩm về thực phẩm sẻ được thay đổi khẩu vị thích ứng với từng thị trường khác nhau, như hệ thống thức ăn nhanh của MC Donald. Gia vị và kích cở các loại thức ăn của MC Donald ở Mỹ, Nhật, và Trung Quốc sẻ khác nhau vì khách hàng có khẩu vị khác nhau tại mỗi thành phố, vùng, hay quốc gia. Nhưng vẩn có những món ăn không thay đổi khẩu vị dù được bán ở quốc gia nào như các nhà hàng Nhật Bản bán món sushi, mì soba, sukiyaki.

Các thương hiệu mới trong các thị trường mới nổi lên như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Bra-xin, và các con rồng châu Á luôn tìm cách để có thể thăm nhập vào thị trường Hoa Kỳ và các quốc gia công nghiệp phát triển bằng việc thuê mướn các nhà thiết kế của Mỹ hay Châu Âu nhằm dể dàng chinh phục khách hàng tại thị trường này. Còn các khâu sản xuất thì vẩn duy trì tại bản xứ. Trung Quốc đả phát triển ba công ty xử dụng các ý tưởng của Hoa Kỷ cho thương hiệu của họ. Lenovo mua lại tổ hợp sản xuất máy tính cá nhân của IBM và tiếp tục xử dụng nguồn nhân lực của Hoa Kỳ, Nhật, Nam Triều Tiên trong việt thiết kế mẫu mã, mạch điện tử, và các khía cạnh khác. Lenovo đang chuẩn bị ký kết lien doanh 51/49 với công ty NEC của Nhật Bản nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ máy tính tại Nhật Bản và các quốc gia khác. Li Ning đang phát triển thương hiệu giầy thể thao cho Trung Quốc phục vụ thị trường nội địa và quốc tế, đả thuê hẳn một đội ngủ thiết kể mẫu mã và chọn vật liệu tại Hoa Kỳ. Có nghĩa giá thành của việc áp dụng tăng tính cạnh tranh về mẩu mả bằng việc thuê mướn nhân sự và tài năng nước ngoài giúp cho Li Ning tạo uy tính tại thị trường quốc tế có tiềm năng tiêu thụ mạnh hơn. Ngoài ra các công ty Beer Tsingtao đả phát triển thành một trong 10 công ty Beer lớn nhất thế giới. Biểu tượng cho thành phố Quingdao. Hảng hàng không CACC củng bắt đầu thử nghiệm chế tạo các mẫu máy bay dân sự ARJ cho thị trường trong và ngoài nước. Công ty BYD củng bán ra các loại xe hơi chạy điện tại thường nội địa và bắc Mỹ. Công ty XCMG bắt đầu phát triển sản xuất mấy công cụ và phục vụ công nghiệp, phân phối cho hơn 40 quốc gia. SIASUN Robot & Automation củng phát triển sản xuất robot công nghiệp phục vụ các chức năng sản xuất hàng loạt cho các ngành kinh tế, công nghiệp khác nhau. Thường một thị trường phát triển mạnh, nó cần có sự hình thành hệ thống giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế. Trường China Europe International Business School được xếp vào loại top-ten các trường kinh doanh trên thế giới theo tạp trình Financial Times bình trọn trong năm 2009. Đó củng là phần chiến lượng tạo ra giá trị cạnh tranh từ xã hội cho các thương hiệu nội địa mang tầm cở quốc tế.

Mẫu mã tính năng còn do sự nhạy bén của đội ngủ chuyên viên thiết kế và khai thác chức năng nghiên cứu và thực hiện các dự án cho thị trường đồng nhất toàn cầu như các máy nghe nhạc mp3 của Apple, máy xem truyền hình của Panasonic, Sharp, hay các loại thang máy. Làm sao kích thích nguồn sáng tạo của nhóm kỷ sự thiết kế mẫu mã và kỷ sư phát triển tính năng cho sản phẩm? Những môi trường thách thức, nuôi dưỡng tài năng, những câu hỏi nhắm vào các nhu cầu cần thiết của người tiêu dùng mà các chuyên viên này đả phân tích qua các bản thống kê thăm dò trực tiếp hay gián tiếp từ các công ty tư vấn hay tiếp thị. Giá trị sáng tạo cho mẫu mã, và tính năng đả đóng góp cho sự thành công của một công ty phục vụ cho thị trường nội địa và thị trường thế giới. Nếu một chiếc xe Honda Dream từng là mơ ước của nhiều người Việt Nam, thì trong tương lai, các kỷ sư thiết kế của công ty Honda tại Việt Nam có thể tạo ra hai loại chủng loại xe gắn máy và xe hơi cho thị trường Đông Nam Á có tên gọi là Identity và Propsper. Bởi vì giấc mơ không còn là niềm khao khác của giơí trẻ và tầng lớp trung lưu tại Đông Nam Á, mà nó sẻ thay thế bằng khái niệm và thái độ cho sự khẳng định giá trị sáng tạo và cá tính của giới trẻ, và sự thịnh vượng của gia đình. Đó là một ví dụ cho việc chọn tên gọi và chủ đề cho việc phát triển một sản phẩm mới. Mẫu mã của sản phẩm hay dịch vụ ngày nay gắn liền với sự thay đổi của kiến thức, sở thích, mức thu nhập, văn hóa, tôn giáo, giới tính, điều kiện gia đình mà khách hàng sẻ chọn sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Sự đa dạng như vậy luôn thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư đúng mức hơi cho đội ngủ nhân viên phụ trách về mảng thiết kế, phục vụ khách hàng. Không nên chủ quan dùng cảm tính của bản thân mà qui định các giá trị về mẫu mã và phong cách phục vụ khách hàng. Thường các doanh nghiệp xử dụng các bảng báo cáo thâm dò ý kiến hay số liệu thống kê tâm lý và sở thích để thực hiện việc phát triển mẫu mã sản phẩm và các chức năng của sản phẩm hay dịch vụ mà mình cung cấp. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phân tích và dự đoán nhu cầu tiêu dùng và sử dụng của một loại sản phẩm dịch vụ nào đó trong tương lai, để biết chọn ra chính sách đầu tư chiến lược lâu dài về vốn, nhân sự và nghiên cứu sản phẩm. Motorola từng nổi tiếng với sản phẩm điện thoại di động Razor, nhưng lại không biết tiếp tục cải tiến và sang tạo kiểu dáng mới cho các loại điện thoại thông minh có nhiều tính năng, nên bị các công ty đối thủ vượt qua mặt trong các năm gần đây. Đó củng là một bài học cho doanh nghiệp Việt Nam học hỏi. Trong khi đó công ty Apple từ một công ty chuyên sản xuất máy tín cá nhân, chuyển dần sang sản xuất máy nghe nhạc iPod, điện thoại di động iPhone, máy tính mỏng iPad. Mỗi công ty có thể vực dậy với sản phẩm chủ đạo chiếm lĩnh trên thị trường.


Chất Lượng và Thị Trường Tiêu Thụ

“Mọi nhu cầu có thời hạn xử dụng tùy theo giá trị của nhu cầu đó. Chất lượng là sự cam kêt cho mối quan hệ của giá trị xử dụng và thời gian xử dụng.”
*****

Không có khách hàng nào mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ mà không quan tâm đến chất lượng. Chất lượng được thể hiện qua trình độ sản xuất và phương thức phục vụ sản xuất. Ngay cả các doanh nghiệp về ăn uống, du lịch, trường học, củng có những đặc tính thể hiện mức độ chất lượng. Người tiêu dùng cần chất lượng vì họ muốn có sự hợp lý giửa số tiến họ bọ ra để được sử dụng sản phẩm theo qui luật thị trường. Do đó các doanh nghiệp luôn cạnh tranh nhau về giá thành và chất lượng sản phẩm. Nhưng chất lượng có nhiều mức tùy theo nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng. Chẳn hạn một tivi hay tủ lạnh cần được bảo đảm thời gian xử dụng là 5 năm hay 10 năm tùy theo thị trường tiêu thụ. Nhất là người tiêu thụ có thể thay đổi sản phẩm cho mổi 5 năm hay mau hơn tùy loại sản phẩm do giá trị của sản phẩm và mức thu nhập của người tiêu thụ.

Chất lượng do nhiều yếu tố quyết định. thường là do tay nghề của công nhân, nhân viên, thiết bị máy móc cho sản lượng, độ chính xát, vật liệu và các chất liệu đúng tiêu chuẩn, qui trình kiểm soát chất lượng sản phẩm, sự tập trung làm việc của nhân viên thông qua chế độ nghĩ ngơi. Số lượng sản phẩm bị lổi phải luôn được kiểm soát và giảm dần đến mức độ 1/1.000.000 hay thấp hơn nửa trên tổng số sản phẩm sản xuất ra. Các chương trình huấn luyện thường xuyên đem lại cho người lao động, nhân viên luôn trong tâm lý nhiệt tình, hăn say, say mê trong công việc, nhất là có trách nhiệm. Ngoài ra việc ngăn chặn việc tạo ra sản phẩm có lổi sẻ giảm thểu sự thiệt hại gây ra nếu sản phẩm có lổi được bán ra ngoài thị trường. Nó có thể gây ra sự lo lắng, mất uy tín, hay tẩy chay xử dụng sản phẩm của công ty trong thời gian dài. Do đó không một cá nhân nào có thể lơ là và cho rằng lổi nhỏ không sao. Nếu một lổi được phát hiện sớm sẻ giúp công ty ngăn chặn các lổi lớn hơn có thể xảy ra. Những chương trình giáo dục và huấn luyện các phương pháp nâng cao chất lượng và kiểm soát quá trình sản xuất luôn được duy trì thường xuyên, không được chủ quan làm cho có lệ. Các sản phẩm có sự yêu cầu độ chính xác cao, tính rủi ro lớn, tác động đến sức khỏe người tiêu dùng luôn được quản lý chặc chẻ như sản xuất máy bay, xe hơi, dụng cụ y khoa, thuốc men, thức ăn, thiết bị nguyên tử trong nhà  máy điên nguyên tử. Chất lượng thường được kiểm soát do các chương trình quản lý nghiệm ngặc nhầm hạn chế lổi của sản phẩm Quá trình này được công ty Toyota của Nhật Bản áp dụng trong việc sản xuất xe hơi có chất lượng cao so với các hảng xe hơi của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Phưong thức này gọi là “Total Quality Management.” Nó khuyến khích việc cải tiến không ngừng trong từng bộ phận làm việc và sản xuất nhằm thỏa mản yêu cầu cao của khách hàng. TQM sẻ khuyến khích và khai thác sự đóng góp của nhân viên, khách hàng vào các công đoạn cải tiến không ngừng. Mọi người sẻ cùng tham gia với trácnh nhiệm cao.

Chất lượng của sản phẩm tạo niềm tin cho ngươì tiêu dùng trên thương hiệu mà họ đả tin tưởng trong việc bỏ tiền ra mua các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của họ. Người tiêu dùng luôn quan tâm đến chất lượng của sản phẩm không những xứng đáng cho đồng tiền họ bỏ ra, mà còn hạn chế việc đi lại trong các trường hợp khiếu nại, yêu cầu thay thế sản phẩm có lổi. Bộ phận phục vu khách hàng có thể tạo ra những trường hợp dể hiễu lầm nếu không khôn khéo xử lý đúng cách thức. Chất lượng thường do máy móc thiết bị, vật liệu xử dụng, tay nghề nhân công, và hệ thống quản lý chất lượng quyết định, nhưng yếu tố con người thường dẩn đến kết quả chất lượng cho một sản phẩm hay loại hình dịch vụ. Chất lượng không chỉ đem lại giá trị trung thành, sự hài lòng của khách hàng mà còn tạo ra giá trị tâm lý an tâm khi người tiêu dùng nghe đến thương hiệu là biết chất lượng như thế nào. Các thương hiệu Nhật Bản luôn tạo ra sự yên tâm của người tiêu dùng, nhất là dòng chử “made-in-Japan”. Ng ày nay, m ột thương hiệu còn có giá trị thị trường của nó, có thương hiệu trị giá lên vài tỉ USD, chẳn hạn Coca-Cola, IBM, HP, Apple, Toyota, Toshiba, Levi’s, Mc’Donald.

Sau những năm tháng phục vụ khách hàng trên thị trường toàn cầu, giá trị chất lượng và uy tín của các thương hiệu của Nhật Bản về máy chụp hình Canon, Nikon, Sony, Pentax, Panasonic, Sharp, Honda, Toyota đả ăn sâu vào trong tâm lý của người tiêu dùng. Nhưng ngày nay, các thương hiệu nổi tiến lại nhận ra những cạnh tranh mới giữa những thị trường về giá cả phục vụ cho người tiêu dùng có mức thu nhập cao, trung và thấp. Có như vậy thì thương hiệu đó mới tăng mức doanh thu của mình. Ví dụ như sản phẩm ti-vi của một thương hiệu Nhật Bản được đặc hàng theo yêu cầu của công ty bán lẻ Wal-mart có chất lượng khác với sản phẩm của cùng thương hiệu Nhật Bản nhưng bán bởi công ty Bestbuy, bởi vì giá cả của hai sản phẩm đều khác nhau. Wal-mart muốn bán cho người tiêu dùng Hoa Kỳ có mức thu nhập thấp chỉ có thể mua loại tivi mang nhản hiệu của công ty Nhật Bản với giá là 450 USD hay thấp hơn, so với khách hàng đến Bestbuy muốn mua tivi với giá từ 600USD đến 1200 USD. Giá cả khác nhau không gây cho khách hàng sự mất lòng tin mà tạo cho họ có thêm sự chọn lựa dựa trên chất lượng và tính năng của sản phẩm mà họ muốn mua.

Nhưng ngoài ra các công ty còn áp dụng khuyến mãi sản phẩm cùng một thương hiệu nhưng lại có chất lượng khác nhau, do đó giá bán củng khác nhau. Họ đả yêu cầu các doanh nghiệp gia công của Trung Quốc thay đổi nguyên liệu hay các loại linh kiện điện tử cho việc giảm giá thành. Khi một thưong hiệu muốn phục vụ cả người có thu nhập cao, trung, và thấp, thì họ quyết định sản xuất sản phẩm mang ba giá trị chất lượng, mẫu mả khác nhau để giá thành sản phẩm củng khác nhau. Nhưng ít ra thì chất lượng vẩn đạt được sự hài lòng cao cho khác hàng về thời gian xử dụng. Giống như Xe hơiToyotasản xuất loại xe corolla cho khách hàng thu nhập thấp, Camry cho khách hàng có mức thu nhập trung bình và Lexus cho khách hàng thu nhập cao.

Nhà ở củng được xem như là loại sản phẩm tiêu thụ nhưng có thời gian xử dụng lâu dài vài chục năm, do đó dù là nhà chung cư cho người lao động thì các vật dụng trang trí hay thiết kế củng cần đảm bảo có thời gian là 5 năm hay 10 năm, nhưng ít ra củng bảo hành từ 2 năm đến 5 năm cho khách hàng yên tâm mua nhà để ở. Nhưng có những sản phẩm cao cấp vẩn không có sự thay đổi, vì nhà sản xuất đả tạo ra chổ đứng cho mình trong việc độc quyền chế tạo ra các sản phẩm cao cấp cho người thu nhậ cao. Điển hình là hiệu xe Ferrari của Ý hay các loại túi sách tay mắc tiền của Pháp Louis Vouston. Tùy theo quan niệm khai thác thị trường mà doanh nghiệp chọn chiến lược phục vụ một loại khách hàng hay cả ba loại khác hàng theo mức thu nhập của họ. Vì có khi ngươì tiêu dùng thay đổi sở thích và hạn chế việc chi tiêu do ảnh hưởng của nguồn thu nhập, do vậy họ sẻ chọn các sản phẩm có chức năng tương tự nhưng giá cả rẻ hơn để mua. Đó là lý do tại sao các cửa hàng ở Hoa Kỳ có để xen lẩn các loại hàng hóa giảm giá trong các khu vực bán hàng, nhằm tạo ra cảm giác cho người tiêu dùng là họ có thể chọn lựa mua sản phẩm và có những lợi ích khi mua được sản phẩm rẻ. Như là thái độ săn tìm của quí, mặc dù đó là đồng tiền họ bỏ ra. Sản xuất mẩu mả và tạo thành giá cả, củng biết tạo ra sự kết hợp tâm lý để tạo ra hiệu quả tích cực cho việc bán hàng. Sự pha trộn về giá cả hay hàng hóa tại các thương xá, trung tâm mua bán đôi lúc muốn thu hút khách hàng đủ mọi giới. Còn các cửa tiệm chuyên bán hàng cao cấp, thì họ chỉ chú trọng đến khách hàng thuộc tầng lớp có thu nhập cao. Giữa các doanh nghiệp với nhau, luôn có sự cạnh tranh về giá, chất lượng, phong cách phục vụ và hậu mãi nhằm tạo ra sự khác biệc giúp họ thu hút khách hàng nhiều hơn. Đó là một trong các loại hình mà mỗi doanh nghiệp cố gắn xây dựng và duy trì cho doanh nghiệp của họ. Mà ta có thể gọi là văn hóa kinh doanh của từng doanh nghiệp. Loại văn hóa này dể nhận ra khi khách hàng đến các tiệm bán lẻ tại Hoa Kỳ, hay các khách sạn. Dù là người Mỹ, nhưng không khí làm việc và phục vụ khách hàng của mỗi nơi hoàng toàn khác nhau. Giống như việc phân tích văn hoá của người miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Sự khác nhau về văn hóa kinh doanh là điều rất tốt. Vì khách hàng sẻ có thói quen cho việc xử dụng sản phẩm nào, dịch vụ nào khi họ cần. Các doanh nghiệp có nền văn hóa kinh doanh kém sẻ dần dần bị đào thải khỏi thị trường cạnh tranh.


Tiếp Thị và Giá Trị Gia Tăng

“Hàng hóa có tốt bao nhiêu, nhưng không được phổ biến cho người tiêu dùng thì nó củng nằm yên một chổ trong kho hay trên kệ của tiệm bán hàng.”
****

Hầu như các sản phẩm điều thông qua hệ thống quảng cáo để đến tay khách hàng trong và ngoài nước. Tùy theo số lượng đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp sẻ sử dụng nguồn ngân sách cho chương trình tiếp thị hiệu quả. Các sản phẩm về quốc phòng, đôi lúc cùng thông qua sự quảng cáo cho các quốc gia thu mua nhằm cung cấp cho bộ quốc phòng. Các loại sản phẩm ăn uống đả tạo ra môi trường cạnh tranh với giá cả, chất lượng vệ sinh, độ tươi và chất dinh dưỡng phục vụ cho nhu cầu khách hàng. Quảng cáo tạo ra hiệu quả tâm lý nhắc nhở người tiêu dùng về sản phẩm của nhà cung cấp. Mỗi khi người tiêu dùng nghĩ đến sản phẩm đó, thì họ sẻ chọn lựa nhản hiệu của doanh nghiệp mà họ đả biết đến thông qua sự tiếp cận của quảng cáo hay đả từng xử dụng qua. Hầu như các sản phẩm cần quảng cáo giúp doanh nghiệp tăng mức bán hàng thông qua hiệu quả của sự cung cấp thông tin cần thiết giúp người tiêu dùng chọn lựa những sản phẩm phục vụ cho những mục đích đặc biệc hay cụ thể nào đó. Như máy hút bụi đa năng, tivi có nhiều chức năng, xe gắn máy có độ tiết kiệm nhiên liệu, hệ thống an toàn, hay hệ thống nhún thông minh của xe hơi hay xe gắn máy. Các cửa tiệm thức ăn, nhà hàng, siêu thị, ngân hàng, hảng máy bay, thẻ tín dụng, phim, dĩa ca nhạc đều cần quảng cáo qua truyền hình, báo chí, đài phát thanh, biển quáng cáo, trang web quảng cáo, hay thư qua bưu điện đến tay người tiêu dùng. Nhưng bên cạnh việc chi ngân sách cho việc quảng cáo, còn mang tính chiếc lược cho việc độc quyền sản phẩm tại thị trường. Vì quảng cáo không đồng nghĩa với giá trị và chất lượng của sản phẩm. Khi có sự cạnh tranh cao, phương thức quảng cáo thường mang giá trị tâm lý cho việc thu hút khách hàng dùng sản phẩm của mình. Nhưng có lúc chi phí quá nhiều vào quảng cáo sẻ làm giảm lợi nhuận khi thị trường sản phẩm đó đả bị bảo hòa. Có nghĩa ngân sách cho quảng cáo sẻ tùy thuộc vào hiệu quả của mức doanh thu thu được cho việc bán sản phẩm và khấu trừ đi tiền đả bỏ ra quảng cáo, cùng các chi phí kinh doanh khác.

Các doanh nghiệp có thể thành lập bộ phận tiếp thị hay thuê hẳn các công ty bên ngoài lo các khâu tiếp thị. Sự chọn lựa này củng có nhiều mặt tích cực và tiêu cực vì nếu doanh nghiệp có một bộ phần lo các chức năng tiếp thị có thể sẻ chi phí quá cao hay hiệu quả quá thấp. Còn nếu thuê công ty bên ngoài có thể không đảm bảo các yêu cầu cho các giá trị nội bộ hay sự tập trung cao. Vì công ty tiếp thị bên ngoài có nhiều khách hàng, do đó họ phải phục vụ nhiều khác hàng cùng một lúc. Nếu giá thuê mướn cho việc quản cáo cao, thì công ty quảng có thể chọn ra một đội quảng cáo riêng cho việc hoạt động giúp khách hàng bán hàng được nhiều hơn. Cho dù là phương thức nào, thì quảng cáo là quá trình tiếp xúc và thiết lập cầu nối giữa doanh nghiệp sản xuất hay cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng. Sự chuyên môn cao cho việc quảng cáo giúp tạo ra hiệu ứng tác dụng hiệu quả, nhất là làm khách hàng chú ý đến sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Tùy theo trình độ chuyên môn, công nghệ thông tin, và các công cụ quảng cáo mà doanh nghiệp quảng cáo chọn với sự kết hợp ít nhất là ba hiệu ứng: tâm lý, hình ảnh, âm thanh thu hút khách hàng cho các sản phẩm được quảng cáo. Ngoài ra các doanh nghiệp quảng cáo có thể phục vu khách hàng trong và ngoài nước thông qua sự hiệu chỉnh ngôn ngữ và văn hóa phù hợp cho từng thị trường. Củng như các nhân viên có nghiệp vụ cao, nếu học hỏi văn hóa Nhật Bản và các giá trị yêu cầu của khách hàng Nhật Bản, thì các sản phẩm quảng cáo vẩn có thể do các chuyên gia ViệtNamthực hiện ở giá cả cạh tranh hơn. Quảng cáo hiệu quả còn phục thuộc vào môi trường chuyển tải thông tin quảng cáo như các trang web, mạng lưới xã hội online, các dịch vụ email, sách báo, phim ảnh, biển quáng cáo công cộng, ti-vi tại các nơi công cộng, đài truyền hình, đài phát thanh, trường học, công sở, khu giải trí và các nơi công cộng khác.

Khi một doanh nghiệp gia tăng doanh thu thông qua khả năng tiếp thị, có nghĩa những hạng mục cơ bản về giá cả, chất lượng, mẫu mã, tính năng hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Do đó họ cần có một công cụ tiếp thị sản phẩm hay dịch vụ đến người tiêu dùng. Còn không thì doanh nghiệp biết ứng dụng các môi trường quan hệ giữa người và người trên mạng hay thông qua các công nghệ thông tin như truyền hình, điện thoại di động, các màn hình công cộng, thư điện tử, hay các phương thức khác sẻ giúp doanh nghiệp tạo ra nguồn doanh thu bằng cách quảng cáo. Thị trường quảng cáo toàn cầu có mức thu chi rất lớn không dưới con số 500 tỉ USD một năm. Nguồn nhân lực trong ngành quảng cáo và tiếp thị của Việt Nam sẻ cung cấp dịch vụ có chất lượng cao cho các khách hàng tại Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, Trung Quốc, các quốc gia Arập, và các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha. Đó là nguồn doanh thu to lớn trong thế kỷ 21. Hệ thống thông tin và mạng toàn cầu là một thị trường khai thác vô tận khi các doanh nghiệp biết chọn đúng phương thức và công cụ trung gian cho việc tạo ra nguồn doanh thu từ việc quảng cáo và gia tăng giá trị từ ý kiến của khách hàng.
Ngoài ra, doanh nghiệp củng biết cách tiếp thị dựa trên giá cả và thị hiếu của khách hàng. Tùy theo giá cả mà các loại sản phẩm có chất lượng và tính năng khác nhau. Do đó công ty sẻ biết phân phối vốn, nhân lực và công đoạn cho từng loại sản phẩm nhằm phục vụ thị trường ở nhiều nhóm khách hàng khác nhau. Giống như một tập đoàn khách sạn có thể có hai hay ba thương hiệu nhằm phục vụ cho khách có thu nhập và yêu cầu khác nhau. Như khách sạn đầy đủ tiện nghi 5 sao dành cho khách là thương gia, nhà ngoại giao. Khách sạn 3 sao cho khách du lịch trung bình, và khách sạn bình dân với các tiện nghi cần thiết nhưng giá phù hợp cho du khách du lịch không cần nhiều tiện nghi xa xĩ như khách sạn 5 sao và 3 sao.


Người Tiêu Dùng và Nhu Cầu

“Con người là sinh vật có nhu cầu thay đổi theo môi trường với tốc độ cao. Ai thỏa mản được các ý muốn của con người dưới các hình thức chuyền đổi trên thị trường thì người đó có quyền khai thác các giá trị trao đổi.”
*****

Người tiêu dùng và nhu cầu của họ thay đổi do nhiều nguyên nhân, như thu nhập, trình độ học vấn, giới tính và tuổi tác, văn hóa, nơi cư chú, truyền thống địa phương, sự tiếp xúc với môi trường bên ngoài qua phim ảnh, sách báo, âm nhạc, internet. Khi doanh nghiệp đưa ra một sản phẩm hy vọng người tiêu dùng đón nhận với những hài lòng và phản ứng tích cực.

Doanh nghiệp cần thấu hiểu người tiêu dùng trong và ngoài nước để chuẩn bị các bước cần thiết cho việc phát triển sản phẩm, tiếp thị, cải tiến mẩu mả, nâng cao dịch vụ khách hàng. Người tiêu dùng phản ứng lại với những tác động tích cực cho doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm thỏa mản nhu cầu của người tiêu dùng. Nhu cầu có rất nhiều loại, bao gồm nhu cầu hằng ngày, nhu cầu tinh thần, nhu cầu do kinh tế thay đổi. Nhu cầu hàng ngày thường là các nhu cầu thiết yếu. Còn nhu cầu tinh thần tùy thuộc vào tài chính mà người tiêu dùng chọn phương thức giải trí khác nhau. Nhu cầu do kinh tế thay đổi tạo cho người tiêu dùng đòi hỏi những nhu cầu khác nhau tạo ra sự đa dạng của thị trường nhu cầu kích thích các nhà sản xuất phục vụ các nhu cầu này. Nhu cầu này thường mang giá trị trí tuệ, và đòi hỏi nhiều về thẩm mỹ, khéo léo tăng thêm nét thẩm mỹ cho người tiêu dùng. Bên cạnh những giá trị chủ quan do từng cá nhân người tiêu dùng chọn lựa trong việc chi tiêu mua sắm, người tiêu dùng còn bị tác động bởi các chính sách của chính phủ hay sự thuận lợi của việc khai thác nguồn tín dụng và vay mượn cho các hoạt động mua sắm ngắn hạn hay dài hạn.

Sự khác biệt giữa kinh tế thị trường và kinh tế có kế hoạnh do trung ương quản lý là sự xác định nhu cầu của mỗi loại kinh tế ảnh hưởng đến quan hệ giá cả và qui trình sản xuất cạnh tranh. Nếu kinh tế thị trường có nhiều nhu cầu tạo ra hay phản ánh mối quan hệ tự nhiên giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất thì các sản phẩm dịch vụ được tạo ra luôn kích thích nền kinh tế phá triển. Nếu thị trường ViệtNamcó sức mua thấp do thu nhập người dân chưa cao, thì sự kích thích tiêu dùng luôn ở mức độ bị hạn chế theo giá trị tiêu thụ và tổng sản phẩm quốc dân gia tăng. Khi nguồn sản xuất luôn lệ thuộc vào mức đầu tư nước ngoài mà không có sự chủ động của chính phủ trong các chính sách khuyến khích tiết kiệm, gia tăng phát triển nền giáo dục có khả năng đào tạo ra nguồn lao động phổ thông, có thể làm việc trong các nhà máy xuất khẩu. Củng là biện pháp thỏa mản nhu cầu giáo dục cho người tiêu dùng.

Doanh nghiệp hay nhà sản xuất sẻ tìm mọi cách để thỏa mản nhu cầu của người tiêu dùng với giá cả, chất lượng, mẫu mả, và tính năng cạnh tranh. Ngược lại kinh tế có kế hoạch sẻ do trung ương hay một ban chuyên môn định ra các nhu cầu, chất lượng, mẫu mả, tính năng, và giá thành, cùng với số lượng phân phối cho từng khu vực theo vai trò của người tiêu dùng trong cơ cấu làm việc trong xã hội. Chính các yếu tố lợi nhuận, khả năng thay đổi thu nhập, khả năng cải thiện mức sống, nền kinh tế thị trường cho phép các yếu tố trên thị trường được phép thương lượng và trả giá với nhau trong mối quan hệ giao dịch trong kinh doanh và trao đổi. Người có tay nghề cao sẻ tự tìm nơi nào doanh nghiệp sẳn sàng trả lương cao để về làm việc. Người nhân công có động lực là làm tốt công việc sẻ có tiền thưởng và tăng lương, nên họ sẻ cố gắng hoàn thiện, lẩn trao dồi kiến thức không ngừng cho bản thân và cả tập thể. Đó là nhu cầu tài chính khi động lực làm việc là mức lương.

Doanh nghiệp và chính phủ tạo ra những khả năng thúc đẩy và cạnh tranh lành mạnh theo nghĩa đúng luật pháp, bảo vệ môi trường, sức khỏe của người tiêu dùng, và các cách thức sản xuất cho người lao động. người tiêu dùng và nhu cầu của người tiêu dùng đả được xem xét như là tác nhân chính yếu của doanh nghiệp và chính phủ trong việt hoạch định chính sách kinh tế và các luật lệ đầu tư, luật pháp bảo vệ người tiêu dùng hay tạo ra môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế. Khi doanh nghiệp nắm bắt tất cả những điểm then chốt trong tâm lý và nhận xét khách quan của người tiêu dùng trong quá trình chọn lựa và tìm kiếm sản phẩm vừa ý, và phụ hợp giá tiền, nhà sản xuất có thể đạt được các mục tiêu của doanh số bàn ra cho thu nhập lẩn các biện pháp mở rộng thị trường.

Kinh tế thị trường phát triển dựa trên mối quan hệ giửa cung và cầu của nhà sản xuất và người tiêu thụ. Nguồn vốn hay các sản phẩm từ thị trường tài chính chỉ là nguồn cung cấp năng lượng cho các hoạt động của thị trường. Nhà sản xuất cần nguồn tài chính cho các hoạt động như mở rộng sản xuất, mua nguyên vật liệu, trả lương, đóng thuế, thuê mặt bằng hảng xưởng cho nhà sản xuất, còn người tiêu dùng thì cần tiền để mua các sản phẩm tiêu dùng từ nhà cửa, xe, vật dụng trong nhà, quần áo, thuốc men, tiền học phí, và các nhu cầu khác. Như vậy những nhu cầu từ người tiêu dùng và nhà sản xuất đều thể hiện qua các khả năng phân tích của đủ loại doanh nghiệp biến tận dụng những cơ hội đó để phục vụ nhu cầu của thị trường tạo ra lợi nhuận. Ngân hàng là nhà doanh nghiệp đặc biệt hay củng có thể gọi là nhà sản xuất trung gian. Bởi vì ngân hàng không sản xuất ra sản phẩm nào, nhưng lại tạo ra một loại sản phẩm vô hình chính là các sản phẩm tài chính từ nguôn vốn ký thác, hay ủy thác, hay đầu tư từ các khác khách hàng. Ngân hàng phục vụ cho nhiều loại khách hàng, nhưng khi cần thì ngân hàng lại là khách hàng của ngân hàng trung ương khi không còn đủ nguồn vốn xoay sở như trường hợp các ngân hàng của Hoa Kỳ trong năm 2008-2010. Nhà doanh nghiệp luôn cần nhận ra ai là khách hàng hay theo nghĩa kinh tế là người tiêu dùng, và nhu cầu của họ là gì để tạo ra các loại sản phẩm phục vụ nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau. Tiềm năng kinh tế của quốc gia ở mức độ vi mô do các doanh nghiệp khai thác tức là các doanh nghiệp tự tìm ra những khách hàng cho nhu cầu thiết thực và tạo ra sản phẩm phục vụ khách hàng. Còn chính phủ kích thích kinh tế phát triển ở mức độ vĩ mô thông qua các chính sách thuế, tỉ lệ lãi xuất, vốn vay, tỉ giá ngoại hối, các ích lợi của các chương trình phúc lợi xả hội như trợ cấp cho người già, người thất nghiệp, phụ nử có con, gia đình thu nhập thấp, hay vay vốn cho việc mua nhà. Chính phủ lúc này đóng vai là nhà cung cấp còn khách hàng là dân chúng và các doanh nghiệp.

Như vậy sự khai thác các nhu cầu của người tiêu dùng theo khả năng tài chính: có thể là chính phủ trung ương, chính quyền tỉnh hay thành phố, một công ty, một doanh nghiệp, một môi giới trung gian, hay là một cá nhân nào đó. Nếu một công ty chế tạo xe hơi như General Motor có thể có nhiều loại khách hàng từ các hợp đồng sản xuất xe chuyên dụng và thiết bị cho bộ quốc phòng. Hay khách hàng là các công ty đặc số lượng lớn xe như các hảng cho thuê xe, các công ty vận tải, các công ty chuyển phát hàng. Khách hàng là các cá nhân mua xe qua các đại lý của General Motor. Thị trường Nhật Bản củng có những tập đoàn lớn phục vụ đủ loại khách hàng – chính phủ một quốc gia, một công ty, và cá nhân. Các công ty tài chính và bảo hiểm hay môi giới như Nomura Securities, Sumitomo Mitsui Banking Group có nhiều loại khách hàng khác nhau do nguồn nhân lực đa dạng có trình độ chuyên môn cao có thể xử lý các loại dịch vụ đặc biệc như thu mua công ty, sát nhập công ty, trao đổi cổ phiếu, phát hành cổ phiếu, quản lý quĩ đầu tư ngắn hạn và dài hạn, phục vụ các thanh toán trong giao dịch quốc tế hay thanh toán nội địa, cho vay vốn. Trong khi đó các công ty chế tạo các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng hay công nghiệp chẳn hạn công ty Honda, Toyota, Sony, Canon, Fuji Film, Shiseido, Kao, Ajinomoto có những loại khác hàng khác nhau.

Nếu nhà sản xuất biết mở rộng thị trường theo cả giá trị nâng cấp mối quan hệ với khách hàng, và gia tăng số lượng khách hàng, thì đó là điều mà bất kỳ nhà sản xuất nào củng mong muốn đạt được. Các công ty củng đa dạng hóa nguồn đầu tư nhằm gia tăng lợi nhuận và giúp công ty chuyển hướng sang các lĩnh vực có lợi cho công ty mẹ. Như công ty Sony chuyên sản xuất thiết bị điện tử gia dụng, như củng gia tăng thị phần ở nhiều loại sản phẩm từ tivi, đầu hát DVD, HD DVD, máy quay phim digital, máy chụp hình digital, máy vi tính, các dụng cụ gia dụng khác, sản xuất phim và phát hành nhạc ở hảng Columbia. Ngoài ra nhiều công ty có thể khai thác hệ thống phân phối của công ty vừa mới mua cho việc gia tăng lượng bán hàng của công ty mẹ.

Trong việc quản lý các công đoạn sản xuất, xử lý thông tin, hay xử lý các bước cho việc phục vụ khác hàng trong tất cả các nghành kinh tế, thì các giá trị như cơ bản như quản lý biểu đồ làm việc của toàn thể nhân viên và các khâu sản xuất hay làm việc của một công ty từ 50 người cho đến hơn 20 ngàn nhân viên là những yêu cầu quan trọng. Bên cạnh đó các bảng tham khảo cho những giá trị thay đổi gọi là khả năng đóng góp của giá trị gia tăng của từng công đoạn hay cá nhân củng được nhà quản lý hay người trưởng nhóm thấu hiểu. Có nghĩa nếu một công đoạn nào có những sai sót thì sẻ khắc phục như thế nào. Hay việc đôn đốc nhân viên trong việc bảo đảm kế hoạch kinh doanh và sản xuất hoàn thành đúng thời hạn. Trong quá trình sản xuất có thể phát họa ra mô hình của bốn nhóm thao tác: (1) công đoạn thiết kế và hoàn thiện công đoạn, (2) Chuổi xác định các giá trị cần tạo ra và thêm vào sản phẩm hay dịch vụ trong các công đoạn, (3) chuổi kết hợp các giá trị vửa tìm được vào sản phẩm và dịch vụ, (4) từ kết quả vừa làm ra, các báo cáo và phân tích giúp cho giai đoạn gia tăng sự cạnh tranh trong các giá trị vừa tạo ra cho sản phẩm mới, như vậy nhà sản xuất mới tiếp tục có cơ hội tồn tại trên thị trường. Khái niệm tiếp theo cho một cơ cấu chức năng của một nhà sản xuất bao gồm ba nhóm: Front Office (trực tiếp tiếp xúc với khác hàng), Hybrid Office (nối kết và xử lý thông tin và các khâu chức năng giữa nhóm Front Office và Back Office), Back Office (nhóm làm việc bên trong thông qua các nguồn thông tin từ nhóm Hybrid Office cung cấp để hoàn thành sản phẩm và dịch vụ). Tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh kinh tế hay mức độ sản xuất và kinh doanh mà ba nhóm này có mức độ hoạt động phức tạp củng như độ sâu của sự truyền đạt và trao đổi thông tin với nhau. Nếu một doanh nghiệp là tiệm xửa xe hơi, thì Front Office là bộ phận tiếp khách hàng, sẻ nhận xe và ghi chép các yêu cầu của khách hàng. Hybrid Office là bộ phận kiểm tra các thông tin và giá cả phụ tùng và tiền công sửa chửa, sau đó báo cho Front Office biết để nói lại cho khách hàng. Nếu khách hàng đồng ý, thì Hybrid Office sẻ chuẩn bị các linh kiện cần thiết cho Back Office thực hiện việc sửa chửa. Nếu trong quá trình sửa chửa, Back Office phát hiện có các vấn đền liên quan, thì Back Office sẻ báo cho Hybrid Office biết, sau đó Hybrid Office sẻ kiểm tra lại giá cả của các trường hợp này nhằm báo cho Front Office nói chuyện với khách hàng. Nếu khách hàng đồng ý, thì Front Office sẻ thông báo cho Hybrid Office biết để tiếp tục các thao tác cần thiết. Hybrid Office sẻ thông báo cho Back Office tiếp tục việc sửa chửa theo các thông tin vừa nhận được từ Front Office. Sau khi Back Office hoàn thành các thao tác sẻ bàn giao chiếc xe lại cho Front Office để hoàn tất việc thanh toán với khách hàng. Nếu mọi việc đều hoàn hảo, thì qui trình cứ tiếp tục quay tròn như vậy.

Sự thành công của một doanh nghiệp trải qua nhiều giai đoạn: (1) phân tích thị trường và người tiêu dùng, (2) phát triển và tạo ra sản phẩm và dịch vụ có thể tiêu thụ bởi người tiêu dùng, (3) tạo ra sự cạnh tranh ưu việt hơn đối thủ trong các giá trị: giá thành, chất lượng, chức năng, mẩu mã, an toàn, thân thiện với môi trường, tái xử dụng vận liệu, tạo ra kênh hiệu quả cho quảng cáo, trao đổi với khách hàng. Sự kết hợp này còn lệ thuộc vào giá trị đóng góp của nhân viên trong quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Vì một sản phẩm có thể không được sự đón tiếp của người tiêu dùng, cho dù công ty đả tốn rất nhiều tiền và công sức. Đó củng là một sự rủi ro cho một dự án phát triển một loại sản phẩm mới mà chưa có đối thủ hay tiêu chuẩn quốc tế như trường hợp về tiêu chuẩn truyền hình độ nét cao, và kỷ thuật sản xuất đĩa xem phim có độ phân giải cao. Nguồn nhân lực tại thị trường Việt Nam có thế thu hút các doanh nghiệp Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu trong thời tới ở các ngành nghiên cứu và phát triển sản phẩm, công nghệ thông tinh, xử lý thông tính, thiết kế, quảng cáo, dược phẩm, thức ăn chế biến cho nhu cầu thị trường toàn cầu, sản phẩm tài chính, và các loại dịch vụ nhân lực toàn cầu có thể nói nhiều thứ tiếng và có nghiệp vụ chuyên môn cao.

Khách hàng là thượng đế theo nghĩa quyết định vận mạng của doanh nghiệp. Trong khi đó người dân là khách hàng của chính phủ, và chính phủ cần người dân tạo ra các nguồn thuế thu nhập, sức lao động, khả năng đóng góp cho nền kinh tế phát triển và an ninh quốc gia. Do đó khái niệm khách hàng vẩn có thể được xử dụng cho cả doanh nghiệp kinh tế và cơ quan chính phủ. Tiếng Anh của chử khách hàng là ‘Customer’, do đó ‘customer’ củng là người đối tác của doanh nghiệp hay của cơ quan chính phủ. Các công ty thành công trên thế giới đều biết phát triển loại hình văn hóa kinh doanh phục vục khách hàng ở mức hài lòng cao nhất. Nếu một công ty bán lẻ như Wal-mart có mức doanh thu hơn 400 tỉ USD, công ty Toyota doanh thu hơn 150 tỉ USD, thì điều đương nhiên mà mọi người nhận ra cả hai công ty này có một khái niệm rỏ rẹt về phương thức phụ vụ khách hàng của họ. Cơ cấu của chính phủ chỉ khác với cơ cấu của doanh nghiệp ở các giá trị sau: (a) an ninh quốc gia, (b) khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên, (c) giáo dục và y tế, (d) hổ trợ tài chính cho doanh nghiệp. Do đó, chính phủ củng sẻ hoạt động hiệu quả như một doanh nghiệp với khách hàng là mọi người dân, đồng thời chính phủ củng có khách hàng là đối tác nước ngoài.

Các Khái Niệm Tài Chính Cho Việc Gia Tăng Tính Cạnh Tranh

“Sử dụng nguồn vốn cho giá trị gia tăng của chất lượng, mẫu mả, tính năng, hình dáng, độ bền luôn đi kèm trong việc hạn chế của lảng phí và hiệu quả của từng bộ phận trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ.”

*****
Hiệu xuất của một doanh nghiệp là giá trị của sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra trên tỉ lệ của nguyên vật liệu, sức lao động, vốn cho đầu vào để tính lợi nhuận, mức chi phí, số lượng thành phẩm có chất lượng, hay dịch vụ thỏa mản nhu cầu của khách hàng.

Khi doanh nghiệp mướn nhân sự dựa trên năng lực và sự đóng góp của nhân viên tạo ra giá trị kinh tế cho doanh nghiệp. Nếu số nhân viên không đủ hay bố trí không phù hợp sẻ làm giảm hiệu xuất hay đình trệ công việc. Còn nếu mướn quá nhiều người và bố trí dư thừa củng sẻ lảng phí vốn của doanh nghiệp. Theo cách nói kinh doanh, nhân viên là tài sản của doanh nghiệp theo giá trị sử dụng và sáng tạo. Khi một doanh nghiệp mua vật liệu thiết bị, thường ghi vào sổ kế toán các chi tiêu này và gộp vào cho tài sản của doanh nghiệp. Nhưng khi thuê mướn nhân sự, thì doanh nghiệp không tính giá trị kinh tế của từng nhân viên đóng góp cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Công ty Appe của Hoa Kỳ nhờ nhà quản lý Steve Jobs đả vực dậy công ty sắp phá sản giữa thập niên 1990 trở thành một công ty đi lến có giá trị thị trường hơn 300 tỉ USD, gấp ba lần GDP của Việt Nam. Như vậy giá trị của Steve Jobs không được tính theo tiền bạc như các thiết bị, hảng xưởng, văn phòng của công ty Apple, nhưng có thể nói là nó vượt con số tỉ USD.

Như vậy doanh nghiệp sẻ luôn biết cách đánh giá để lên kế hoạch sản xuất, phân bố nhân sự theo khả năng làm việc, trình độ chuyên môn qua việc tuyển dụng nhân viên, hay thăng tuyển công tác lên chức vụ mới. Cho các bộ phận chính yếu, thì doanh nghiệp thuê mướn nhân viên chính thức với mức lương và lợi ích tốt hơn. Còn tuyển dụng nhân viên theo mùa cho nhu cầu sản xuất theo mùa sẻ áp dụng thuê mướn tạm thời, hay làm việc bán thời gian, trả theo giờ và không có các lợi ích đi kèm. Doanh nghiệp củng sẻ biết hạn chế các mâu thuẩn có thể xãy ra giữa nhân viên chính thức và nhân viên bán thời gian trong việc nhân mức lương khác nhau. Tuyển dụng nhân sự có tài năng và giử họ làm việc cho doanh nghiệp luôn lệ thuộc vào tương lai của doanh nghiệp. Họ luôn tìm sự chắc chắc cho cho quyền lợi, sự thăng tiến, mức lương, công việc ổn định.

Thường chi phí sản xuất sẻ quyết định đến giá thành của sản phẩm và dịch vụ. Có hai loại chi phí cho kinh doanh hay sản xuất: chi phí cố định và chi phí thay đổi theo số lượng sản phẩm và dịch vụ được tạo ra. Chi phí cố định có nghĩa là dù không sản xuất hay để máy nằm yên thì doanh nghiệp củng phải chi tiêu cho các chi phí khác nhau. Như tiền thuê mặt bằng, tiền điện, điện thoại, máy fax, di chuyển xe cộ, lương trả cho nhân viên, tiền chi phí cho các vận hàng hay công tác của các nhân viên làm việc cho doanh nghiệp. Tiền quảng cáo và các chi phí xã giao trong giao tiếp làm ăn. Chi phí linh hoạt thay đổi theo số lượng sản phẩm và dịch vụ tạo ra. Nó sẻ gia tăng theo tỉ lệ với số lượng sản phẩm tạo ra, cùng với các chi phi mua nguyên liệu, mức tiêu thụ điện, xăng, và số lượng thuê mướn nhân viên tạm thời, hay làm thêm giờ. Tăng số lượng xe vận chuyển hàng hóa, đóng thuế kho bải và xuất nhập khẩu cho hàng hóa hay nguyên vật liệu.

Hai chi phí này giúp cho doanh nghiệp chọn chiếc lược sản xuất với giá cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, nếu sản xuất ra 10000 tivi màu có mức chi phí cố định là 3 triệu USD, và chi phí linh hoạt là 1 triệu USD. Bán tivi với giá là 500 USD, tạo ra lợi nhuận là 1 triệu USD. Sau đó ban giám đốc sẻ tính xem nếu tăng mức sản xuất lên 20000 tivi màu, và mức chi phí linh hoạt sẻ tăng là 2 triệu USD, do đó doanh nghiệp sẻ giảm giá bán xuống còn 460 USD một cái tivi mà vẩn kiếm lợi nhuận là 4.2 triệu USD. Đây chỉ là bài toán minh họa cho việc giảm giá khi biết khai thác năng xuất và chi phi sản xuất của một doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp chia chi phí lên từng nhân viên, và chia lợi nhuận lên từng nhân viên, thì doanh nghiệp dể dàng lên kế hoạch cho việc quản lý nhân viên cho giá trị chi phí và giá trị lợi nhuận theo từng giai đoạn. Cùng lúc doanh nghiệp sẻ có hướng đào tạo nhân viên như là việc nâng cấp giá trị tài sản của mình.

Ngoài ra các doanh nghiệp kinh tế tạo ra sản phẩm phục vụ thị trường sẻ có ngân sách nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Tùy theo chiến lược của mỗi doanh nghiệp mà chọn một tỉ lệ cần thiết cho ngân sách R&D (nghiên cứu và phát triển) dựa theo tổng số giá trị doanh thu bán ra, hay lợi nhuận thu về. Vì nguồn ngân sách này sẻ tạo ra các bước đột phá trong việc tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới phục vụ yêu cầu của khách hàng. Trung Quốc đang gia tăng ngân sách R&D trong các doanh nghiệp kinh tế để đuổi kịp và vượt qua các công ty của Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ và Châu Âu trong tương lai.

Doanh nghiệp luôn lên kế hoạch làm sao để doanh thu bán ra của năm sau phải lớn hơn năm nay theo một con số cụ thể như 10% hay 30%. Đi kèm với sự gia tăng tiêu thụ sản phẩm sẻ là việc mở rộng khả năng sản xuất, mua nguyên liệu và đào tạo đội ngủ lao động, chuyên viên nghiên cứu công nghệ, khoa học kỷ thuật.

Vòng vốn lưu chuyển của doanh nghiệp luôn tính toán cho việc thanh toán nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và các chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Các con số này luôn chuẩn bị sẳn tiền mặt sẳn có để thanh toán các chi phí này. Củng như các món nợ mà doanh nghiệp cho đối tác mua chịu củng sẻ được thanh toán theo kỳ hạn. Những con số nợ, tiền được nợ sẻ cho thời hạn chi trả hay thu hồi. Như vậy trong ngân quĩ của doanh nghiệp luôn có một số lượng tiền mặt nhất định. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có các tài sản có thể bán hay thế chấp trong trường hợp cần vốn gấp, hay tiền mặt cho các chi trả cần thiết. Các kết quả tính toán trong việc quản lý tài chính vừa nêu củng góp phần trong việc tạo thành cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Hạn chế sự ùng tắc khi tiền mặt bị thiếu không thanh toán được cho các hạn mục cần thiết.

Phần Bảy:  Cán Bộ Quản Lý và Tầm Nhìn cho Tương Lai
“Môi trường làm việc giống như ngôi nhà thứ hai của một nhân viên, do vậy nhân viên sẻ có nhiều trách nhiệm nuôi dưỡng mối quan hệ công việc và cá nhân với các thành viên trong môi trường đó.”
 *****
 Sự thành công của bốn loại hình kinh doanh – doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh – luôn tạo ra các câu hỏi cho sự khác biệc về phương thức quản lý và khen thưởng tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khi tôi viết phần này, tôi tư hỏi là môi trường làm việc nào sẻ ứng dụng tại thị trường Việt Nam. Ngoài ra cuốn sách này chú trọng cho việc hoàn thiện các phương thức quản lý tại doanh nghiệp tư nhân. Môi trường thứ nhất là doanh nghiệp nhà nước. Môi trường thứ hai là doanh nghiệp tư nhân. Môi trường thứ ba là doanh nghiệp nước ngoài. Môi trường thứ tư là doanh nghiệp liên doanh. Vậy có sự khác biệt nào giữa bốn môi trường làm việc?

Điều dể dàng nhận ra là giá trị đóng góp của từng loại môi trường dựa trên tính hiệu quả, thời gian xử lý công việc, khả năng quản lý vốn tạo ra lợi nhuận, khả năng khen thưởng và bồi dưởng nhân viên, khả năng phát triển và mở rộng theo qui mô lớn dần của nền kinh tế trong nước và kinh tế toàn cầu, sự áp dụng khoa học công nghệ, sự nâng cấp quá trình thao tác và làm việc tương phản theo các giá trị thay đổi của môi trường xã hội trong và ngoài nước.

Trước tiên nên đề cập đến môi trường làm việc là cơ quan của chính phủ các cấp. Có thể cán bộ lảnh đạo không thật sự nhận ra ý nghĩa của tính “quan liêu” và tính “linh hoạt” dựa theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Có nghĩa giá trị kinh tế mà các cơ quan chức năng đóng góp không thể tính ra bằng doanh thu trực tiếp của từng cơ quan, nhưng ngược lại nó  được tính trên khả năng xử lý công việc và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh tế của ba nhóm trong môi trường làm việc – doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nước ngoài, và doanh nghiệp liên doanh - tạo ra giá trị kinh tế là doanh thu, tiền đóng thuế, công việc cho người dân, sản xuất sản phẩm và dịch vụ cho thị trường trong và ngoài nước. Như vậy có thể nói cơ quan nhà nước mang sứ mạng to lớn hơn các doanh nghiệp kinh tế, bởi vì các cơ quan chức năng có thể điều phối nguồn tài nguyên quốc gia, phân bố nguồn lao động, tạo điều kiện tối ưu cho việc vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, cung cấp nguồn điện, nước, xử lý chất thải, quản lý giao thông thuỷ-không-bộ hiệu quả và hợp lý, kích thích sự gia tăng nguồn chất xám có giá trị cao cho các ngành kinh tế trong nước, tạo ra giá trị trao đổi mậu dịch tiền tệ và hàng hóa có lợi cho mọi doanh nghiệp kinh tế, củng như quyền lợi của người tiêu dùng.

Do đó các cán bộ được chọn nắm giử các vai tròn then chốt trong việc quản lý các cơ quan chức năng sẻ gánh vác nhiều trách nhiệm hơn là cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp kinh tế. Khi nói đến một trách nhiệm tinh thần khác là thành viên của đảng, mọi cán bộ lại có trách nhiệm cho các giá trị mà người đảng viên cần thực hiện và chấp hành trong hai cương vị của một cán bộ lảnh đạo trong cơ quan chức năng của chính phủ. Điều mà các cán bộ sẻ quan tâm là tạo ra tầm nhìn rộng hơn, bao quát hơn và lâu dài hơn từ 10 năm đên 20 năm cho các kế hoạch cụ thể. Có thể nói việc phát triển đô thị, hiện đại hóa nông thôn, tin học hóa mọi người dân, xã hội hóa trách nhiệm và ý thức mang giá trị lâu dài. Hệ thống giao thông khi xây dựng sẻ tính đế tiềm năng giải quyết lưu lượng xe gia tăng trong vòng 10 năm hay 20 năm tới. Hệ thống cấp thoát nước củng sẻ được thiết kế theo tỉ lệ mật độ dân cư và số lượng nhà máy trong khu vực. Phần lớn các thành phố hình thành từ hơn 200 năm, ngoại trừ các thành phố lớn có tuổi đời lớn hơn, do đó cơ cấu hạ tầng hầu như không thể nâng cấp một cách hiệu quả khi cho có sự phối hợp cho việc kiến thiết các bố cục như nơi nào là nhà ở của cư dân, nơi nào là khu thương mại, nơi nào là văn phòng công sở của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân, nơi nào là khu khách sạn, nơi nào là khu giải trí, nơi nào là trường học, bệnh viện, thư viện, chợ. Do đó ngoài việc nâng cấp các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũ Tàu,Cam Ranh, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Đà Lạc, Bình Dương, Phan Thiết, thì các cơ quan chức năng có thể chọn các khu vực mới xây dựng các thành phố tương laic ho từng miền, tỉnh trong cả nước. Như vậy việc lên kế hoạch xây dựng dể dàng hơn và mang giá trị hệ thống hiện đại cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.

Các cơ quan chức năng của chính phủ vẩn áp dụng các nguyên tắc quản lý như cácdoanh nghiệp kinh tế, nhưng vẩ giử nét văn hóa của dân tộc, chính trị của quốc gia. Tính “quan lieu” có thể mang giá trị chính trị khi các cơ quan chính phủ tạo ra một không gian và môi trường làm việc tạo ra sự kính trọng, tin tưởng, và thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân và người dân trong nước. Cán bộ lảnh đạo vẩn có thể rút ngắn thời gian xử lý công việc, quản lý ngân sách, phân bổ ngân sách, chọn dự ánh đầu tư với các ứng dụng công nghệ tiên tiến, lẩn các phương thức cạnh tranh công khai cho việc gia tăng tính hiệu quả của các dự án có số vốn lên vài trăng triệu hay vài chục triệu USD.

Hầu như các cơ quan thuộc chính phủ đều có thể kích thích sự tăng trưởng GDP của Việt Nam hơn 12% một năm, nếu các giá trị sau có thể được áp dụng.

1)      Điện toán hóa sự kết nối giữa các cơ quan trung ương và thành, tỉnh giúp thống nhất các phương thức làm việc hiệu quả và xử dụng vốn, nhân sự cho mục tiêu tạo điều kiền cho nền kinh tế quốc gia phát triển
2)      Gia tăng cung cấp các chương trình giáo dục mang giá trị đóng gói các kiến thức sau cho vùng nông thôn: vệ sinh cá nhân, thao tác và kỷ thuận nông nghiệp, kỷ thuận xây dựng và sản xuất vật liệu gổ, xi-măng, và vật dụng tre nứa, thủy lợi, sử dụng điện từ nhiều nguồn khác nhau, chăn nuôi, canh tác các loại hoa màu, lương thực có giá trị kinh tế cao.
3)      Cung cấp các chương trình hướng nghiệp cho học sinh lớp 9, 10, 11, 12 giúp họ có một kiến thức căn bản làm việc trong các xí nghiệp gia công, chế biến, dịch vụ. Như vậy giảm đi thời gian và kinh phí cho việc học đại học.
4)      Gia tăng hệ thống thu thuế, nhằm tạo ra kinh phí gia tăng cho việc giáo dục và đầu cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, phát triền công nghiệp cơ khí, phát triển nông thôn cho sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao.
5)      Khuyến khích các doanh nhân hay các nhà đầu tư thành đạt đóng góp nhiều hơn cho xã hội như học bồng, xây dựng trường học, bệnh viện, thư viện cho các vùng nông thôn, thành thị cho nhu cầu học tập, giải trí, sức khỏe của người dân.
6)      Khuyến khích mọi người dân biết tiết kiệm và đầu tư vào các dự án kinh doanh sản xuất hơn là đầu tư vào thị trường địa ốc.
7)      Quảng cáo cho sản phẩm và thị trường Việt Nam thu hút du khách nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tại các quốc gia như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức, Ý.
8)      Tăng cường các chương trình giáo dục bảo tồn nết văn hóa, truyền thống của Việt Nam tại mỗi vùng khác nhau tạo ra nét riêng cho từng vùng. Du khách du lịch luôn muốn tìm hiểu về các giá trị văn hóa cổ truyền.
9)      Cải thiện mức thu nhập luôn gắn liền với các giá trị: ngân sách từ thuế cho cơ quan nhà nước, doanh thu và lời nhuận cho lương bổng và tiền thưởng cho doanh nghiệp nhà nước. Đó là giá trị mà thị trường Việt Nam sẻ dần dần hoàn thiện trong tương lai.

Khi nói đến các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân trong nước, các cán bộ có thể nhận ra nhiều phương thức được áp dụng cho từng loại doanh nghiệp do nhiều lý do. Doanh nghiệp nhà nước vẩn có ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ so với doanh nghiệp tư nhân. Nhưng ngược lại thiếu sự linh động và đa dạng cho việc phát triển và mở rộng doanh nghiệp trên qui mô toàn cầu. Vinashin có thể phát triển thành một doanh nghiệp phục vụ cho khách hàng trên thế giới. Doanh nghiệp nhà nước này có thể chuyển mình trở thành công ty có giá trị thị trường khoảng 20 tỉ USD trong năm 2030 hay 2040, nếu nguồn ra là sản phẩm chủ đạo có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới.

Khi cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nước, sẻ có nhiều lợi thế và thuận lợi, nhưng bên cạnh đó các giá trị do thị trường quyết định đều tồn tại và tác động đến các quyết định cho lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước. Trung Quốc phát triển doanh nghiệp nhà nước có sự đóng góp của các nhóm doanh nghiệp tư nhân trong nước. Có nghĩa chính phủ Trung Quốc vẩn nắm giữ phần lớn cổ phiếu của doanh nghiệp này, bên cạnh đó bán ra thị trường phần nhỏ cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài hay tư nhân trong nước sở hữu dưới 30% tổng giá trị của cổ phiếu lưu hành.

Nhưng hiệu quả mà doanh nghiệp nhà nước vẩn phải theo đuổi là tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường nội địa và nước ngoài. Các công ty của Trung Quốc có vốn do nhà nước đầu tư đả không ngừng gia tăng sử dụng công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, sau đó cải thiện dần với các giá trị sáng tạo nội địa tạo ra sản phẩm cạnh tranh trong và ngoài nước. Trong khi đó các quốc gia như Nhật Bản, chính phu hổ trợ ngân sách nghiên cứu và phát triển công nghệ kỷ thuật cao cho các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu trong giai đoạn 1950s đến 1990s. Đó củng là biện pháp hổ trợ mà chính phủ muốn các doanh nghiệp nội địa có thể phát triển lớn mạnh trước các công ty nước ngoài. Như vậy các doanh nghiệp có vốn của nhà nước sẻ có nhiều lợi thế hơn là các doanh nghiệp tư nhân, sẻ dể dàng phát triển kỷ thuật mới, sản phẩm mới, thị trường mới. Nhưng cán bộ quản lý của doanh nghiệp nhà nước phải luôn áp dụng các chính sách linh động, đa dạng dựa trên mối quan hệ cung cầu của thị trường, nhằm hạn chế việc thất thu vốn, gây thua lổ và kéo chính phủ vào trả nợ dùmg như công ty Vinashi đả làm.

Phần lớn các ngành công nghiệp mủi nhọn như khai thác dầu khí, khoáng sản, năng lượng, điện, cung cấp nước, đóng tàu thủy, xe lửa, xe điện, sản xuất máy bay, xe hơi, xe chuyên dùng, máy công nghiệp nặng, ngân hàng, có sự tham gia về vốn hơn 80% thuộc sở hữu của chính phủ. Nhưng chính phủ vẩn tạo ra sự đa dạng trong việc quản lý nhân sự, kỷ sư thiết kế, chuyên gia đầu tư, do đó trong ban lảnh đạo của doanh nghiệp sẻ có một hay vài người thuộc nhóm tư nhân bên ngoài, vì họ sẻ đóng góp cho việc phát triển của doanh nghiệp có lợi cho quốc gia. Nhưng quyền sơ hữu vẩn thuộc nhà nước. Chính phủ Nhật Bản vẩn mua cổ phiếu của các công ty lớn như viễn thông, năng lượng, ngân hàng, đầu tư bất động sản, xây dựng của các doanh nghiệp trong nước tạo sự cân đối của hoạt động kinh doanh tại các công ty này. Phần lớn các công ty đứng đầu của Trung Quốc vẩn có số lượng lớn cổ phiếu nằm trong tay chính phủ như ngân hàng, công ty khai thác dầu, khai thác quặn và điện, viễn thông, điện thoại di động, đóng tàu, sản xuất máy tín.

Có lẻ các giá trị mà bất cứ doanh nghiệp nào tham gia vào thị trường đều phải quan tâm có liên quan đến việc khai thác thị trường, xử dụng vốn đầu tư vào các kế hoạch cụ thể, nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua công nghệ tiên tiến và sự sáng tạo không ngừng. Tìm thị trường và mời đối tác để gia tăng giá trị cạnh tranh khi thâm nhập thị trường có nhiều đối thủ và yêu cầu chất lượng cao.

Do tính khách quan của sự thành công mà mọi doanh nghiệp có thể thu được, cán bộ quản lý sẻ tự chọn ra các phương châm và khẩu hiệu riêng cho doanh nghiệp của mình. Nhằm động viên, khuyến khích đội ngủ nhân viên tham gia tích cực vào các công đoạn kinh doanh sản xuất nhiệt tình, trách nhiệm, học hỏi, tương trợ, cùng nhau phát triển. Các nội qui được áp dụng cho nhân viên củng khác nhau giữa ba môi trường. Cơ quan nhà nước không có sự áp lực mang tính cạnh tranh về mối quan hệ cung cầu của thị trường kinh tế, do đó thái độ làm việc sẻ có phần thư thả và thoải mái hơn. Ngoài ra, cơ quan nhà nước không có đối thủ cạnh tranh như hai môi trường làm việc của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Nhưng nhà nước có nhiều đối thủ cạnh tranh về sức hút đầu tư và giá trị kinh tế của quốc gia. Do đó các chính sách mà chính phủ ban hành có thể thay đổi thái độ đầu tư và quan hệ mậu dịch với các quốc gia nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài.

Cơ quan nhà nước có lẻ chịu một áp lực duy nhất là cơ quan cấp trên khi có nhiều ứ động công việc hay quản lý nguồn tài chính do ngân sách nhà nước phân bổ cho. Nhưng khi nền kinh tế phát triển theo sự liện hệ gắn liền giữa ba nhóm với nhau, thì cơ quan nhà nước sẻ nhận ra nếu hiệu xuất và tốc độ làm việc của họ không đồng bộ với hai nhóm tư nhân trong và ngoài nước thì tốc độ phát triển của nền kinh tế sẻ bị khựng lại theo hai nghĩa giá trị gia tăng của lợi nhuận và số lượng hàng hóa và dịch vụ lưu thông tại thị trường, bao gồm cả việc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Do đó, phần này sẻ nói về hiệu xuất của phương thức làm việc và hiệu quả của năng lực khi làm việc trong môi trường có sự tương tác lớn cho công việc tại ba nhóm chính tại thị trường Việt Nam. Từ “Chính sách một cửa” có thể giải thích việc các cơ quan nhà nước  sẻ áp dụng các biện pháp quản lý kinh tế theo các giá trị: giảm thời gian không cần thiết cho các thủ tục có thể gây tác hại cho nền kinh tế của Việt Nam. Điều rất dể hiểu là mỗi một công dân Việt Nam sẻ có ít nhất là ba nhiệm vụ căn bản: làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, làm việc gia tăng giá trị kinh tế của công ty mà họ đang làm việc, và cuối cùng là làm lợi cho quốc gia thông qua đóng thuế trong các giá trị thu nhập, tiêu dùng và xử dụng. Do đó thời gian của họ sẻ mang ý nghĩa quan trọng cho đất nước Việt Nam. Dân có giàu thì nước mới giàu và thịnh vượng. Do đó hiệu xuất và tốc độ xử lý công việc của các cơ quan nhà nước sẻ trực tiếp tác động lên nền kinh tế trong tương lai. Các thủ tục xuất nhập khẩu, xin giấy phép kinh doanh và thuê mướn luôn cần có sự quan tâm của chính phủ nhằm tạo ra một xa lột lưu thông hàng hóa với hiệu xuất cao nhất. Mức lương của cán bộ và nhân viên làm việc trong các cơ quan chính phủ củng tác động đến thái độ làm việc hiệu quả hơn và mang giá trị chuyên nghiệp và đồng bộ cao trong thời gian tới. Muốn có mức lương tăng thì ngoài khả năng ngân sách của chính phủ cấp cho từng cơ quan và các thu nhập riêng, các cơ quan củng có thể thành lập các quĩ đầu tư tài chính tạo ra lợi nhuận để hổ trợ lương bổng và tiền hưu trí của mọi thành viên trong cơ quan. Đó là một việc làm tích cực trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường.

Khi một cán bộ nhận ra giá trị của mình trên tỉ lệ tạo ra giá trị kinh tế cho cơ quan chính phủ hay doanh nghiệp tư nhân, cán bộ sản thay đổi thái độ làm việc, đồng thời luôn nâng cao khả năng xử lý công việc và cải thiện môi trường làm việc của mình và nhân viên cấp dưới của mình. Đó là điều mà bất cứ cán bộ nào củng sẻ tiếp thu và nhận ra khi cá nhân mình đóng góp nhiều hơn cho tập thể là cơ quan chức năng hay doanh nghiệp tư nhân. Theo sự linh động của phương thức làm việc và thái độ làm việc, một cán bộ sẻ có thể thích ứng vào cả ba môi trường làm việc trong tương lai – cơ quan chức năng của chính phủ, doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp tư nhân nước ngoài.

Cơ quan chức năng có nội qui và phương thức làm việc ảnh hưởng nhiều của quan hệ chính trị và quan hệ kinh tế. Có nghĩa cán bộ luôn cảm nhận mình có nhiều quyền hành và ưu đải hơn trong các mối quan hệ với doanh nghiệp tư nhân, do đó cán bộ của các cơ quan chức năng sẻ có những nhận định khác nhau về tốc độ thực hiện công việc, hay thao tác thực hiện công việc. Ngược lại, cán bộ trong các doanh nghiệp tư nhân sẻ luôn đối phó với thị trường cạnh tranh, nên họ có phải thích ứng với môi trường cạnh tranh kinh tế cho mục tiêu đạt được lợi nhuận trong việc sản xuất và quan hệ với các đối tác trong thị trường. Hai thái độ làm việc này sẻ dần dần thay đổi cách suy nghĩ của một cán bộ làm việc trong cơ quan của chính phủ. Và nó tạo ra một khoảng cách thực tế và ứng dụng của nền kinh tế thị trường và hiệu quả của công việc. Nếu chính phủ muốn nền kinh tế gia tăng ở mức cao hơn hiện nay, thì sẻ có nhiều thay đổi trong phương thức quản lý và phục vụ người dân của cán bộ trong các cơ quan chức năng. Nhưng đó chỉ là lý thuyết, còn thực tế thì sự thay đổi này cần 2 thế hệ hay 3 thế hệ kế tiếp. Tức là sinh viên học sinh được giáo dục theo một chương trình giáo dục cải cách từ 2011-2040. Điều này rất dể nhận ra khi cán bộ đi tu nghiệp nước ngoài sẻ có một phong cách làm việc khác với cán bộ tốt nghiệp quản lý tại các trường đại học trong nước. Nhưng không nhất thiết là ngoại hóa hay âu hóa sẻ tốt cho nền kinh tế Việt Nam. Thực tế là quản lý hiệu quả và giảm mức tối thiểu cho sự lảng phí tài nguyên, cùng với khai thác nhân tài là điều mà cán bộ quản lý luôn đặc vị trí ưu tiên trong tương lai. Bên cạnh đố các tác nhân về chính trị sẻ ảnh hưởng lớn đối với việc cán bộ trong chính phủ thực hiện các cải cách làm việc có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Khi một cán bộ cao cấp của các bộ trong chính phủ được đi tu nghiệp quản lý nhân sự, tài chính, tiền tệ, tài nguyên, khoa học kỷ thuật tại một quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Nhật, Singapore, Úc, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, điều mà cán bộ này có thể nhận ra là khái niệm thời gian, hiệu xuất, năng xuất, và chi phí thấp luôn được nhắc đến trong các khóa học. Bên cạnh đó quản lý nhân sự và tài nguyên theo mục đích xã hội, kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc gia và môi trường, sức khỏe con người. Mà kết quả của các quốc gia có thu nhập cao đều ứng dụng các khái niệm vào công tác quản lý hành chính trong các cơ quan trực thuộc của chính phủ để giúp nền kinh tế phát triển đa dạng và hiệu quả. Sự phát triển kinh tế theo nghĩa càng có nhiều doanh nghiệp hoạt động tại thị trường, chính phủ sẻ thu vào nhiều nguồn thuế ngân sách cho các hoạt động xã hội, an ninh quốc phòng. người dân có công ăn việc làm nâng cao cuộc sống của họ và đóng góp nhiều hơn cho chính phủ. Sự cải thiện này nâng cao khả năng an ninh quốc gia mà chính phủ có thể đạt được thông qua việc nâng cao khả năng sản xuất của nền kinh tế trong nước.

Trong trường hợp của Công ty Vinashin, chính phủ có thể thay đổi các phương thức kinh doanh để dùng vốn của chính phủ tạo ra lợi nhuận cho chính phủ. Đó là khái niệm chuyển mình từ không có lời thành có lời dưới một cách thức quản lý mới. Nâng cao mức thu nhập của cán bộ quản lý ở mức cao hơn, đồng thời gia tăng liên doanh với các công ty nước ngoài như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đức cho việc cải thiện thiết kế, chất lượng và giá thành nhằm gia tăng đơn đặc hàng trong và ngoài nước. Còn các phương kinh doanh khác do sự phân tích biến chuyển của thị trường tạo ra lợi nhuận đa chiều. Thị trường địa ốc, kinh doanh thương mại và phát triển các lĩnh vực kinh tế khác cần sự linh động và sắc bén cho việc chọn dự án đầu tư. Một công ty nhà nước có nhiều lợi thế là vốn, ưu đải kinh doanh và tìm đối tác trong và ngoài nước. hiệu quả của việc quản lý vốn luôn do khả năng quản lý của cán bộ nhằm đáp ứng ba yếu tố cơ bản: (a) vòng soay của vốn lưu động, (b) tỉ lệ lợi nhuận và vốn đầu tư, (c) khả năng cạnh tranh. Ngoài ra giá thành của các đơn đặc hàng cho tàu vận tải, tàu trở khách, phà, tàu du thuyền giải trí, ca-nô cho di chuyển nhanh lẹ và các loại tàu chuyên dùng có thể được phát triển theo phương thức liên doanh hay tự túc với các chuyên gia nước ngoài và nâng cấp cơ sở hạ tầng của công ty Vinashi, thì không lâu khách hàng của công ty sẻ ở mọi nơi trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.

Trong khi đó, các doanh nghiệp trẻ củng sẻ chọn ra phương thức riêng phù hợp cho môi trường làm việc của doanh nghiệp mà mình đầu tư cho thành công lâu dài. Thường các doanh nghiệp trẻ thành lập công ty riêng của mình ít khi chọn ra khẩu hiệu hay phương châm của kinh doanh cho doanh nghiệp. Nó là kim chỉ nam cho mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng thực hiện. Ví dụ, công ty tài chính sẻ có phương châm kinh doanh “Chúng tôi sẻ giúp khách hàng vừa lòng và cùng nhau phát triển.” hay “Dịch vụ tài chính của chúng tôi đem lại an toàn, tiện lợi và năng lực cho khách hàng.” Trong khi đó doanh nghiệp chế tạo phần mềm sẻ có phương châm riêng, “Dịch vụ của chúng tôi đem lại sự thành công cho khách hàng ở mức chi phí thấp nhất, an toàn nhất.” Nhưng doanh nghiệp phải đáp ứng theo phương châm kinh doanh của mình để giữ uy tín đối với khách hàng, củng như tạo ra sự khách biệc cho doanh nghiệp tồn tại trên thị trường. Các doanh nghiệp về thời trang củng có những phương châm kinh doanh cụ thể cho sản phẩm của mình, nhưng “sản phẩm của chúng tôi luôn đem lại niềm lạc quan, kiêu hảnh cho các bạn trẻ.” hay “Sự thanh lịch, thoải mái, và tiện lợi là mục tiêu của chúng tôi.” Và doanh nghiệp đó phải thực hiện đúng phương châm kinh doanh của mình nhầm gia tăng tính yêu cầu cao của khách hàng.

Ngược lại nếu một bạn trẻ muốn thử thách vai trò và năng lực của mình tại một doanh nghiệp nước ngoài, thì bạn sẻ làm gì? Cán bạn trẻ đó sẻ luôn tự hỏi công ty đó sẻ yêu cầu gì và các tiêu chuẩn làm việc là gì. Trong đầu của các ứng cử viên cho các vị trí quản lý như trưởng phòng, phó giám đốc, họ sẻ nhận ra các tiêu chuần hay thước đo sau: (1) trình độ học vấn có phù hợp cho công việc đó hay không, (2) có kinh nghiệm hay chưa có kinh nghiệm, (3) khả năng thích hợp cho công việc, (4) trình độ ngoại ngữ trong giao tiếp, (5) khả năng hy sinh hay mức độ nhiệt tình cho công việc, (6) khả năng học hỏi và xây dựng mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng, và đối tác, và (7) hiểu giá trị của lương bổng, quyền lợi và sự thành công của công ty. Bảy khía cạnh hay tiêu chuẩn mà ít khi một người xin việc làm chuẩn bị cho mình trước sự đòi hỏi của một công ty nội địa hay nước ngoài. Mục tiêu mà công ty này muốn thành công là lợi nhuận và thị phần trên thị trường.

Công ty là một tập thể của nhiều thành viên có nhiệm vụ khác nhau, nhưng sự đóng góp của mỗi cá nhân luôn gắn liền với nhau. Sự phấn đấu là điều cần khuyến khích, nhưng đôi lúc sự kích thích cạnh tranh không phù hợp hay bị hiểu sai đi, tạo ra sự thù ghét cá nhân hay giữa nhóm này và nhóm khác. Cuối cùng các mâu thuẩn như vậy không chỉ làm tiêu tốn tài nguyên của công ty mà còn trì hoản các dự án hay các mục tiêu kinh doanh và hoạt động kinh tế. Ví dụ như, khi một công ty chuyên sản xuất đồ điện tử bao gồm điện thoại di động, ti-vi, máy vi tính. Do đó công ty sẻ có ba nhóm nghiên cứu và phát triển cho các sản phẩm trong nhóm sản phẩm của mình. Có nghĩa cả ba nhóm cần xử dụng tài nguyên của công ty, nhưng mổi nhóm lại có sự hạn chế về tài nguyên, ngân sách, nhân lực để tập trung vào việc phát triển sản phẩm. Nếu nhà quản lý cấp cao điều phối tài nguyên cho cả ba nhóm, sẻ luôn nhận định dù nhóm nào thành công thì giá trị lợi nhuận vẩn đóng góp vào nguồn tài sản của công ty. Nếu do sự truyền đạt thông tin không chính xác, trưởng nhóm của ba nhóm sản xuất lại mong muốn nhóm của mình được ưu đải nhiều hơn cho việc phát triển sản phẩm, có thể dẩn đến sự thất thoát tài nguyên do việc làm trì hoản các nhóm khác không hoàn thành công việc. Hơn thế nủa, nhân viên của các nhóm có thể hỗ trợ cho nhau, nếu thời gia cho phép, củng như khả năng đóng góp cho từng nhóm mà các nhân viên này tham gia. Một thiết kế giỏi, có thể thiết kế mẫu mã cho cả ba nhóm, hay kỷ sư điện tử có thể ứng dụng các chức năng cụ thể cho từng nhóm một. Nhất là ứng dụng cho việc bảo mật thông tin, nếu các thiết bị có các ứng dụng internet.

Trong môi trường làm việc và giao tiếp cho các nghành liên quan đến giao dịch quốc tế, nhân viên và cán bộ ViệtNamsẻ có những tiếp xúc với đối tác nước ngoài và làm việc trong môi trường kinh doangh mới. Cách thức xử lý công việc và đảm bảo tính an toàn và an ninh của công việc tránh những thất thoát về thông tin mật kinh tế, kinh doanh, và kỷ thuật. Nhiều nhân viên nội địa không nhận ra sự quan trọng của cách thức quản lý thông tin nội bộ và quản lý nhân sự trong môi trường liên doanh hay 100% vốn đầu tư nước ngoài, và thường tạo ra những mâu thuẩn hay sai sót đối với chủ quản và thượng cấp là người nước ngoài. Khi chấp nhận làm việc cho công ty liên doanh hay 100% vốn nước ngoài, nhân viên thường sẻ so sánh mức lương của họ nhận được từ công ty, và thảo luận với người khác. Có thể là cùng làm chung sở làm hay khác sở làm. Thói quen này có thể xem là bình thường ở xã hội ViệtNam, nhưng đôi lúc nó sẻ tạo ra nhiều mâu thuẩn, nhiều khi còn gây ra các vấn đề xung đột giữa nhân viên và nhân viên, hay nhân viên và thượng cấp.

Các yếu tố văn hoá và cá tính không thể thay đổi dể dàng, nhưng nếu có sự nhận xét và phân tích có lợi cho công ty, thì chắc chắn không người nhân viên nào mà không mong muốn. Nếu hai nhân viên cùng làm việc trong một khâu, nhưng một ngưòi có mức lương cao hơn người kia. Nếu cả hai người không biết mức lương của nhau, thì họ sẻ vui vẻ làm việc, không có sự thắc mắc hay khiếu nại nào. Còn không cả hai sẻ có những thái độ thù nghịch hay ganh tị do các yếu tố chủ quan. Nếu một nhà quản lý giỏi sẻ nhận ra người nhân viên có mức lương cao hơn, có khả năng thay thế người khác làm công việc hay giúp đở người khác làm công việc hiệu quả hơn. Đó sự đánh giá ngầm của người quản lý nhằm tăng tính hiệu quả, nhưng không làm các cấp dưới có những mâu thuẩn với nhau. Đó là lý do của sự trênh lệch về mức thu nhập có tính tích cực khi mọi người cảm nhận là nếu họ làm tốt hơn, thì họ sẻ có được phần thưởng xứng đáng.

Kế tiếp là khái niệm giá trị lao động trong một công ty khi các nhân viên làm việc có khái niệm ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao. Có ba trường hợp khi nhân viên nhận xét đồng nghiệp của mình không hoàn thành công việc được giao. Phản ứng một là dửng dưng. Phản ứng thứ hai là chủ động giúp đở. Phản ứng thứ ba là báo cáo với cấp trên. Vậy trong ba cách phản ứng, thì cách nào có giá trị đóng góp cho công ty, cho bản thân, và cho tập thể. Sự dửng dưng là phản ứng có ý nghĩa tiêu cực nhất. Còn phản ứng tự nguyện giúp đở củng có một mặt tiêu cực tạo ra sự ỷ lại của đồng nghiệp. Còn phản ứng thứ ba là báo cáo với cấp trên có thể gay ra tranh cải, mâu thuẩn, và thù hận với đồng nghiệp. Do đó cách tốt nhất là thảo luận các vấn đề đó với cấp trên trước, hay trong các buổi họp tập thể ở gốc độ khách quan, tạo ra ý nghĩa đóng góp cho công ty, chứ không phải là ác ý muốn hại ngưòi khác cho quyền lợi của mình.

Ngoài ra sự khác biệt giá trị lao động giũa hai thị trường là điều tất nhiên do điều kiện kinh tế và phát triển xã hội của mỗi thị trường quyến định. Một nhân viên khi làm việc cho một công ty nước ngoài không nhất thiết phải so sánh mức lương của mình với các nhân viên làm một công việc tương tự tại các quốc gia khác. Nếu mức lương ở ViệtNamlà 600 USD có thể nói là tương đương với 2400 USD theo tỉ giá của các loại sản phẩm căn bản. Do đó các công ty nước ngoài mới đầu tư vào thị trường ViệtNamcho các sản phẩm đòi hỏi nhiều ở sức lao động. Vì nếu một công nhân may mặc tại Hoa Kỳ có mức lương là 8 USD đến 12 USD một giờ, so với mức lương mà công ty may mặc taị Việt Nam trả cho nhân viên một tháng là 60 USD đến 100 USD, thì nhân viên Việt Nam có thể xem mức lương của mình quá thấp, nhưng đó là giá trị so sánh cạnh tranh mà thị trường Việt Nam thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Ở Nhật mức lương cho một nhân viên ở một tiệm tạp hóa (convenient store) có mức lương từ 800 Yen đến 1200 Yen (khoảng 9 USD đến 14 USD ở tỉ giá 83 Yen/ một đô-la). Giá trị so sánh trong nền kinh tế toàn cầu hóa, tạo ra sự chuyển dời các công việc tay chân, cần nhiều sức con người sang các quốc gia đang phát triển và mới nổi lên nhằm đóng góp lợi nhuận cho các nhà đầu tư của các công ty đa quốc gia.

Do đó khái niệm giá trị so sánh không hoàn toàn đúng theo nghĩa giá trị cung và cầu và các chỉ số tương ứng của thị trường. Nhất là so sánh giá trị của lương ở doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường ViệtNam. Nếu mức lương ở Trung Quốc và Việt Nam gia tăng từ từ lên bằng các quốc gia như Nam Triều Tiên và các nước Đông Âu, thì sự cạnh tranh của thị trường Trung Quốc và thị trường Việt Nam sẻ chuyển từ các ngành kinh tế cần nhiều sức lao động con người sang các ngành kinh tế cần nhiều tư duy, sáng tạo, có kiến thức, và sự nhạy bén trong khả năng phân tích thị trường và công nghệ kỷ thuật cao. Đó là giá trị gia tăng của môt thị trường từ gia công chế biến sang sáng tạo và thiết kế và nghiên cứu. Singapore và Hồng Kông củng đả chuyển đổi từ kinh tế cần sức lao động sang kinh tế cần vốn và hoạt động trí tuệ sáng tạo.

Nếu một kỷ sư phần mềm Việt Nam có thể viết ra những chương trình ứng dụng cho các doanh nghiệp kinh tế như chương trình phần mềm quản lý khách hàng của các công ty bảo hiểm y tế, ngân hàng, trường học, bệnh viện, siêu thị mua sắm, thì mức lương mà người kỷ sư này có thể kiếm là vài ngàn đô-la từ các công ty phần mềm tại Việt Nam. Bởi vì các chương trình đó trực tiếp bán ra cho khách hàng không qua nhiều khâu trung gian như các loại hàng hóa khác. Nếu một công ty phần mềm của Hoa Kỳ trả lương cho kỷ sư phần mềm là 50 ngàn USD cho đến 150 ngàn USD một năm, thì họ sẻ dựa trên giá trị đóng góp của kỷ sư viết chương trình phần mềm thương mại cho một dự án theo yêu cầu khách hàng. Họ sẻ ước tính số lượng dòng mã viết mà các kỷ sư cùng nhau viết ra chương trình mà trả tiền cho các kỷ sư. Nhưng các giá trị bản quyền và lợi nhuận từ việc bán ra các phiên bản là lợi nhuận cho công ty đó trên giá trị gia tăng như trường hợp của công ty Microsoft và các phiên bản Window. Công tay Microsoft đầu tư hơn 1 tỉ USD cho các kỷ sư phần mềm viết các chương trình hệ điều hành Vista. Như vậy họ tính vào doanh thu bán bán quyền của hệ điều hành cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp lớn, chính phủ, trường học và các nhóm hoạt động khác.

Sự cạnh tranh của thị trường lao động ngày nay không còn bị giới hạn trong một quốc gia, mà nó lang ra khu vực xung quanh hay trên toàn thế giới. Nếu các sinh viên viết chương trình phần mềm, thiết kể mẫu mả, thiết kế sản phẩm điện tử dân dụng hay công nghiệp, các loại máy móc cơ khí, thì các công ty nước ngoài sẻ sẳn sàng tăng mức lương để chiêu mộ các nhân tài về với công ty. Nếu một nhóm kỷ sư công nghệ thông tin của Việt Nam gồm 20 người có thể hoàn thành một chương trình ứng dụng cho một công ty Nhật Bản là ngân hàng đầu tư quốc tế. Giá đặc hàng là 2 triệu USD, và nhóm này hoàn thành trong 6 tháng. Nếu trung bình một kỷ sư nhận mức lương là 500 USD, thì tổng số chi phí lương cho 20 nhân viên này là (20x500USDx6)= 60 ngàn USD. Các chi phí thuế, thuê mướn văn phòng, các thiết bị và các dịch vụ khác là 500 ngàn USD, thì công ty đầu tư vẩn kiếm đợi lợi nhuận là hơn 1 triệu 440 ngàn USD. Nhưng khi có nhiều công ty nước ngoài mở văn phòng tại Việt Nam, họ cần các kỷ sự giỏi, nhưng vì thị trường không có nhiều kỷ sư như yêu cầu, do đó mức lương trả cho các kỷ sư có thể được tăng lên là 700 USD một tháng. Như vậy lợi nhuận của một hợp động 2 triệu USD trong 6 tháng sẻ giảm xuống. Ngoài chi phí trả lương tăng từ 60 ngàn USD lến 84 ngàn USD, công ty này củng sẻ có nhiêu chi phí gia tăng khác: như tiền thuê văn phòng và các chi phí khác. Lúc đó nhà đầu tư sẻ tiếp tục làm bài toán so sánh về giá cả chi phí cho việc có nên đầu tư ở ViệtNamhay không. Khi đó người lao động sẻ tự nhận thức rằng họ muốn có việc làm lương cao thì họ cần có trình độ chuyên môn hay nói cách khác là họ cần tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học, hay bằng cấp thạc sỉ và tiến sĩ.

Những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao, thì giá trị GDP do các ngành kinh tế dịch vụ đóng góp cao hơn 60%, so với các ngành kinh tế nông nghiệp chỉ đóng góp một phần nhỏ từ 2% đến 5%. Như Nhật Bản, kinh tế nông nghiệp chỉ đóng góp 1.5 % cho GDP của Nhật, là khoảng 73.6 tỉ USD, trong khi đó kinh tế dịch vụ đóng góp đến 72.3% GDP là khoảng 3550 tỉ USD, còn kinh tế công nghiệp đóng góp 26.3% GDP là khoảng 1291 tỉ USD trong năm 2008. So với Trung Quốc thì nông nghiệp đóng góp 11.3% GDP là khoảng 489 tỉ USD, công nghiệp đóng góp 48.6% GDP là khoảng 2103 tỉ USD, kinh tế dịch vụ đóng góp 41.1% GDP là khoảng 1778 tỉ USD. Úc có mức đóng góp của nông nghiệp là 3.4% GDP là khoảng 34.4 tỉ USD, công nghiệp đóng góp 26.8% GDP là khoảng 271.4 tỉ USD, và dịch vụ đóng góp 69.8% GDP là khoảng 707 tỉ USD trong năm 2008.

Sự phát triển kinh tế của một thị trường luôn có khuynh hướng gia tăng mức sống của người dân. Hay nói cách khác làm giá cả sinh hoạt gia tăng, lẩn các nhu cầu khác tạo ra nhu cầu nâng cao nhiệp vụ, trình độ kiến thức để có thể tìm được một việc làm có mức lương phù hợp chi trả các khoảng chi phí cho người đó. Nếu lương bình quân của một công nhân đứng máy tăng lên là 100 USD, và kỷ sự lập trinh vi tính có mức lương là 600 USD, giám đốc công ty là 1000 USD; như vậy chi phí hành chính của các công ty củng gia tăng lên. Nhà đầu tư sẻ muốn thay đổi phưong thức đầu tư nhằm đảm bảo mức lợi nhuận phù hợp thông qua các khả năng cạnh tranh khác. Thường họ sẻ nhắm đến thị trường lao động theo trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và khả năng sáng tạo để đầu tư và khai thác cho mục tiêu lợi nhuận. Công ty Trung Quốc có hậu thuẩn của chính phủ mua thương hiệu IBM PC rồi sau đó đổi tên thành Lenovo có giá trị thượng mại toàn cầu không qua quá trình tạo uy tín của thương hiệu. Nay công ty điện tử NEC của Nhật Bản muốn liên kết với Lenovo cho việc khai thác thị trường máy tính cá nhân, vì cả hai muốn chia sẻ lợi nhuận lâu dài. Trong khi đó NEC có thể tập trung vào việc nghiên cứu chế tạo các sản phẩm chủ đạo khác.

Nhu cầu nguồn lao động cho các khu chế xuất, doanh nghiệp liên doanh, quốc doanh, và liên doanh luôn đòi hỏi nhân công lành nghề về kiến thức, ý thức cao, trách nhiệm trong công việc, và tinh thần tự hào dân tộc. Sự khác biệt giữa làm việc cho công ty nội địa và nước ngoài là tâm lý của lợi ích cho người chủ công ty. Nhưng do sự khác biệt của môi trường đầu tư và sở hữu cổ phần doanh nghiệp, các công ty đa quốc gia không còn mang tính chất sở hữu của một quốc gia mà là cổ đông từ nhiều quốc gia. Vì vậy nhân viên hay cán bộ ViệtNamcó thể thay đổi thái độ về giá trị lao động trong công việc ở công ty nội địa và công ty nước ngoài. Nếu người làm công Việt Nam có thế học hỏi kinh nghiệm trong môi trường làm việc ở công ty nước ngoài và sau này thành lập công ty của riêng mình hay làm việc các công ty khác phù hợp với năng lực và phát triển nghề nghiệp. Thực chất mỗi công ty tạo ra một đóng góp kinh tế cho quốc gia sở tại bằng cách tạo ra công ăn việc làm, thu nhập cho người tiêu dùng, đóng thuế cho chính phủ, khai thác nguồn nhân lực tài nguyên hợp lý. Cho dù đó là công ty nội địa hay nước ngoài.

Môi trường có nhiều công ty cạnh tranh sẻ kích thích các doanh nghiệp trong và ngoài nước luôn cải thiện các qui trình sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao. Những cải thiện luôn bắt đẩu bằng các giá trị ưu việc hơn các đối thủ cạnh tranh nhằm gia tăng mức doanh thu của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp của luôn tự đặc vị trí của họ vào trong môi trường có mối quan hệ với các xã hội, môi trường thiên nhiên, và giá trị tương lai. Nếu những giá trị đó luôn nâng cấp đó thể hiện trong việc một doanh nghiệp thực hiện hiện đại hóa công nghiệp dây chuyền cho số lượng sản phẩm ở mức giá hợp lý, thì sự nâng cấp của doanh nghiệp sẻ là theo đuổi các mục tiêu mới gắn liền lợi nhuận cho doanh nghiệp với lợi ích của xã hội, và môi trường toàn cầu. Giống như sự ảnh hưởng ô nhiểm ở thị trường Trung Quốc tạo ra những thay đổi ở tận tiểu bang California ở Hoa Kỳ. Những thay đổi thời tiết như vậy đả thuyết phục các quốc gia thực hiện các biện pháp mới cho việc khai thác lợi nhuận trong sự tôn trọng và gìn giử môi trường tự nhiên. Có thể doanh nghiệp làm ngơ việc ô nhiễm môi trường trong vài năm đầu, nhưng sau đó các hậu quả gây ra sẻ tác động đến điều kiện sinh số của người dân, do đó chính phủ phải cang thiệp và có biện pháp xủ lý thích đáng. Nếu nền kinh tế của Trung Quốc vì lợi nhuận trước mắt không hạn chế và khắc phục ô nhiểm thì từ từ các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa, tim mạch sẻ làm suy yếu nguồn lao động của Trung Quốc, lúc đó Trung Quốc sẻ nhận ra cái giá phải trả là rất lớn. Hầu như không khắc phục được nhất là khi các ô nghiểm tác động đến gen di truyền của các thế hệ tiếp theo.

Sự cọ xát hay tiếo xúc của các doanh nghiệp trên một hay nhiều thị trường luôn tạo một áp lực cho các doanh nghiệp không bao giờ chấp nhận các thành công ở hiện tại, họ phải tiếp tục theo đuổi công việc chế tạo ra sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn và hoàn thiện hơn. Nhờ các công ty nước ngoài hoạt động trong thị trường nội địa, các công ty nội địa sẻ có những thay đổi tích cực trong cơ cấu quản lý nhân sự, vật tư, khách hàng, vận chuyển, phân phối thích ứng và năng động. Khái niệm về kinh tế thị trường giúp các doanh nghiệp và nhà sản xuất sẻ phân tích thị trường người tiêu dùng lẩn thị trường cung cấp nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, vật liệu thõa mản nhu cầu của khách hàng. Trong khái niệm làm việc của một cán bộ quản lý và nhân viên trong một công ty đa quốc gia, có thể là công ty của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, cán bộ quản lý sẻ tự hỏi sự thành công của bản thân chính là giá trị đóng góp trong môi trường tập thể mà mình đang là một thành viên. Một công ty thành công có được những thành viên biết làm việc và kết hợp với nhau như ví dụ của một đội đua thuyền bườm. Nếu người thuyền trưởng có thể điều khiển các thành viên làm việc nhịp nhàn, hiệu quả, kỷ luật, tôn trọng, và tương trợ nhau thì con thuyền sẻ tận dụng mọi sức gió giúp con tàu lau tới đích trước các tàu đối phương. Một nhận xét thực tế mà Việt Nam có thể rút tỉa kinh nghiệm là tham quan các nơi như sau: Thượng Hải, Hồng Kông, Seoul, Tokyo, Taipei, Singapore, Bangalore của Ấn Độ, Silicon Valley của California để so sánh hoàng cảnh xã hội, kinh tế, con người rồi thành lập một ủy ban chuyên môn cho việc phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2012-2030. Tôi hy vọng mình sẻ đóng góp vào kế hoạch này.


Giáo Dục Kiến Thức và Nhân Cách

“Kiến thức giúp con người làm việc khoa học hiệu quả hơn. Nhưng nhân cách quyết định sự sống còn của con người trong mối tương quan với gia đình, cộng đồng, đồng nghiệp, cơ quan, và xã hội.”
*****

Trong kinh doanh quốc tế, nhân viên hay cán bộ trực tiếp giao dịch với đối tác nước ngoài, lẩn các chức năng hoạt động phục vụ thị trường quốc tế cần tích lũy một lượng kiến thức cần thiết. Chẳng hạn lịch sử quốc tế, vị trí địa lý, ngôn ngử, văn hóa, tôn giáo, điều kiện chính trị và kinh tế của doanh nghiệp đối tác hay quốc gia của doanh nghiệp đối tác. Kiến thức giúp cá nhân thấu hiểu những nguyên lý và nguyên tắc của hoạt động tạo ra lợi nhuận cho các bên tham gia trong hoạt động kinh tế hay ngoại giao. Không có cá nhân nào trong nước hay ngoài nước muốn bị thiệt thòi hay thiệt hại trong quan hệ kinh doanh với đối tác. Kiến thức còn giúp ích cho sự phân tích nhạy bén trong tình hình thay đổi trên thị trường. Sự cập nhật kiến thức giúp rất nhiều trong việc đảm bảo tính cạnh tranh, khoa học kỷ thuật, và các vấn đề xử lý tế nhị trong giao dịch. Nhất là các quốc gia như hồi giáo, phật giáo, hay các quốc gia Đông Á có giá trị văn hóa cao về giao tiếp luôn đòi họi các nghi thức cần thiết khi tiếp xúc và làm việc với họ.

Nhân cách của nhân viên và cán bộ là điều kiện thứ hai cùng với điều kiện kiến thức tạo ra sự hoàn hảo của khả năng hoàn thành công việc – “work performance”.

Nếu một công ty muốn kích thích nhân viên của mình làm việc hiệu quả, nhưng vẩn luôn cân nhắc trong việc khen thưởng hợp lý giúp cho nhân viên có một động lực trong làm việc, thì công ty đó sẻ chọn một phương thức hữu hiệu giúp cho công ty đạt được các mục tiên vừa nêu. Cà hai điều kiện này là các điều kiện quan trọng cho doanh nghiệp phát triển trên thị trường. Có nhiều cá nhân hay doanh nghiệp thường chú trọng vào lợi nhuận ngắn hạn hơn là lợi nhuận dài hạn. Do đó họ không cần quan trọng đến hai điều kiện - kiến thức và nhân cách. Nhân cách bao gồm thái độ phục vụ, ngôn ngử xử dụng trong giao tiếp, trách nhiệm, tính chân thật, tôn trọng đối tác, giử lời hứa, và quan tâm đúng mức trong các mối quan hệ trong giao tiếp. Kiến thức giúp nhà quản lý biến điều phối tài nguyên, nhân lực thích ứng cho công đoạn tìm hiểu thị trường, chế tạo sản phẩm, đảm bảo chất lượng, nhiệt tính nhận ý kiến đóng góp và phục vụ khách hàng. Công nghệ và khoa học kỷ thuật cùng với khả năng phân tích, thấu hiểu tâm lý của người tiêu dùng sẻ giúp nhà quản lý đạt được các kết quả ớ mức cao nhất.

Phần đông các doanh nghiệp có môi trường kinh doanh và làm việc mang những yếu tố văn hóa, tư tưởng chính trị khác nhau. Sự trao đổi hằng ngày giữa nhân viên với cấp trên, với đồng nghiệp, với cấp dưới khác có thể khác nhau tạo ra những hàng rào vô hình bên trong nội bộ của doanh nghiệp. Ngây cả chủ doanh nghiệp hay ban quản lý doanh nghiệp có những khẩu hiệu tốt, nhưng không có phương thức trao đổi hữu hiệu thì sẻ có nhiều hạn chế cho việc phát huy nguồn nhân lực bên trong. Các ý kiến tốt, sáng kiến có giá trị có thể sẻ ngủ yên mà không được khai thác cho ích lợi của doanh nghiệp. Thị trường mang tính cạnh tranh, do đó môi trường làm việc luôn cần nhiều ý kiến sáng tạo cho việc cải thiện sản phẩm, nâng cao chất lượng, giảm giá thành, hoàn thiện khâu phục vụ khách hàng.  Tuy nghiên có nhiều cơ quan chính phủ, nhân viên luôn giữ im lặng vì không muốn mất lòng cấp trên, do đó cán bộ lảnh đạo có các biện pháp khác nhau để khuyến khích mọi người đóng góp ý kiến để thực hiện các phương án kinh tế, phát triển xã hội, biên soạn các điều luật, chính sách có lợi cho xã hội, an ninh quốc gia. Còn doanh nghiệp phục vụ người tiêu dùng cần có sáng kiến, sáng tạo các ý tưởng mới từng nhân viên đả tạo ra các sản phẩm có giá trị tốt hơn và giá cạnh tranh hơn.

Nếu một cá nhân có ý kiến đóng góp giúp ích cho doanh nghiệp là tăng lợi nhuận hay cải thiện các khâu trong kinh doanh thì cấp trên cần khen thưởng thích hợp, nhưng củng đồng thời kiểm soát môi trường làm việc luôn có tính tích cực cùng nhau đóng góp, tuyệt đối hạn chế ảnh hưởng của quan niệm 'Trâu buộc ghéy trâu ăn' hay 'cào bằng' vì có nhiều nhân viên không có năng lực đề ra các ý kiến hay, do vậy khi thấy đồng nghiệp của mình giỏi hơn sẻ đâm ra ganh tị và tìm mọi cách gây trở ngại cho đồng nghiệp làm việc. Nhiều khi vu khống đồng nghiệp để cấp trên trù dập đồng nghiệp. Mỗi cá nhân luôn đặc lợi ích của doanh nghiệp lên trên lợi ích cá nhân, có như vậy thì tất cả mọi người sẻ nhận ra một chân lý 'Doanh nghiệp phát triển sẻ tạo ra cơ hội tồn tại lâu dài cho doanh nghiệp.'

Trong môi trường cùng nhau tiến bộ, nhân viên sẻ cố gắng hòa hợp vào môi trường để có cơ hội tồn tại lâu dài với nhiều ý nghĩa khác nhau. Chính vì vậy doanh nghiệp cần thiết lập môi trường làm việc và kinh doanh có những tác động tích cực đến nhân viên, cấp quản lý. Có những chính sách giúp cho nhà doanh nghiệp hay chủ tịch hội đồng quản trị trong việc thực hiện các chính sách kinh doanh có lợi theo kế hoạch kinh doanh lâu dài, mang tính tiêu cực cho doanh nghiệp trong thời gian dài. Nếu nhà doanh nghiệp và chủ tịch hội đồng quản trị tạo ra môi trường kinh doanh và làm việc luôn mang tính cầu tiến, cạnh tranh tiến bộ cho mục tiêu chung, thì doanh nghiệp không chỉ nâng cao nghiệp vụ làm việc, mà còn cải thiện mức thu nhập. Ngược lại, doanh nghiệp không chú trọng đến việc khuyến khích nhân viên đóng góp sáng kiến, thì về lâu dài, doanh nghiệp sẻ rò rỉ và thất thoát nguồn chất xám và tài năng trong doanh nghiệp. Có những tài năng sẻ bỏ doanh nghiệp đi làm cho các doanh nghiệp khác.

Chương trình huấn luyện nghiệp vụ và nắm bắc nội qui lao động mang tính bắt buộc cho từng nhân viên trong việc chấp hành các mệnh lệnh, hạn chế các hành vi tiêu cực gây phương hại cho hệ thống quản lý, và mối quan hệ nhân sự trong doanh nghiệp có thể gây ra mâu thuẩn trong nội bộ. Giá trị thiệt hại của các mối mâu thuẩn không tính ra được bằng tiền, do đó càng hạn chế mâu thuẩn trong nội bộ càng giúp doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận. Sư tự do hay năng động trong sáng kiến vẩn là điều khoảng đặc biệt trong quyền lợi và quyền hạn cho phép đối với những nhân viên có khả năng. Sự chống đối hay kích động của cá nhân hay tập thể sẻ bị hạn chế trong các giai đoạn kinh doanh ở mức độ thấp trong quá trình phát triển kinh tế và cạnh tranh thương mại. Khi kiến thức của nhân viên còn hạn chế thì ý thức củng sẻ hạn chế, do vậy doanh nghiệp sẻ áp dụng chính sách tự giác và tránh nhiệm dựa trên trình độ học vấn và mức lương của nhân viện. Khi trình độ học vấn được cải thiện trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn tạo môi trường học hỏi để động viên nhân viên nâng cao tay nghề, tinh thần trách nhiệm, kiến thức nghiệp vụ và quản lý. Thường các công ty thuê mướn nhân viên có trình độ kiến thức thấp sẻ có các biện pháp khen thưởng va kỷ luật khác với các công ty thuê mướn nhân viên có trình độ kiến thức cao. Đó là khiá cạnh tế nhị giữa hai khái niệm kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội cộng với ý thức tự giác cao tạo ra sự đồng bộ trong các liên kết kinh tế. Còn trường hợp phải dùng kỷ luật cao cùng với sự khen thưởng động viên hợp lý để kích thích công nhân trong các công xưỡng, nhà máy làm việc hiệu quả hơn và hệ thống hóa hơn.

Doanh nghiệp sẻ tạo ra sự cố gắng và vươn lên của nhân viên khi nhân viên nhận ra sự cố gắng của họ được đền bù xứng đáng qua mức lương, thăng cấp trong công việc, và các hổ trợ tài chính ưu đải khác giúp nhân viên có cuộc sống ổn định và hạnh phúc hơn. Doanh nghiệp có thể được xem là gia đình thứ hai của mọi thành viên. Nhân viên được động viên cho việc không ngừng cải thiện khả năng hoàn thành công việc của họ lẩn việc học hỏi trao dồi kiến thức trong môi trường làm việc và học hỏi. Tùy theo cơ cấu phát triển văn hóa và chính trị, mỗi doanh nghiệp sẻ chọn ra mô hình làm việc và kinh doanh riêng giúp cho doanh nghiệp có thể nuôi dưởng tài năng và khuyến kích tài năng phát triển.

Cán bộ quản lý tại cơ quan chính phủ, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài đều có cùng một quan niệm chung là khả năng khai thác thị trường Việt Nam dựa trên các yếu tố sau: (a) con người, (b) tài nguyên, (c) cơ hội trong và ngoài nước, (d) sự hổ trợ hay kết hợp đồng bộ giữa các tác nhân trong thị trường, (e) tiêu chuẩn quốc tế của vận hành và áp dụng các công nghệ khoa học kỷ thuật. Mà phần lớn mọi người luôn nói đến giá trị của vốn. Vì nó giúp cho nền kinh tế của Việt Nam thu hẹp về khả năng khai thác tài nguyên, con người, cơ hội để gia tăng giá trị của sản phẩm sau tốt hơn sản phẩm trước, hay lợi nhuận sau nhiều hơn lợi nhuận trước. Vậy vốn mang giá trị quan trọng đi kèm với khả năng tư duy của đội ngủ cán bộ lảnh đạo.

Hiện tại thị trường Việt Nam đang chuyển biến theo nhiều chiều hướng khác nhau do tác động của các nguyên tắc mà chính phủ đang cố gắng áp dụng nhằm tạo ra nhiều công việc, gia tăng nguồn đầu tư quốc tế, tăng ngân sách qua giá trị kinh tế xuất khẩu. Có nhiều cơ hội cho các bộ trong các cơ quan chính phủ tham gia kinh doanh trong các hoạt động kinh tế ớ mức thấp, trung và cao. Tùy theo khả năng phán đoán và phân tích, các doanh nghiệp có vốn của các bộ trong chính phủ sẻ đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc dân. Nhưng sự khác biệt giữa phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của trung ương đảng hay chính phủ và quản lý kinh tế thị trường do sự quản lý tuyệt đối của chính phủ là khả năng nhạy bén đối với sự điều tiết các nguồn thu chi ngân sách cho các ngành kinh tế. Tùy theo khả năng như vậy mà chính phủ có thể giúp lượng vốn, hổ trợ kỷ thuật, pháp lý, chuyên môn kịp thời cho một ngành kinh tế nào đó của quốc gia. Mà muốn được như vậy chính phủ phải có hay phương thức tạo ra nguồn thu ngân sách và chọn nguồn ra cho chi thích hợp. Đó là giá trị thích ứng linh hoạt thay đổi trong từng giai đoạn chính trị và kinh tế xã hội. Các giá trị chính trị mà cán bộ lảnh đạo trung ương có thể áp dựng cho viện quản lý nhân cách của mọi thành viên nắm các vị trí quan trọng. Bởi vì tư tưởng và hành vi luôn mang giá trị liên kết tác động lên các hoạt động kinh tế. Nền kinh tế có mức GDP là 104 tỉ USD sẻ khác với nền kinh tế có mức GDP là 900 tỉ GDP. Khi đó mọi quyết định không còn mang tính cảm tích đơn giản mà nó gắn liền với các suy luận logic, toán học thống kê, các loại toán kinh tế của lợi nhuận và rủi ro. Nhất là mọi thức có sự liên hệ với các thị trường quốc tế. Sự khác nhau giữa hai nền kinh tế trong việc chính phủ tham gia vào quản lý nền kinh tế ở mức động nào. Đó là điểm then chốt. Tiếp theo là khả năng của chính phủ trong việc điều phối tài nguyên ở qui mô lớn hơn, nó không còn là một thị trường thu hẹp, mà là một thị trường nối kết vớc các thị trường trên toàn thế giới. Một ngày nào đó, các sản phẩm với dòng chử ‘made-in-Vietnam’ sẻ đi đến mọi ngỏ ngách trên toàn cầu. Từ một người dân Nam Phi, một học sinh ở Mông Cổ, một nhân viên ở Bra-xin, một người bán hàng tại Hoa Kỳ, một doanh gia tại Nhật đều xử dụng đến chiếc máy chụp hình mang nhản hiệu Canon, nhưng được lấp ráp và nghiên cứu bởi các kỷ sư và công nhân Việt Nam. Hay một ngày nào đó, dòng chử Vinashi sẻ thấy ở nhiều nơi trên thế giới, khi các tàu buôn, tàu chở hàng, phà chở khách, du thuyềt, ca-nô được đóng và thiết kế tại các công xưởng và ụ tàu của công ty Vinashi. Làm sau điều đó có thể xãy ra trong vòng 5 năm hay 10 năm nửa?

Câu trả lời là sự đóng góp của toàn thể cán bộ lảnh đạo trong các cơ quan của chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân. Một chiếc tàu xuất xưởng cần có nhiều linh kiện, vật liệu, trình độ chuyên môn của các kỷ sư và các nhà cung cấp trong và ngoài nước. Một chiếc máy chụp hình kỷ thuật số củng cần những giá trị tương tự. Một công ty thành công luôn có sự đóng góp của nhiều công ty thành công khác.

Do đó nguồn vốn đang nằm yên một chổ là điều không nên, vì nền kinh tế Việt Nam cần nguồn vốn cho việc mở rộng kinh doanh. Cơ sở hạ tầng là điều sống còn cho nền kinh tế Việt Nam. Nó như là nền móng cho một cao tầng 100 được xây trên một khu đất trước đây là một con lạch nhỏ. Muốn cho cao tầng này đứng vững hơn 100 năm hay 200 năm, thì nhà thầu xây dựng sẻ kết hợp các yếu tố sau: gia cố nền móng có sức chịu lớn hơn 1.5 lần các khu đất bình thường. Có nghĩa là nó còn vững hơn là nền móng ở các vùng đất thổ cư khác. Làm hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, cung cấp nước sạch, bải đậu xe ngầm, các khu vực sinh hoạt và mua sắm cho khách hàng, nguồn điện và hệ thống thoát hiểm. Ngoài ra, giáo dục người dân ngụ tại cao tầng 100 hay khách hàng về các nội dung cần thiết cho việc bảo dưỡng và phòng chống các tệ nạn và hành vi xấu. Nhà vẻ kiểu sẻ kết hợp hài hoà của môi trường sống và tác động sinh thái cho ngôi nhà cao tầng 100 đến với khu vực lân cận. Các giá trị cơ bản này sẻ được áp dụng cho hầu hết các loại ngành kinh tế tại Việt Nam. Đó là điều mà mọi cán bộ đều nhận ra cho việc khuyến khích nền kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng từ 104 tỉ USD lên hơn 900 tỉ USD trong năm 2030.

Hổ trợ của chính phủ cho các doanh nghiệp, phát triển cơ sợ hạ tầng, thiết lập môi trường kinh doanh, luật pháp, luật đầu tư, luật sở hữu, luật lao động, luật kinh doanh để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước luôn nhằm vào mục tiêu chung là tăng khả năng sản xuất của thị trường Việt Nam thông qua việc gia tăng công ăn việc làm cho người lao động, Đồng thời điều phối các phương tiện cở sổ hạ tầng, lẩn kiến thức và nhu cầu tối thiểu cho đại đa số dân chúng trong việc phân bổ sự phát triển các ngành nghề kinh tế đồng bộ và hòa hợp. Chẳn hạng tạo ra các loại hình kinh doanh, sản xuất địa phương trong các vùng nông thôn mang tính phục vụ tiêu dùng cao, hạn chế sự di chuyển không hợp lý vào các khu đô thị lớn cho mục đích kiếm việc làm. Ngoài ra nhằm khắc phục sự trênh lệnh mức lương cho công nhân khu chế xuất tạo ra sản phẩm xuất khẩu, chính phủ cùng tư nhân xây dựng hệ thống nhà ở chung cư có giá trị xử dụng cao, nhưng mức thuê thấp hay có chương trình trả góp lâu dài. Nhất là các doanh nghiệp có thể ràng buộc hay giử tài năng làm việc cho doanh nghiệp trong thời gian dài.

Khai thác và bồi dương nhân viên là điều mà cán bộ quản lý luôn quan tâm bởi vì các thiết bị máy móc dù hiện đại và mắc tiền bao nhiêu, nếu không có người nhân viên giỏi thì củng không tạo ra sản phẩm tốt tiêu thụ được tại các thị trường mang tính cạnh tranh cao. Nghề thủ công có thể được nâng cao cho giá trị cao vì nó không sản xuất số lượng nhiều. Sản xuất hàng loạt cần chất lượng, giá thành thấp và các tiêu chuẩn đồng nhất giúp doanh nghiệp tồn tại lâu dài.

Các khu chế xuất ở Việt Nam sẻ có những chọn lựa nếu có sự tham gia của công ty nước ngoài bỏ vốn để xây dựng các thiết bị và cơ sở hạ tầng nhằm cung cấp các phương tiện cho hoạt động kinh doanh và sản xuất ở khu chế xuất thì họ sẻ nhận được sự ưu đải về giảm thuế hay miễn thuế trong thời hạn bao nhiêu năm, ngoài ra giá trị đất xử dụng cho các xí nghiệp kinh doanh sản xuất với thời hạn là bao lâu. Mục tiêu trước mắt của khu chế xuất là gia tăng mức độ sản xuất các loại sản phẩm tiêu thụ xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, và tạo ra các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ, và gia công cho các công ty nước ngoài năng trong khu chế xuất và các công ty nằm bên ngoài khu chế xuất. Khái niệm này củng mang cá giá trị trong quan hệ con người và con người. Khi nhận xét cho nguồn lợi nhuận và khả năng hợp tác lâu dài với đối tác, cán bộ quản lý sẻ cân đối và điều chỉnh các chính sách kinh doanh của mình. Đó là nết cơ bản của khai thác lợi nhuận ngắn hạn và lợi nhuận dài hạn. Nếu cán bộ quản lý tập trung nguồn vốn và nhân lực cho các dự án ngắn hạn thì có nhiều cơ hội sẻ mất đi cho các dự án dài hạn. Đồng thời củng mang nhiều rủi ro cho việc thua lổ. Đó là lý do tại sau các doanh nghiệp đang áp dụng đa dạng kinh doanh và sản xuất để hạn chế rủi ro thua lổ khi thị trường biến động và kiếm lợi ở các hạn mục có nhu cầu cao.

Sự gia tăng nguồn thu nhập của dân chúng sẻ tạo ra nguồn thu ngân sách cho chính phủ địa phương và trung ương trong các hoạt động mua sắm, buôn bán, sinh hoạt hằng ngày. Du lịch và phát triển kinh tế địa phương tạo ra nguồn ngân sách cung cấp lương cho bộ máy hành chính. Ngoài ra, hệ thống giáo dục địa phương luôn mở rộng giảng dạy những khái niệm: phát triển sản phẩm tiêu thụ, gia công sản phẩm tiêu thụ, khác thác tiềm năng cho kinh tế.  Sự phát triển luôn dựa trên sự đa dạng của các ngành kinh tế tạo ra công ăn việc làm cho thị trường địa phươn. Các sản phẩm cần đáp ứng yêu cầu của khách hàng là mục tiêu biến nông dân thành người lao động sản xuất dựa trên kiến thức, sáng kiến, khao học kỷ thuật và ứng dụng kinh tế. Việt Nam có thể giải quyết được các khó khăn của Trung Quốc trong việc giải quyết đời sống kinh tế, giáo dục, và nhu cầu giải trí ở vùng nông thôn bằng việc nối kết hệ thống thông tin kinh tế ứng dụng khoa học quốc gia giúp nông dân Việt Nam có khái niệm khai thác giá trị kinh tế của sáng kiến, say mê, nhiệt tình đều tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làng xóm, gia đình. Làm sao người nông dân có thể sống trên vùng đất của họ mà vẩn có thể đạt được các giá trị cao gần bằng với mức sống ở thành thị. ViệtNamcó thể đạt được mức tăng trưởng kinh tế mau hơn và hiệu quả hơn, nếu các ngành kinh tế và quản lý tạo được sự thu hút chất xám, tài năng trẻ trong thị trường. Các thế hệ trẻ sẻ chuyển đổi các giá trị tinh thần, sáng tạo, và khoa học kỷ thuật thành giá trị kinh tế và hàng hóa trao đổi. Bất kỳ trong lĩnh vực kinh tế nào cần có ba khái niệm – nâng cao chất lượng, nâng cao sản lượng, đa dạng sản phẩm – cho cả thị trường trong và ngoài nước. Các nhà nông Việt Nam có thể cung cấp sản phẩm cho nhiều thị trường khác nhau tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ, gia tăng mức sống của họ. Vốn, phương cách quản lý, công nghệ, thiết bị và các kiến thức sẻ giúp nhà nông Việt Nam đạt được mức sống gần băng hay cao hơn thành phố.

Trong phần này, các bố quản lý có thể nhận ra một khía cạnh mà mọi người công nhận là – giá trị kiến thức, giá trị quản lý, và giá trị khai thác tài nguyên, giá trị phối hợp, giá trị tôn trọng luật pháp - sẻ tạo ra một sức mạnh thần kỳ giúp các vùng trong lãnh thổ Việt Nam chọn ra cho mình một loại hình kinh tế phát triển đặc biệc và thuận lợi. Giống như Ấn Độ phát triển khả năng về công nghệ thông tin, trong khi đó Trung Quốc lại phát triển về kỷ nghệ gia công chế biến sản phẩm tiêu dụng và các loại máy móc cơ khi với các thương hiệu quốc tế và Trung Quốc. Vậy mỗi tỉnh của Việt Nam củng có thể chọn một ngành kinh tế mủi nhọn để phát triển chủ đạo trong giai đoạn 2011-2030.

Các nhà quán lý doanh nghiệp trẻ củng nhận ra các giá trị cho khái niệm giáo dục cơ sở từ học sinh lớp 9 đến lớp 12. Khi học sinh bắt đầu hấp thụ kiến thức và quan niệm về lợi nhuận, sáng tạo, chế tạo ra sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng. Học sinh sẻ bắt đầu tự tin vào năng lực, khả năng của mình trong việc tìm tòi, sáng taọ, biến kiến thức và ý tưởng của mình thành sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Mổi cá nhân có thể tạo ra thu nhập, tài sản, doanh thu cho mình cho dù là ở lứa tuổi nào. Học sinh, sinh viên sẻ dần dần quên đi quan niệm sự thăng tiến đều do mối quan hệ cá nhân, hay hối lộ mà có được. Khi quan niệm thành đạt và tiêu thụ trong xã hội thay đổi, con người sẻ có những động lực tích cực hơn trong việc phấn đấu vươn lên do chính tài năng và năng lực của mình. Cá nhân mổi người sẻ bị sự quản lý của luật pháp quản lý trước các hành vi mang tính đạo đức nghề nghiệp, kinh doanh, vô công chí tư, và quan niệm của tài sản do công sức mình làm ra sẻ giảm đi các tiêu cực trong xả hội.

Khi các thành viên trong xã hội có cơ hội làm giàu chính đáng, họ sẻ thật sự hiểu đúng nghĩa của giá trị lao động và giá trị hưởng thụ. Thành thị sẻ phát triển theo lợi thế và kế hoạch phát triển của thành thị; còn nông thôn sẻ phát huy các nguồn tài sàn tư nhiên được kết hợp với yếu tố con người tạo ra sản phẩm hay dịch vụ có thể trao đổi hay bán được. Nền kinh tế hoạt động theo khả năng thích ứng và cải tiến của từng doanh nghiệp. Mối quan hệ mang giá trị cảm tính có lợi thế ngắn hạn, nhưng về lâu về dài doanh nghiệp đó vẩn phải tồn tại với những giá trị cụ thể là quản lý doanh nghiệp để giá thành hạ và chất lượng đảm bảo. Nền kinh tế của quốc gia cần có cán cân buôn bán là dương, hay nói cách khác là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Hiện tại thị trường của Việt Nam nên khuyến khích các giá trị tiết kiệm, mà cán bộ quản lý là người có tác động đi trước, nhằm dùng số vốn ngoại tệ cho các hoạt động kinh doanh sản xuất cho xuất khẩu tạo ra thặng dư mậu dịch giúp cho nền kinh tế của Việt Nam có tiền đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng.

Các nhà doanh nghiệp trẻ củng nên có một cánh nhìn mới về các khái niệm vật chất, quan hệ cá nhân và quyền lợi được xác định dựa trên giá trị ngắn hạn và giá trị dài hạn, các thành viên tham giam vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẻ biết khai thác triệt để tiềm năng gia tăng các giá trị kinh tế cho doanh nghiệp. Giá trị ngắn hạn luôn hạn chế sự phát triển và mở rộng của giá trị dài hạn. Mà một doanh nghiệp cần giá trị dài hạn hơn là ngắn hạn. Tùy theo sự nhận xét cho việc phát triển nền kinh tế hoạt động hiệu quản, mà chính phủ sẻ áp dụng các biện pháp quản lý kinh tế như thế nào: cạnh tranh công khai cho các hạng mục đấu thầu, tuyển dụng nhân tài qua các cuộc hạch tuyển cho các vị trí quản lý, bồi dưỡng nhân tài trong các chương trình huấn luyện hay tu nghiệp trong và ngoài nước. Như cho chiều sâu của chất lượng mà nền kinh tế tạo ra từ các địa phương, doanh nghiệp nên khuyến khích tuyển chọn nhân tài công khai. Cho chiều rộng của nền kinh tế của địa phương, doanh nghiệp sẻ thảo luận công khai và phối hợp với đối tác cho các dự án kinh tế, phát triển an sinh xã hội trong khu vực. Có như vậy, các doanh nghiệp mới có nhiều cơ hội khác thác tiềm năng kinh tế cả chiều rộng và chiều sâu cho lợi ích lâu dài và ngắn hạn. Khả năng chuyên môn của mỗi doanh nghiệp có hạn, do đó họ cần liên kết cho kế hoạch phát triển trên các giá trị khác nhau. Ví dụ một công ty chuyên sản xuất chương trình lập trình ứng dụng kế toán và quản lý vật tư cho thị trường nước ngoài, có thể liên kết với các ngân hàng quốc tế nhằm gia tăng mức tiêu thụ sản phẩm của mình. Hay nhờ các công ty mậu dịch và quảng cáo để thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Có nghỉa mối quan hệ hợp tác luôn nối liền một sản phẩm dịch vụ này với sản phẩm dịch vụ khác nhằm tăng tính hiệu quả cho mức tiêu thụ của cả hai sản phẩm tại nhiều thị trường khác nhau.


Khả Năng Thích Nghi Trong Môi Trường Làm Việt trong Công Ty Nước Ngoài
“Sự thích nghi của một nhân viên trong môi trường làm việc sẻ là chìa khóa mở ra cánh cửa mới của một tương lai chưa biết tới.”
*****

Doanh nghiệp nước ngoài có những yêu cầu và tiêu chuẩn tuyển dụng nhân viên khác với doanh nghiệp trong nước. Do môi trường kinh doanh, những doanh nghiệp hoạt động theo cơ cấu quản lý khác nhau. Nhất là khả năng ứng biến khi thị trường thay đổi, chẳn hạn nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi làm cho doanh nghiệp phải thu nhỏ hay chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác. Đó chính là khả năng nhạy bén của một doanh nghiệp biết cách thay đổi các kế hoạch sản xuất phù hợp với từng thay đổi của thị trường trong và ngoài nước.

Thái độ làm việc của nhân viên trong môi trường làm việc ở công ty nước ngoài là hiệu quả và năng xuất của mỗi nhân viên. Đồng thời nhân viên có kinh nghiệm sẻ trao dồi giúp đỡ nhân viên thiếu kinh nghiệm. Sự hợp tác trong công việc và trao đổi kinh nghiệm luôn được khuyến khích bởi các các bộ quản lý, vì họ tin tưởng vào sự cải thiện, tiến bộ, tự học hỏi của nhân viên là điều tự nhiên. Nhân viên làm việc cho năng xuất và trách nhiệm. Tâm lý của nhân viên là làm việc hết giờ rồi đi về là thái độ không trách nhiệm, bởi vị họ lảnh lương để hoàn thành công việc, chứ không phải là đến công ty đúng giờ rồi về đúng giờ là xong nhiệm vu. Tinh thần trách nhiệm cao cho từng cá nhân trong việc cống hiến công sức cho công ty để đạt được mục tiêu lâu dài là lợi nhuận, mở rộng thị trường, tạo uy tín cho khách hàng.

Môi trường làm việc và những yêu cầu kết quả của công việc của doanh nghiệp nước ngoài đối với nhân viên cao hơn là các doanh nghiệp nội địa. Điểm khác biệt là quan niệm về giá trị lao động, giá trị xử dụng, giá trị khai thác, và giá trị tận dụng và tái tạo. Khi các quan niệm hiệu quả, hiệu suất và kết quả của quá trình kinh doanh luôn đòi hỏi các nhân viên làm việc nhiệt tình, say mê, và có trách nhiệm hơn. Nhưng nếu họ hiểu sự khác biệt của giá trị kinh tế trong các mối quan hệ thuê mướn, lương bồng, phạt thưởng, bồi dưởng nghiệp vụ thì họ sẻ hiểu tại sao doanh nghiệp nước ngoài đòi hỏi nhiều hơn ở nhân viên so với doanh nghiệp trong nước. Có lẻ mọi người sẻ nhận ra một điều là doanh nghiệp trong nước quan niệm là họ không có khả năng mở rộng thị trường ra nước ngoài, nên khả năng lợi nhuận bị hạn chế, đồng thời củng hạn chế các ngân sách hổ trợ cho việc bồi dưởng và nâng cao nghiệp vụ của nhân viên. Vậy doanh nghiệp nước ngoài khởi đầu ở đâu và làm sao có thể vượt ra khỏi biên giới của quốc gia và phục vụ các thị trường khắp nơi trên thế giới. Đó là khái niệm phiêu lưu, mạo hiểm, tìm tòi, và cầu tiến giúp các công ty đa quốc gia mở rộng ra thị trường nước ngoài.

Nhân viên làm việc cho một công ty nước ngoài sẻ nhận ra quá trình làm việc của họ là một con đường phấn đấu và nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho một cá nhân tồn tại
Có nhiều khái niệm an ninh, bí mật thương nghiệp, giờ giấc làm việc, thái độ làm việc, giúp đở công việc và hợp tác với các đồng nghiệp. Những thích nghi như vậy luôn do các chương trình huấn luyện đào tạo sau khi được tuyển dụng. Nhân viên còn tiếp tục việc trao dồi học hỏi trong quá trình làm việc để nâng cao nghiệp vụ. Bằng cấp là sự xác nhận căn bản cho quá trình tích lủy kiến thức lý thuyết cần thiết cho nhân viên xử lý các thao tác và chức năng trong công việc. Nhưng các trường đại học vẩn cập nhật các thông tin và các trường hợp phân tích để giúp sinh viên xử lý các tình huống mô phỏng trong các trường hợp nếu sinh viên đặc mình vào các vai trò của người tham gia trong các trường hợp thực tế mà các doanh nghiệp thường gặp phải, rồi so sánh kết quả xử lý công việc trong các quyết định cụ thể của mỗi sinh viên hay nhóm trong các tình huống đó. Đó chính là lý do sinh viên có thể tiếp thu kiến thức và hình dung ra làm sao kiến thức đó có thể được áp dụng vào thực tế.

Ngoài ra các đại học thường mời các chuyên gia hay thành viên trong chính phủ để nói chuyện hội thảo với sinh viên, giúp sinh viên có cơ hội tiếp thu các kiến thức mới trong cuộc sống khi các kiến thức trong sách giáo khoa không còn thực tế hay lổi thời với môi trường kinh doanh mới. Nhưng một đặt tính quan trọng của kinh tế thị trường có thể giúp sinh viên Việt Nam thành công trong tương lai là sự quan sát, đưa đến các phân tích cho các nhu cầu trên thị trường, giúp họ nghĩ ra các sáng kiến, phát minh phục vụ thị trường. Sáng kiến, phát minh cần vốn và kỷ thuật để nhân bản lên số lượng nhằm phục vụ số lượng lớn nhu cầu người tiêu dùng, khách hàng trên thị trường. Kế tiếp là quảng cáo, phân phối, và phục vụ khách hàng qua các ý kiến khen che để cải tiến, nâng cao chất lượng. Tương lai ở trong tay của họ, khi họ hội đủ các yếu tố: sáng kiến tạo ra sản phẩm, vốn để sản xuất sản phẩm, quảng cáo và vận chuyển sản phẩm đến người tiêu dùng, nâng cao chất lượng thông qua tiếp nhận ý kiến khách hàng, cuối cùng là chọn lựa chu kỳ cho việc nhân bản tùy theo nhu cầu của thị trường.

Tùy theo mỗi doanh nghiệp nước ngoài hay trong nước, mà có chương trình đào tạo nội bộ giúp cho đội ngủ nhân viên luôn có kiến thức cập nhật phù hợp với môi trường kinh doanh, sản xuất cho các nhu cầu của khách hàng và nhu cầu của nhiều loại thị trường trên thế giới. Không thể lơ là khái niệm đào tạo đội ngủ nhân viên để tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, theo khu vực và theo các dự án riêng. Sự so sánh giữa hai môi trường làm việc củng giúp cho doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh trong việc thu hút nhân tài, bồi dưỡng nhân tài trong thời gian dài.


Đáp Ứng Yêu Cầu của Doanh Nghiệp Nước Ngoài
“Mối quan hệ lâu dài giửa người làm công và doanh nghiệp thuê mướn là một mối quan hệ qua lại thay đổi theo giá trị tạo ra của cải cho doanh nghiệp và thị vượng cho xã hội.”
*****

Doanh nghiệp nước ngoài có phương thức kinh doanh và hoạt đông quản lý khác nhau. Chính vì vậy họ có những đòi hỏi, yêu cầu khác nhau. Trong kinh doanh, tiếp xúc trong các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp và đối tác trong nước càng có nhiều thuận lợi khi nắm bắt được như yêu cầu của doanh nghiệp nước ngoài cho việc phát triển những mối làm ăn lâu dài. Sự đầu tư về thời gian, tiền bạc, nhân sự cho việc thiết lập quan hệ với doanh nghiệp nước ngoài.

Về cơ bản doanh nghiệp nước ngoài cần nhân viên có khả năng giao tiếp, nói, đọc hiểu, nghe tiếng Nhật, Anh hay các ngoại ngữ khác. Bên cạnh đó là nghiệp vụ cho việt hoàn thành các đề mục trong công việc được giao. Sự khác biệt giữa hoàn thành công việc và kinh nghiệm rút ra từ quá trình làm việc cho các cải tiến hay rút ngắn thời gian, tiết kiệm nguyên vật liệu là điều luôn được khuyến khích một cách tích cực. Doanh nghiệp nước ngoài đòi hỏi nhân viên có những kiến thức về luật pháp tối thiểu trong môi trường làm việc nhờ vậy nhân viên dể dàng tránh khỏi các mâu thuẩn và trường hợp hiểu làm trong quan hệ giữa người và người. Tuyệt đối bảo mật các nội dung, tài liệu, kế hoạch trong công ty. Nhất là tránh việc đem chuyện công ty thảo luận với các thành viên trong gia đình hay bạn bè. Nhân viên nên tập thói quen là khi rời khỏi công sở là quên hết mọi chuyện, và không nên đề cập đến chuyện gì đang xảy ra ở công ty. Có những nội dung kinh doanh sẻ bị tiết lộ ra bên ngoài rơi vào tay các doanh nghiệp đối thủ sẻ gây nguy hại đến doanh nghiệp của mình đang làm việc. Càc tài liệu, máy tính nên luôn được quản lý chặc chẻ cho việc xử dụng và truy cập. Không bao giờ để người khác có thể lợi dụng và xử dụng các tài nguyên hay dử liệu nếu không được sự cho phép của cấp quản lý hay lành đạo.

Doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư vào thị trường ViệtNamvới nhiều lý do. Nếu nhân viên hay sinh viên tốt nghiệp nắm bắt được các nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp nước ngoài, sinh viên và nhân viên sẻ chuẩn bị kỷ càng hơn trong các bước làm hồ sơ xin việc làm, trả lời câu hỏi phỏng vấn, và nguyên vọng cho công việc và giá trị đóng góp cho công ty. Có những sai biệt khi nhân viên hay sinh viên vừa mới ra trường hiểu sai đi khi chỉ tập trung vào hoàn thành xong công việc được giao là hết trách nhiệm, còn các chuyện khác không cần quan tâm. Nhưng một doanh nghiệp vận hành giống như là một gia đình, trong đó mỗi nhân viên sẻ tác động qua lại với nhau trong vòng tròn khép kín. Nếu một nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ sẻ ảnh hưởng đến các khâu khác ,cuối cùng tạo ra những ảnh hưởng không tốt cho kết quả cuối cùng là doanh thu và uy tín của doanh nghiệp. Do vậy nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài có thể trực tiếp hỏi ý kiến cấp trên cho việc hổ trợ và giúp đỡ lẩn nhau trong công việc. Nếu môi trường tiếp xúc trong giao tiếp có những hiện tiêu cực thì tốt nhất là nhân viên đó thảo luận với cấp trên của mình. Vì luật pháp ở các quốc gia quản lý những công ty nước ngoài vẩn thường áp dụng các luật pháp ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực trong quản lý kinh tế và hợp tác kinh doanh.

Ngoài ra, khi xả hội vẩn còn hiện tượng 'phép vua thua lệ làng' luôn gây ra những xáo trộn cho xã hội về lâu về dài. Khi doanh nghiệp hoạt động trong các vùng nông thôn hay tỉnh thành luôn bị chi phối các giá trị hành chính địa phưong, doanh nghiệp luôn tìm cách để dung hoà phưong thức ngoại giao cho các thủ tục hành chính với các cơ quan chức năng. Cơ quan chức năng ở các cấp từ trung ương, thành phố, tỉnh, huyện, phường xả nếu nhận ra sự giải quyết các thủ tục cho doanh nghiệp trong nước và nước ngoài là nghĩa vụ đóng góp cho sự thành công của nền kinh tế thị trường. Đó là mối quan hệ lâu dài. Càng có nhiều doanh nghiệp thành công tại địa phương, công ăn việc làm sẻ gia tăng, thu nhập của người dân được cải thiện, nguồn ngân sách thuế của chính quyền địa phương củng được gia tăng theo tỉ lệ thuận với mức sống của người dân. Như vậy doanh nghiệp trong nước củng sẻ tạo ra các tiêu chuẩn có sức cạnh tranh cao trong việc tuyển dụng nhân tài theo trình độ và mức lương phù hợp với giá trị sản phẩm bỏ ra. Khi mức doanh thu của doanh nghiệp gia tăng thì điều đương nhiên kéo theo là gia tăng thu nhập cho nhân viên. Nhưng các nhân viên đóng góp nhiều cho sự thành công của doanh nghiệp sẻ có mức khen thưởng phù hợp, nhằm động viên họ làm việc hăng say và có nhiều ý tưởng sáng tạo hơn trong tương lai.


Làm Việc và Khái Niệm Học Hỏi
“Say mê và trách nhiệm bước đầu thay đổi thái độ làm việc mang tính hiệu quả và tương trợ cao. Đồng thời giá trị cải thiện luôn giúp con người tồn tại trong môi trường luôn thay đổi theo cấp số nhân.”
*****

Làm việc là một hợp đồng trao đổi giửa người làm việc và người thuê mướn với mức bù lổ tài chính gọi là lương hàng tháng, củng như các khoảng trợ cấp khác nhau. Nếu giữa hai phía không có sự thỏa thuận hợp lý, thì mối quan hệ này sẻ bị bẻ gẩy hay sẻ nẩy sinh các yếu tố tiêu cực gây ra những hậu quả thiệt hại cho hoạt động kinh doanh và sản xuất.

Ngoài ra quá trình làm việc là môi trường học hỏi của mỗi người khi chấp nhận hợp đồng làm việc. Những kiến thức trong trường học và làm việc được nâng cấp và cải thiện. Nếu không học hỏi và cải thiện cùng những hoạt động trao đổi trong làm việc sẻ giúp cả một tập thể tiến bộ. Nếu một người giỏi thì tập thể hay cả nhóm có thể học hỏi và tiến bộ. Sự hiệu quả của làm việc trong môi trường của doanh nghiệp nước ngoài luôn đòi hỏi tính tự giác cao, thái độ làm việc nghiêm chỉnh, giá trí làm việc dựa trên tính chính xác tuyệt đối, kết quả làm việc và thời gian nghỉ ngơi trong một ngày làm việc. Nếu nhân viên có khái niệm giá trị lợi nhuận dựa trên giá trị xử dụng nguồn tài nguyên lao động, vật tư, vốn, khoa học kỳ thuật thì mỗi một khâu trong quá trình sản xuất đều tạo ra giá trị cho sản phẩm cuối cùng được tạo ra phục vụ người tiêu dùng. Nếu nhân viên đi làm trể thì con số 100 người đi làm trể sẻ ảnh hưởng đến kết quả kinh tế của doanh nghiệp. Một dây chuyền sản xuất nếu bị đình trệ tại một khâu sẻ kéo theo sự đình trệ trên toàn bộ khâu dây truyền sản xuất.

Nhân viên hay yếu tố con người là tài sản của doanh nghiệp. Củng như các tài nguyên tài chính, máy móc, quản cáo, mẫu mả, yếu tố con ngươì tạo ra tính cạnh tranh mạnh nhất khi hai doanh nghiệp có những tương đương về hệ thống sản xuất và kinh doanh. Nếu nhân viên vào làm việc mang tâm trạng hôm nay tôi chỉ cần hoàn thành công việc mà tôi được giao thì là việc làm mà tôi nên theo đuổi ở một công ty nước ngoài, thì về lâu về dài sự giảm sút của công ty sẻ ảnh hưởng lang rộng ra các bộ phận khác trong công ty. Khái niệm tự thỏa mản hay ỷ lại là điều tối kỵ cho một công ty, do đó các nhân viên được thuê mướn luôn có khái niệm đóng góp các sáng kiến, bảo vệ tài sản, gia tăng chất lượng, mẫu mã của sản phẩm giúp công ty phát triển trên thị trường. Ví dụ hảng sản xuất xe gắn máy Honda có nhà máy tại Thái Lan, Việt Nam, và các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Giá trị lợi nhuận mà hảng Honda có thể đạt được là uy tín mà các sản phẩm của Honda từ các nhà máy này đối với khác hàng. Nếu khách hàng mua xe gắn máy được sản xuất tại Thái Lan có mẫu mã và chất lượng tốt hơn các loại sản xuất tại ViệtNam, nhưng giá cả cao hơn một chút. Người tiêu dùng sẻ chọn lựa việc mua sản phẩm sản xuất tại ViệtNamcó giá rẽ hơn, hay mua sản phẩm sản xuất tại Thái Lan có giá cả mắc hơn một chút. Các nhân viên ViệtNamcó thể không tự hỏi lý do gì mà sản phẩm tại Thái Lan có chất lượng cao hơn sản phẩm tại ViệtNam. Nếu các công ty gia công phụ tùng hay nhà phân phối phụ tùng cho các sản phẩm xe gắn máy Honda sản xuất tại Việt Nam có chất lượng tốt và an toàn, thì sẻ đảm bảo cho các sản phẩm xe gắn máy của Honda sản xuất tại Việt Nam có thể bán ra các thị trường trên thế giới.

Các quốc gia ởChâu Phi,NamMỹ, Châu Âu và Châu Á có nhu cầu cho xe gắn máy cao, hay các loại xe scooter (tay ga không cần đạp số). Nhưng các kỷ sư cơ khí, thiết kế mẫu mã của Việt Nam có đảm bảo là sẻ đóng góp vào công đoạn cải tiến, thiết kể mẫu mã, giảm giá thành cho sản phẩm tiêu thụ tại thị trường trong và ngoài nước. Nếu nhìn vào các mối hàn và nước sơn, độ tinh vi, sắc xảo của các sản phẩm ở thị trường cao cấp, chất lượng luôn là yêu cầu đầu tiên mà khách hàng chọn sản phẩm mà tiêu thụ. Trong khi đó các các thị trường có mức yêu cầu chất lượng thấp hơn, sẻ chú trọng đến giá cả hay chất lượng tương đối cho sản phẩm mà họ cần xử dụng. Các công ty xe gắn máy của Trung Quốc đả gia tăng việc sản xuất các loại sản phẩm xe gắn máy có giá thành rẻ thu hút nhu cầu của các khách hàng có thu nhập thấp.

Tùy theo môi trường văn hóa và chính trị của mỗi doanh nghiệp, mà các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho cấp dưới học hỏi và nâng cao tay nghề trong các khâu kinh doanh, nghiên cưú, sản xuất, tiếp thụ, phục vụ khách hàng. Các giám đốc, trưởng phòng sẻ luôn chuẩn bị nguồn tài năng có thể thay thế mình khi mình thăng chuyển sang nhiệm vụ mới. Nhất là giám đốc nhân sự luôn có sẳn tên các ứng cử viên cho các vị trí quan trọng. Khi công ty cần các tài năng thay thế các vị trí quan trọng. Ngoài ra nhân viên lôn được giáo dục và đào tạo các khái niệm cở bản của ba giá trị: giá trị lao động, giá trị trao đổi, giá trị tương đối, thì mọi thành viên trong doanh nghiệp hay cơ quan chức năng  luôn tự học hỏi nâng cao kiến thức, tính tôn trọng đồng nghiệp, khách hàng, giúp đở nhau tương trợ, công nhận các giá trị mà đồng nghiệp mình đả hoàn thành. Nhân viên tuyệt đối không có quan niệm 'trâu buộc ghét trâu ăn' hay thói quen chê bai người khác trong khi bản thân không bao giờ phấn đấu và học hỏi. Nếu người lảnh đạo phát hiện có những nhân viên như vậy thì nên có biện pháp là cảnh cáo nội bộ hay cho thôi việc tránh ảnh hưởng đến các đồng nghiệp khác, đồng thời luôn nhắc nhở mọi người biết tương trợ cho nhau trong công việc. Thà loại bỏ một người xấu, còn hơn để nó ảnh hưởng đến cả một tập thể của công ty. Khái niệm muốn kiếm lợi mà tốn ích sức lực nhất thường mang giá trị tiêu cực theo nghĩa luồn lách cho đạt được mục tiêu, nhưng thực chất không tạo ra giá trị kinh tế. Nếu doanh nghiệp hoạt động trên thị trường đa quốc gia, những quan niệm trở nên lạc hậu và không còn có giá trị lâu dài. Các sản phẩm, dịch vụ luôn cần sự đóng góp nhiệt tình mà tất cả mọi thành viên nên quan tâm. Phần thưởng mà cá nhân có thể đạt được là tiền lời sẻ được chi cho mọi thành viên trong doanh nghiệp. Đó là động lực thiết thực để động viên và khuyến khích mọi người cùng làm việc và gia tăng giá trị sáng tạo. Tùy mỗi doanh nghiệp tạo ra một phương thức khen thưởng hiệu quả tác động lên nhân viên của mình.


Lao Động Luôn Mang Giá Trị Nhân Bản
“Lao động có nghĩa là tự hào và khẳng định, khi người làm việc nhận ra giá trị nhân bản của bản thân gắn liền với giá trị nhân bản của các bạn đồng nghiệp và khách hàng.”
*****

Nếu trong làm việc hay kinh doanh mà không tồn tại giá trị nhân bản, có nghĩa mối quan hệ giửa con người và con người sẻ bị bẻ gẩy dể dàng khi mối quan hệ lợi nhuận và quyền lợi bị thay đổi hay bị ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Giá trị nhân bản tạo ra sự quan tâm về môi trường xung quanh đồng thời với các mối quan tâm về tài chính và lợi nhuận. Sự điều hoà của những mối quan hệ kinh doanh luôn dựa trên quan hệ nhân bản, vì quan hệ lợi nhuận là những con số nếu thỏa mãn được các phía. Trong những tình huống khó khăn, nếu một bên không đáp ứng được bên kia, bên không nhận được sự yêu cầu sẻ áp dụng biện pháp xử lý theo hợp đồng. Nhưng thật chất đó chưa phải là giải pháp tốt, bởi vì có những mối quan hệ mang giá trị nhân bản hay lòng tin và sự thông cảm đem lại giá trị lâu dài hơn là áp dụng các biện pháp của pháp luật. Thực tế cho thấy nhiều đối tác đả thông cảm nhau cùng vượt qua các giai đoạn khó khăn cho mục tiêu là lợi nhuận lâu dài. Sau đó họ mới nhận ra là mỗi đối tác có thể hy sinh chia sẻ để đạt lợi nhuận lâu dài.

Nhân viên làm việc và giúp đở nhau cùng tiến bộ sẻ tiết kiệm rất nhiều cho doanh nghiệp trong việc đào tạo và nâng tay nghề nhân viên. Nếu môi trường làm việc giống như chiến trường luôn mang tính đố kị, ganh đua, ghen ghét, chỉ trích, mất đoàn kết, thì không sớm thị muộn doanh nghiệp sẻ gặp khó khăn trong việc tạo ra sản phẩm cạnh tranh trên thị trường với hiệu xuất lao động và hiệu quả của vốn đầu tư cao nhất. Và doanh nghiệp sẻ không bao giờ tạo ra sản phẩm ưu việc với giá thành rẻ nhất. Nhất là bên trong nội bộ luôn có sự phá hoại, gây rối với nhau của các nhóm chia rẻ vì lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích của cả doanh nghiệp.

Sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có kinh nghiệm, và các nhân viên đả có kinh nghiệm khi làm việc ở các công ty khác luôn có những khái niệm khác nhau về giá trị lao động. Có thể lợi ích đi kèm với vị trí công tác hay công việc dể ảnh hưởng đến quyết định có tính chủ quan hơn là khách quan. Trong môi trường kinh tế thị trường và các ưu đải về quyền hạn của các cán bộ có thể ảnh hưởng việc quyết định cho việc thực hiện các giá trị đạo đức trong kinh doanh, đạo đức trong quản lý, đạo đức trong trách nhiệm. Giá trị lao động mang tính nhân bản khi người tham gia trong quá trình lao động nhận ra các tác nhân tác tạo ra kết quả luôn mang tính nhân bản có nghĩa một người hưởng lợi ích, thì củng cần chia sẻ lợi ích với người khác. Các trường hợp tiêu cực là một căn bệnh tâm lý về lợi nhuận và hiệu quả. Nếu hiệu quả là thời gian thì các hiện tượng tiêu cực sẻ lưu tồn tại, vì mọi người cảm thấy cơ hội sẻ không còn nửa nếu mình không khai thác lợi nhuận theo mặc tiêu cực ngây bây giờ. Nếu một cá nhân nhận ra khả năng lợi nhuận là vô hạn không lệ thuộc vào thời gian, thì bản thân người đó sẻ nhận ra mọi thức có thể đạt được trong bất cứ tình huống nào. Đó là phần cơ bản khác nhau giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Tính nhân bản còn thể hiện qua việc xử dụng công quỉ, lương bổng, tiền viện trợ, xét duyệt các đề án, công trình, đều thể hiện quan niệm của giá trị lao động đi kèm với giá trị nhân bản.

Ví dụ một tài năng bỏ công sức ra thiết kế một một công trình xây dựng khu dân cư có lợi ích cho thành phố và môi trường sinh thái, bời vì cư dân sẻ có điều kiện sống tốt đẹp hơn, làm việc hiệu quả hơn, con cái sinh ra sẻ có điều kiện phát triển tâm sinh lý tốt đẹp hơn. Khi người dân có điều kiện sống được cải thiện điều tất nhiên là họ có khả năng nuôi nấng con cái củng như làm việc có hiệu quả hơn, tạo ra nhiều của cải cho xã hội dưới hình thức là thu nhập tăng lên. Như đơn vị chủ quản xét duyệt công trính không quan tâm đến chuyên đó, mà quan tâm họ được lợi gì khi ký duyệt công trính. Và đối với nhà thi công, họ cùng yêu cầu nhiều thứ chi phí không liên quan đến lợi ích việc thi công. Các khoảng chi phí và thủ tục hành chánh trong suốt quá trình xây dựng công trình sẻ tạo những chi phí phụ trội lẩn các khó khăn khác cho việc hoàn thành thi công. Có nghĩa đơn vị xét duyệt công trình xây dựng đả không làm việc theo khái niệm gắn liền giá trị lao động với giá trị nhân bản. Bởi vị giá trị nhân bản là tạo ra khả năng hoàn thành công trình cho đúng kiệp thời hạn, giúp cho cư dân mau di dời và chuyển đổi đến cư ngụ nơi cư trú mới. Hiệu xuất thi công, xây dựng và đưa công trình vào xử dụng là các bước cần thiết giúp cho xả hội phát triển.

Khi nước ngoài viện trợ cho các công trình phúc lợi cho xã hội, nếu thật sự 100% vốn được xử dụng rỏ ràng hợp lý, có nghĩa ban quản lý tiền viện trợ đả nhận ra giá trị lao động và giá trị nhân bản đi liền với nhau. Nếu vì lý do cá nhân lạm dụng quyền hạn để xử dụng nguồn tiền viện trợ cho mục đích khác, thì các nhà chức trách quản lý đả tạo ra những tác hại cho nền kinh tế quốc dân về lâu dài. Có lẻ ít ai nhận ra giá trị lao động đi kèm với giá trị nhân bản. Chử nhân bản được giải thích theo ý nghĩa xã hội bao gồm cộng đồng con người. Nước ngoài cung cấp viện trợ có những mục đích khác nhau. Trong khi đó các dự án do nguồn viện trợ sẻ giúp kích thích sự phát triển của xã hội như là trường học thì tạo ra môi trường đào tạo con người. Bệnh viện giúp bệnh nhân điều trị bệnh, nguồn lao động khỏe mạnh làm việc tạo ra của cải cho xã hội. Trung tâm nghiên cứu tạo ra nơi đào tạo nhân tài và nâng cao nghiệp vụ cho các tài năng, đồng thời các kết quả giúp các nghành kinh tế phát triển như công nghệ thông tin, công nghiệp xe hơi, đóng tàu, các vật dụng điện tử cho người tiêu dùng. Do đó các hạng mục xây dựng và phát triển này luôn cần sự hổ trở của chính phủ tuyệt đối. Nền kinh tế hoạt động cần có một môi trường kinh doanh hoàn thiện mà nó bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng, luật pháp, giá trị lao động cho việc khen thưởng, giá thành cho việc cạnh tranh, thuế cho việc tạo ra thu nhập và đóng góp hợp lý cho xã hội, và giá trị nhân bản của con người. Sự công bằng trong khai thưởng ở doanh nghiệp là điều cần thiết để quản lý nguồn lao động và nhân tài tại doanh nghiệp đó.

Công ty nước ngoài yêu cầu nhân viên của mình làm việc có trách nhiệm, có sáng kiến đóng góp, biết tôn trọng đồng nghiệp và cấp trên, biết trao đổi các vấn đề kỷ thuật và công việc theo các phương thức cho phép của ban quản lý của công ty. Khả năng của một công ty tạo ra lợi nhuận khi các sản phẩm có thể tiêu thụ trên thị trường với mức độ hài lòng cao từ khách hàng. Nếu các sản phẩm xe gắn máy, đồ điện tử, thiết bị công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng của các hảng Nhật Bản tại khu công nghiệp thảo mản các nhu cầu cao tại thị trường Việt Nam và quốc tế, thị các công ty Nhật Bản mới có dự án mở rộng công xuất sản xuất cho nhu cầu cao hơn. Nhưng thị trường lao động của Việt Nam có lẻ sẻ cần được nâng cấp cho nguồn thuê mướn khác nhau cho các công ty Nhật Bản, Hoa Kỳ và nước ngoài. Nếu các sản phẩm điện thoại di động, máy vi tính, đồ điện tử, quần áo cao cấp, mỹ phẩm, dược phẩm thuốc lá của các hảng Nhật Bản tin tưởng vào khả năng sáng tạo, thiết kế các sản phẩm có chức năng hiện đại, và giá cả cạnh tranh, thì họ sẻ yên tâm bỏ vốn ra xây dựng các nhà máy tại thị trường Việt Nam. Các loại máy nghe nhạc mp3, điện thoại đi động, máy tín xách tay mini, và các loại truyền hình phẳng, thiết bị giải trí chất lượng cao, xe hơi có tính năng ưu việc và giá thành dưới 11 ngàn USD là sự ưu thế của thị trường Việt Nam, nếu các kỷ sư cơ khí của Việt Nam có sự cải tiếng vế thiết kế và xử dụng nguyên vật liệu để cạnh tranh với các công ty xe hơi của Ấn Độ và Trung Quốc trên phương diện giá thành, kỷ thuật và thiết kế mẫu mã.

Hiện tại hệ thống giáo dục của Việt Nam vẩn chưa hoạt động ở tầng số cạnh tranh toàn cầu. Khái niệm kinh tế thị trường ở Việt Nam còn bị hạn chế theo các giá trị sau:

(a)    Không gắn liền nguồn chất xám vào tiêu chuẩn quốc tế hay khu vực
(b)   Giá trị kinh tế của một lao động là người làm thuê hay nhân viên cho việc đóng góp cho một doanh nghiệp
(c)    Doanh nghiệp và khả năng tạo ra lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường. Sự cạnh tranh và chất lượng và số lượng sẻ quyết định mức lương cho một nhân viên mà doanh nghiệp đồng ý chi trả theo giá trị thị trường

Một tài xế ta-xi có thể gia tăng thu nhập của mình bằng nhiều phương thức, nhưng anh ta nên chọn phương thức tốt nhất là thái độ lịch sự, niềm nở, khả năng cung cấp thông tin cần thiết cho khách hàng và các giá trị phục vụ. Khách hàng là thượng đế trên ý nghĩa yêu cầu và đòi hỏi, do đó sẻ chọn tài xế có tác phong và khả năng cung cấp thông tin và vận chuyển an toàn nhất. Như vật người tài xế tự tạo ra giá trị kinh tế khác biệc với đồng nghiệp của mình và thu hút nhiều khách hàng hơn. Khách hàng sẻ nhới tên anh ta, số xe của anh ta và nhiều thứ khác.

Doanh nghiệp Việt Nam sẻ bắt đầu áp dụng phương thức mới để trong việc nâng cấp tương đươc với doanh nghiệp nước ngoài trong việc quản lý nhân sự, đào tạo nhân sự và các khía cạnh khen thưởng tích cực tạo tạo sự cân đối giữa hai nền kinh tế do doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khai thác. Giá trị nhân bản là mức độ cao nhất của nền kinh tế thị trường mà các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu đả bước nào hoàn thành và tiếp tục cải thiện. Người tiêu dùng sẻ thay đổi thái độ của họ trong các tiếp xúc mua bán, trao đổi khi điều kiện kinh tế của họ thay đổi. Con cái của họ được giáo dục chu đáo hơn, cuộc sống của họ được đầy đủ và an toàn vệ sinh hơn và mức tiêu thụ cao hơn. Nhu cầu của con người là vô hạn, bởi vì nó quyết định bở nguồn thu nhập hằng năm và trình độ kiến thức và giới tính và điều kiện gia đình. Người quản lý cần hiểu các giá trị này để có thể phát triển sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng trong và ngoài nước.

y m� �] � P�W ��V n của Nhật Bản có doanh số thu nhập rất lớn, sau đây là các công ty C. Itoh 115.71 tỉ USD, Mitsui & Co 110 tỉ USD, Sumitomo 109 tỉ USD, Mitsubishi 107.86 tỉ USD, Marubeni 105.71 ti USD trong năm 1989, có nghĩa cách đây 21 năm, khi đó tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản là 2386 tỉ USD trong năm 1987. So với hiện tại GDP của Nhật trong năm 2009 là 5.05 ngàn tỉ USD. Các mối quan hệ này tạo ra một đóng góp đồng bộ giúp cho nền kinh tế của Nhật Bản phát triển trong giai đoạn 1945-1990 với sự đóng góp của các gia đình công nghiệp và keiretsu là khoảng 20% GDP của Nhật Bản.


Mức tiết kiệm cao ở Nhật Bản giúp cho các ngân hàng và công ty tài chính có vốn tái đầu tư trong các ngành kinh tế xuất khẩu, tiêu dùng và nghiên cứu. Từ 1961 đế 1979, mức tiết kiệm khoảng 18.2 % đến 22.1% thu nhập của người dân Nhật. So với Hoa Kỳ là 5.4% đến 8.8%. Nhờ vậy Nhật Bản tự túc được nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế giúp quốc gia tăng nhanh năng xuất sản xuất của nền kinh tế và giá trị GDP tăng hàng năm. Chính một trong các giá trị mà doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng trong giai đoạn gia tăng tốc độ phát triển kinh tế là hoạt động trên 20% vốn tự có và 80% vốn vay, cùng lúc luôn giữ mức nguyên vật liệu ở mức thấp cho thời gian sản xuất là 5 ngày đến 7 ngày trước khi đơn đặc hàng mới được chuyển đến. Như vậy tính theo giá trị kinh tế thì vòng xoay vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản rất cao.

Sự hợp tác quốc gia dưới sự điều phối của các cơ quan chính phủ Nhật Bản trong các chính sách ưu tiên cho ngành nghề nào cần phát triển và xử dụng vốn và công nghệ như thế nào. Sự thành công trong việc hợp tác giữa chính phủ, giới công nghiệo và nhóm tài chính, và lực lượng lao động tạo ra một sự hoàn hảo của mức đầu tư cao, chất lượng nghiệp vụ của lực lương lao động, sự kết hợp chặc chẻ và thống nhất của các tổ chức doanh nghiệp, và tốc độ điều phối công nghệ và khoa học kỷ thuật cho các ngành kinh tế chủ đạo có giá trị xuất khẩu cao. Ngoài ra sự hiệu quả của việc xử lý các vấn đề mà giám đốc, trưởng xưởng đối với nhân viên luôn tiết kiệm thời gian nhất là nhân viên có thể thảo luận với cấp trên nhanh hơn cho các biện pháp xử lý. Tức là khoảng cách mà nhân viên có thể liên lạc với cấp hiệu quả hơn so với các quốc gia khác. Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích sự phát triển của hệ thống giáo dục chú trọng đến khoa học kỷ thuật và ngôn ngử quốc tế, tăng cường hợp tác và cạnh tranh nhưng không phải đối chọi trên thị trường, cung cấp vốn cho các ngành xuất khẩu, hổ trợ các dự án hợp tác với chính phủ nước ngoài, luôn khuyến khích thị trường nước ngoài mở cửa.

Khi tham khảo các vấn đề trong công việc, nhân viên cấp dưới có thể thảo luận với cấp trên trong thái độ khiêm tốn và lặng lẻ, và đưa ra các ý kiến cho cấp trên biết trước khi vấn đề được bàn thảo công khai. Đó là một trong các bước mà nhóm làm việc tạo ra, hơn là tự đưa ra ý kiên để lấy điểm trước tập thể. Các thay đổi và sửa chữa sẻ có người chịu trách nhiệm xử lý. Các ý kiến và kế hoạch luôn được thông qua cho tất cả mọi thành viên tham khảo để biết trước nội dụng. Còn quyết định cuối cùng vẩn là ở cấp trên. Sự làm việc của các nhân viên Nhật Bản ở mức độ cao trên thế giới so với các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp. Quá trình làm việc theo chu kỳ vòng tròn từ khởi điềm cho đến khi quyết định cuối cùng trải qua nhiều bước cho toàn thể công ty cùng tham khảo trước khi được phê chuẩn cho việc áp dụng và thực hiện.

Giá trị và nhiệm vụ của kỷ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bơỉ vì Nhật Bản nhận ra đất nước của họ không có nhiều tài nguyên như các quốc gia khác, khả năng mà họ phải đạt được là phát triển các ngành khoa học nghiên cứu, công nghệ kỷ thuật cao, hệ thống tính toán theo thần kinh logic, hóa sinh, gia tăng giá trị cho các sản phẩm ưu việc phục vụ thị trường trên thế giới. Nền kinh tế Nhật Bản và xã hội Nhật Bản đang chuyển sang gia đoạn hoàn thiện của các giá trị xuất phát từ con người hay người tiêu dùng và ứng dụng các lợi ích của thông tin và trong sinh hoạt cuộc sống và kinh doanh. Có nghĩa khoa học công nghệ sẻ nối kết tất cả mọi hoạt động với nhau và mục tiêu cuối cùng là phục vụ con người. Trong năm 2008 giá trị kinh tế của nông nghiệp chỉ chiếm có 1.5% GDP, công nghiệp chiếm 26.3% GDP, và các loại kinh tế dịch vụ cần nhiều giá trị kiến thức và khoa học kỷ thuật đóng góp đến 72.3% GDP. So với Úc thì kinh tế dịch vụ đóng góp là 69.8% GDP, còn Trung Quốc là 40.1% GDP, Ấn Độ là 53.4% GDP.

Đó là một số điểm khái quát về văn hóa trong kinh doanh và hoạt động kinh tế Nhật Bản có thể giúp nhân viên và cán bộ quản lý Việt Nam có một niềm đam mê học hỏi ở Nhật Bản. Điều quan trọng là làm sao tạo ra khả năng của một con người có thể nối kết với công ty hay tập thể để cùng nhau phát triển về tương lai. Sự trung thành, hy sinh, tôn trọng, khiêm nhượng, và kiên nhẩn luôn là sự kết hợp hoàn hảo. Ở Nhật Bản, sự phát triển là vận đống thăng tiến liên tục. Việt Nam cần có khái niệm hy sinh cho công ty, cho doanh nghiệp, cho tổ chức cơ quan nhằm khuyến khích mọi thành viên đóng góp nhiều hơn, làm việc nhiệt tình hơn, biết phát huy sáng kiến cho lợi ích chung. Trung Quốc, Ấn Độ là hai bài học cho Việt Nam phát triển về công nghệ thông tin và kỷ nghệ sản xuất cho xuất khẩu ở giá thành cạnh tranh và tiêu chuẩn quốc tế.


Các Giá Trị Của Trung Quốc Mà Việt Nam Cần Học Hỏi

“Không có công thức nào giúp một quốc gia thành công hoàn toàn, nhưng quốc gia đó có khả năng khai thác tiềm năng của mình thông qua việc khai thác tài nguyên, quản lý con người, và tạo điều kiện cho con người kinh doanh thành công.”

*****
John Naisbitt và Doris Naisbitt, giảng sư tại đại học Nanjing, Nankai và Tianjin ở Trung Quốc. Họ thành lập ra viện nghiên cứu Naisbitt China ở Tianjin cho việc nghiên cứu, giảng dạy về kinh tế tại Trung Quốc. Mặc dù họ là người Áo, nhưng sự say mê của họ về Trung Quốc đưa họ đến quốc gia này làm việc và sống trong thời gian dài. Chính vì lẻ đó cái nhìn của họ về Trung Quốc khác với các tác giả khác. Tôi chi nêu lại các kết luận mà hai giáo sư này nhận xét và phân tích lý do nào mà Trung Quốc thành công trong việc phát triển kinh tế của mình trong giai đoạn 1979-2010.

Họ ca ngợi các giá trị mà chính phủ Trung Quốc làm được trong việc giảm đi số lượng dân có mức thu nhập nghèo vượt qua con số 300 triệu người trong vòng 3 thập niên. Mà trong đó có sự di chuyển của hơn 200 triệu người từ vùng nông thôn lên thành thị cung cấp nguồn lao động cho sự tăng trưởng GDP liên tục ở mức trên 10% trong suốc hơn 2 thập niên và giảm dần cho mức 9%, 10% trong các năm gần đây. Bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc củng biết khai thác cơ hội để phát triển ra thị trường nước ngoài. Mặc dù có nhiều ý kiến về các giá trị văn hóa, xã hội tại Trung Quốc không tương đồng với các giá trị tại Phương Tây, như kết quả mà Trung Quốc làm được có thể khẳng định một điều là Ấn Độ củng có số dân đông như Trung Quốc nhưng không phát triển mạnh và nhanh như Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ có chế độ chính trị đa đảng, còn Trung Quốc chỉ có một đảng chính trị. Sau đây là một phần tóm lược ý kiến của hai giáo sư này cho các giá trị mà Trung Quốc đả làm được trong ba thập niên qua.

Khái niệm tái kiến thiết Trung Quốc ra đời vào năm 1979. Các công ty hay xí nghiệp đang hoạt động trên bờ vực bị phá sản. Người điều hành doanh nghiệp hay xí nghiệp đả chọn ra những kế hoành đầy tham vọng, có tầm nhìn xa, kiên quyết, nhất quán để biến đổi lực lượng lao động của họ trong tình trạng có trình độ kém, luôn bị quản thúc hay quản chế cho từng hành vi, quá dể dải thành một lực lượng làm việc với những phương thức, tinh thần hoàn toàn khác.

Bước đầu tiên mà nhà quản lý muốn làm là chọn ra cho mình một đội tinh nhuệ nồng cốt có thể đảm nhận công việc hiệu quả, và nắm rỏ mục tiêu mà doanh nghiệp họ muốn hoàn thành. Nhân viên cấp dưới biết suy nghĩ mạnh mẻ hơn để cung cấp sáng kiến và cải tiến trong công việc. Khả năng tự chủ, tự tin này giúp nhân viên tăng them tinh thần làm việc và long tự trọng trong công việc. Mọi người can đảm hơn trong việc có trách nhiệm đóng góp cho doanh nghiệp của mình phát triển.

Bước tiếp theo là cán bộ quản lý sẻ tạo ra môi trường làm việc mới nhằm tăng cường khả năng trao đổi ý kiến, đóng góp ý kiến, truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên xuống cấp dưới, hay từ cấp dưới lên cấp trên. Sự trao đổi và đóng góp này mang tính xây dựng và hoàn thiện cho doanh nghiệp, do đó mọi người luôn tin tưởng là ý kiến của mình sẻ không gây tại họa cho bản thân. Mọi người sẻ nhiệt tình đóng góp cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Nó không tạo ra mâu thuẩn mà tạo ra quá trình lập đi, lập lại cho sự hoàn thiện mỗi ngày.

Bước thứ ba là khẳn định mục tiêu mà doanh nghiệp theo điểu. Thành lập ra giá trị riêng cho doanh nghiệp gọi là văn hóa của doanh nghiệp. Nó đảm bảo mọi người sẻ có lợi khi cùng nhau thực hiện các qui ước này một cách tự giác và có ý thức cao. Sự thành công của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, có như vậy thì doanh nghiệp mới cung cấp thu nhập, tiền thưởng và các lợi ích khách cho mọi thành viên. Mọi thành việc sẻ hoạt động theo các khuôn mẫu đả đề ra, nhưng các tài năng vẩn có thể phát triển vượt ra ngoài các khuôn mẫu này cho sự lớn mạnh của công ty. Công ty sẻ xem xét kết quả này để điều chinh lại chiều kích mới cho khuôn mẫu mới để mọi thành viên khác cùng noi theo. Như vậy khuôn mẫu giúp mọi thành viên hoạt động hiệu quả, nhưng các tài năng hiếm có vẩn có thể gia tăng sức sang tạo và giá trị cống hiến cho công ty ở mức cao và linh động.

Bước thứ tư là khả năng xây dựng niềm tin và loại dần cảm giác sợ hải. Lòng tin sẻ giúp mọi người giám làm đển chọn ra kết quả đúng. Có nghĩa làm thử để loại cái sai, chọn cái đúng được chấp nhận vì mọi người chưa tạo ra một tiêu chuẩn thống nhất cho chiến lược lâu dài. Đó là cơ hội để sự sang tạo, phát minh và sang kiến có cơ hội phát huy và tồn tại trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.

Bước thứ năm là chào đón, đón nhận các giá trị nghệ thuận và trí tuệ, mặc dù đôi lúc nó đi trước thời đại. Vì các giá trị này góp phần cho sự đa dạnh của kinh doanh trong nền kinh tế, nhất là sự hình thành nhiều loại hình kinh doanh văn hóa phong phú tạo ra tác động tích cực cho các loại hình kinh tế khác tăng trưởng. Ví dụ như hội họa có thể tăng lượng du khách nước ngoài cho việc chiêm ngưỡng hay mua các tác phẩm.

Bước thứ sáu là doanh nghiệp biết thành lập nền móng tại thị trường nội địa, sau đó mở rộng sang các thị trường nước ngoài. Đồng thời mời gọi đối tác, nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác, để học hỏi công nghệ hiện đại, công nghệ mới giúp công ty tăng khả năng cạnh tranh.

Bước thứ bảy là hành vi của một người sẻ ảnh hưởng lên người khác. Sự thành công của một người luôn tạo ra sự ganh tị cho người khác. Trong khi đó thất bại lại gây ra sự than phiền từ người khác cho hành vi của mình. Thường một người có tài sẻ leo dân lên nấc thang của sự thành công, ngược lại những người không có khả năng sẻ bị khựng lại cho ví trí của mình. Quá trình này tạo ra sự hoàn thiện của quá trình sản xuất vì mọi người nhận ra sự cải tiến, sang tạo được nhận phần thưởng là chức vụ cao hơn, lương cao hơn. Sự công bằng và tự do cho đóng góp và khen thưởng sẻ giúp sự hòa hợp tồn tại và phát triển ổn định trong doanh nghiệp.

Bước thứ tám là Khi doanh nghiệp đả tạo ra chổ đứng trong thị trường, thì doanh nghiệp phải chuyển dần từ việc bắt chước các sản phẩm nước ngoài sang việc tự chế tạo ra sản phẩm do mình nghiên cứu và tạo ra sự tin tưởng và ưa thích của người tiêu dùng. Các quá trình được cải tiến, nâng cấp để tăng chất lượng, hiệu xuất, số lượng của sản phẩm tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Như vậy cuộc sống của mọi thành viên trong doanh nghiệp củng được cải thiện và nâng cấp.

Tám giá trị này được biểu hiện không chỉ ở doanh nghiệp kinh tế, mà còn ở các cơ quan chức năng trong chính phủ. Điều này có thể nhận ra khi chính phủ luôn biết cách hổ trợ doanh nghiệp kinh tế thông qua giúp vốn vay ưu đải, công nghệ cho việc phát triển tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các giao dịch mua các thương hiệu nước ngoài, trên danh nghĩa là do các doanh nghiệp kinh tế Trung Quốc thực hiện, như vốn thu mua do ngân hàng của Trung Quốc cung cấp. Tám giá trị vửa nêu còn gọi là tám trụ cột xã hội mà nền kinh tế của Trung Quốc dựa vào để phát triển trong ba thập niên qua. Nền kinh tế của Việt Nam có thể áp dụng phần nào tám giá trị này cho việc tăng tốc nền kinh tế từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.


Ấn Độ và Giá Trị Quản Lý của Các Doanh Nghiệp Công Nghệ Thông Tin

“Khả năng sử quản lý nguồn nhân sự, tài nguyên, khai thác thị trường là một sự phối hợp không chỉ do trình độ của ban quản lý của một doanh nghiệp, mà nó còn mang giá trị văn hóa của quốc gia đó tác động lên sự thành công trên thị trường trong nước và ngoài nước.”

*****


Cán bộ quản lý củng không quên là có thể học hỏi như thế nào đối với các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc phát triển công nghệ thông tin và mở rộng sang các loại ngành kinh tế khác. Ấn Độ có tỉ lệ dân số rất lớn không tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở, do nhiều nguyên nhân. Như bù lại các thành phố lớn có tỉ lệ lớn sinh viên tốt nghiệp trong các ngành kinh tế, khoa học, nghiện cứu mũi nhọn. Nhờ đó mà nền kinh tế của Ấn Độ có khả năng cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ và công nghiệp này.

Sau đây là một trong các thành công của nền công nghiệp phần mềm mà Ấn Độ làm được trong ba thập niên vừa qua. Đó là sự thành công của công ty Wipro có giá trị thị trường hiện nay là hơn 30 tỉ USD vào tháng 2 năm 2011. Công ty công nghệ thông tin của Ân Đố này đả áp dụng các chiến lược phát triển thần kỳ tạo ra mức doanh thu và giá trị thị trường gân bằng 1/3 GDP của Việt Nam. Như vậy nếu Việt Nam có hai công ty như công ty Wipro thì củng có thể tăng lên giá trị thị trường là 60 tỉ USD.

Các giá trị nào mà công ty Wirpo đả áp dụng thành công? (a) mở rộng thị trường không tạo ra sự bất ổn và xáo trộn, (b) thực hiện các qui luật của xuất khẩu công đoạn, (c) cải tiến và nâng cấp mỗi ngày, (d) luôn quan tâm khách hàng một cách cao độ, (e) khuyến khích nhân viên làm việc theo phương thức của Wipro, (f) chuẩn bị kế hoạch trước ba năm cho tốc độ tăng trưởng nhanh. Wirpo đả chọn chổ đứng cho mình trong việc cung cấp nguồn chất xám giá rẻ thông qua kết nối mạng internet đối với khách hàng trong và ngoài nước. Trong năm 2000, công ty phát hành cổ phiếu đầu tiên tại thị trường New York, khi công ty đạt được mức doanh thu là 500 triệu USD. Năm 2006, giá trị thị trường của công ty là 20 tỉ USD, tạo ra doanh thu là 2.4 tỉ USD. Các công ty phần mềm và công nghệ thông tin của Ấn Độ thường có hai cách thành lập. Thông qua các du học sinh tại các đại học Hoa Kỳ, sau đó họ vào làm việc cho các công ty tại thông lũng Silicon ở California. Khi họ đả tích luỹ đủ kinh nghiệm, củng như tạo ra mối quan hệ làm ăn và uy tính tại thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu, thì họ quay về Ấn Độ thành lập công ty. Người bỏ vốn cho họ có thể là nhà đầu tư Ấn Độ hay Hoa Kỳ. Khi họ thành lập công ty có qui mô nhỏ, rồi phát triển dần thành một công ty quốc tế phục vụ mọi nơi thông qua nối kết mạnh cho các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Ân Độ đào tạo khoảng 120,000 sinh viên thạc sĩ và hơn 3 triệu sinh viên đại học về công nghệ thông tin hằng năm. Mức lương mà họ nhận bằng khoảng 20% mức lương của các nhân viên tại các công ty của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Có nghĩa thị trường chất xám của Ấn Độ tạo ra cơn chảy công việc từ các thị trường mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu theo giá trị so sánh: kết nối internet + chất xám giá rẻ tạo ra cơ hội kiếm tiền và tạo lợi nhuận cao. Các công ty này thuê mướn nhân viên làm việc theo ba ca, tức là họ luôn hoạt động 24 giờ một này, và 365 ngày một năm cho khách hàng trên toàn thế giới không kể sự khác biệt của múi giờ.

Tata Consultancy Services (TCS) là công ty lớn nhất về dịch vụ công nghệ thông tin tại Ấn Độ. Doanh thu của họ là 3 tỉ USD trong năm 2006. Doanh thu của họ trong năm 2010 là khoảng 6.5 tỉ USD, giá trị thị trường là khoảng 46 tỉ USD. Infosys củng là một công ty Ấn Độ có giá thị trường là 38 tỉ USD trong năm 2011, tạo ra doanh thu là 4.6 tỉ USD. Ba công ty công ty tạo ra giá trị thị trường khoảng 110 tỉ USD lớn hơn bằng GDP của Việt Nam. Cả ba công ty tạo ra doanh thu là hơn 15 tỉ USD tạo ra công ăn việc làm cho hơn 420,000 người. Đó là một trong ví dụ cho việc Việt Nam có thể phát triển các doanh nghiệp trong công nghệ thông tin có qui mô hoạt động toàn cầu. Các loại dịch vụ mà cả ba công ty này cung cấp và phục vụ khách hàng toàn cầu luôn cần nguồn cung cấp nhân tài là chất lượng mà các đại học thuộc khoa học công nghệ thông tin có thể cung cấp hằng năm cho ba loại bằng cấp: thạc sĩ, đại học và trung cấp. Mà nòng cốt là đội ngủ giảng dạy có có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp tại các đại học nước ngoài ở Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, và các quốc gia khác. www.infosys.comwww.tcs.comwww.wipro.com là ba websites của ba công ty này có thể cung cấp các loại hình dịch vụ mà Việt Nam có thể phát triển và đầu tư trong các năm sắp tới.

Cho trường hợp của công ty Wipro, cán bộ quản lý của Việt Nam có thể học hỏi các bài học sau.

Bài học thứ nhất là tạo ra khả năng cung cấp dịch vụ cho các công ty bán lẻ, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ khi giá thành cho việc chi phí ở mức thấp. Công ty có thể nhận ra tiềm năng cung cấp dịch vụ toàn cầu khi công ty thành lập bản đồ thị trường của khách hàng, qua đó sẻ chuẩn bị hệ thống kết cấu có khả năng phục vụ khách hàng ở tốc độ cao, ổn định, chất lượng bảo đảm và giá thành hợp lý. Khái niệm công ty ảo là một khái niệm mới lien quan đến sự hổ trợ của hệ thống máy tín có chức năng làm việc giải quyết các sử lý mà khách hàng yêu cầu. Những khó khăn về thời gian, ngôn ngữ, trình độ thao tác, độ chính xác luôn được quan tâm và nâng cấp không ngừng. Khách hàng là các công ty đa quốc gia do đó nhu cầu của họ không phải hạn chế hay rang buộc tại một thị trường, do đó công ty phải có khả năng hoạt động cùng lúc trên nhiều mạng khác nhau, nhằm duy trình khả năng hoạt động lien tục. Sự kết hợp trong các thao tác hay hộ trợ mang tính không biên giới cho các dịch vụ. Nhân viên có thể làm việc trong một nhóm, dù họ sống hay di chuyển tại nhiều thanh phố khác nhau, nhờ cầu nối internet toàn cầu, và bảo mật của mạnh giải mã cho các thông tin mật. Sự cải tiến là giá trị sống còn, vì các công ty đối thủ sẻ vượt qua khi công ty nhà không có biện pháp cải tiến và hoàn thiện. Sự sống của công ty nó giống như nguồn khí mà nhân viên hít thở hằng ngày, do đó tinh thần cải tiến và sang tạo luôn đi đôi với nhịp sống của mọi thành viên. Thành công là ý trí mà mọi thành viên luôn ghi nhớ và thực hiện. Nó như là khẩu hiệu, mục tiêu lâu dài cho từng cá nhân cống hiến cho công ty.

Bài học thứ hai là áp dụng các bài học chuyển tiếp cho lợi nhuận. Khai thác triệt để từng lợi nhuận dù nhỏ hay lớn để phát triển công ty. Giải thích bằng cái ví dụ giúp nhân viên áp dụng và thực hiện dể dàng. Tận dụng từng loại hình kinh doanh và áp dụng tất cả sang kiến cho việc cải thiện khả năng quản lý trong từng loại hình kinh doanh, vì khách hàng có thể hoạt động bất cứ lỉnh vực nào. Nhận ra khái niệm biến công ty thành trung tâm sang tạo và cung cấp dịch vụ toàn cần với các giá trị cạnh tranh cao nhất. Khi điều kiện cho phép, công ty sẻ tận dụng tốc độ phát triển ở mức cao nhất, nhưng đồng thời củng sẻ chuyển dần sang các loại hình kinh doanh khách nhau cho lợi nhuận được phân bổ trên nhiều loại hình kinh doanh. Nhất là khi thị trường phát triển cho các nhu cầu mới. Mục tiêu mà doanh nghiệp nên chọn ra có giá trị rỏ rệt như là giá trị thị trường của công ty, doanh thu của công ty từng năm hay kế hoạch 2 năm hay 3 năm trong tương lai. Như vậy kích thích sự phấn đấu mà nhân viên có thể đóng góp cho công ty. Khi công ty cần mở rộng thị trường, thì nên chọn giải pháp là phát hành cổ phiếu để gia tăng vốn cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Đồng thời thuê mướn nhân viên có chuyên môn cao, tay nghề, long nhiệt tình cho việc sang tạo ra các loại dịch vụ và sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của thị trường. Sáng kiến mới là nguồn động lực tiếp sức cho công ty hoạt động hiệu quả và lớn mạnh hơn. Ban lãnh đạo công ty sẻ chọn ra lý tưởng hay triết là cho công ty, mà nó được dùng như kim chỉ nam cho toàn thể nhân viên của công ty thực hiện.

Bài học thứ ba là thực hiện chiến lược để dẩn đầu một lúc tại nhiều thị trường. Sự mở rộng thị trường không có nghĩa là giảm đi sự tập trung mà doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả. Sự hoạt động hiệu quả sẻ do khả năng quản lý các nhóm hoạt động trong từng loại hình kinh doanh, như họ vẩn có thể hộ trợ cho nhau. Như vậy doanh nghiệp tận dụng hết tiềm năng và năng lực của mọi nhân viên cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng không nên phân tán ra quá nhiều tài nguyên của doanh nghiệp mà rủi ro củng có thể gây ra sự thất thu. Sự phức tạp của việc kinh doanh trong nhiều thị trường củng là một tính cách hữu ích cho doanh nghiệp, như là sự thử thách vượt qua các đối thủ khác. Khi đối diện với khó khăn, thì doanh nghiệp sẻ phân tích và rút ra các giá trị cụ thể liên quan đến ngành kinh tế dịch vụ của mình. Nó mang giá trị thiết thực, cụ thể để doanh nghiệp có thể thực hiện hiệu quả và có lợi nhuận cao hơn.

Bài học thứ tư là biết cách phát triển doanh nghiệp khi doanh nghiệp tạo ra kích thích và làm chủ tình hình trong từng loại hình kinh doanh. Nhất là từng loại thị trường kinh doanh khác nhau tạo thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Khi thâm nhập vào một thị trường mới, doanh nghiệp luôn phát triển hết khả năng nhằm gia tăng thị trường, củng nhưng chiếm lĩnh nhóm dẩn đầu trong thị trường đó. Đồng thời, doanh nghiệp củng sẻ chọn ra nhiều gói đầu tư để tấn công vào một thị trường tạo ra hiệu quả của sự thành công lớn hơn. Rút ngắn các thiếu sót mà khả năng doanh nghiệp đang gặp phải, đển nâng cấp khả năng cho sự hài lòng từ khách hàng. Đối với từng loại thị trường, doanh nghiệp có thể đi lên trong top đầu để tái khẳn định các qui tắc cạnh tranh mới nhằm qua mặt các công ty đối thủ khác. Khi muốn thu mua các công ty khác, doanh nghiệp sẻ đặc ra mục tiêu mở rộng tiềm năng rộng hơn tại thị trường. Giống như thành lập cả một mắt xích có đủ tiềm năng trong từng loại ngành kinh doanh khác nhau, nhưng lại có tiềm năng hổ trợ hài hòa bên trong doanh nghiệp.

Bài học thứ năm là biến doanh nghiệp của mình thành một thương hiệu có giá trị bằng việc áp dụng các qui tắc đạo đức, thái độ làm việc ở mức cao nhất. Hay gọi là nghiêm khắc nhất. Mọi nhân viên sẻ nhận ra họ phải làm điều đúng khi họ muốn hoàn thành công việc được giao. Chuyển dần các giá trị của công ty vào trong cuộc sống của nhân viên. Luôn khẳn định một điều là giá trị không đứng yên một chổ, mà nó phải biến đổi cho sự cải thiện và nâng cấp. Sự đồng bộ mà nhân viên có thể làm việc hiệu quả là khi các giá trị được gắn liền vào trong hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thành công, luôn tạo ra các khái niệm đóng góp cho xã hội qua nhiều hình thức khác nhau.

Bài học thứ sáu là giáo dục nhân viên mới thuê tuyển và hổ trợ họ suốt quá trình làm việc với các chương trình huấn luyện nâng cao nghiệp vụ. Có thể gọi là chuyển biến giá trị chất xám vào từng nhân viên làm việc cho công ty. Như vậy giúp công ty gia tăng hiệu quả và các mục tiêu kinh doanh lâu dài. Luôn tạo ra khoảng không gian tạo cho mọi nhân viên cảm giác họ phải vận động cho sự sang tạo không ngừng. Sự tuyển chọn nhân viên cho các vị trí cần thiết mà công ty muốn thuê tuyển. Tuỳ theo chức năng, mà tốc độ tuyển dụng nhân sự có sự thay đổi khác nhau nhằm đảm bảo chất lượng của nhân viên tuyển lựa nhân viên mới. Khi đả thuê mướn, các nhân viên luôn được tham gia các khóa đào tạo cho việc hấp thụ tinh túy là các giá trị mà công ty đả thành công và gây dựng nên. Nhân tài luôn được nuôi dưỡng và nâng cao cho từng vị trí phù hợp. Khi phát triển ở qui mô toàn cầu, sự chọn lựa nhân tuyển cho cán bộ lãnh đạo luôn được chuẩn bị trước khi cần sẻ thay thế vị trí của người lãnh đạo của công ty. Mọi nhân viên luôn có thái độ làm việc là tự nâng cao trình độ và cải thiện nghiệp vụ của mình.

Bài học thứ bảy là gợi ra các câu hỏi và phê bình từ nhân viên để giúp doanh nghiệp cùng phát triển. Khái niệm trao đổi thông tin, ý kiến, các giá trị đóng góp được phổ biến mở rộng ra trên toàn bộ các bộ phận của doanh nghiệp tạo cơ hội cho mọi người trao đổi và cải thiện lẩn nhau. Sự đóng góp này có thể tiết kiệm rất nhiều cho doanh về tiền bạc và thời gian. Vì các giá trị mà nhân viên đóng góp tương tư như ý kiến của khách hàng đóng. Do đó doanh nghiệp hạn chế mọi thiệt hại nếu các trường hợp vừa nêu không được khắc phục trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Như vậy có thể làm khách hàng bỏ đi sang các công ty cạnh tranh đối thủ khác. Các câu hỏi luôn được đưa ra từ cấp trên tạo cho nhân viên cấp dưới niềm tin cho các đóng góp của mình. Nếu cán bộ lảnh đạo nghi ngờ một cấn đề gì cho kết quả không như mong muốn, nên đưa ra câu hỏi ngay tức khắc để đón nhận ý kiến của nhân viên có thể giúp cho doanh nghiệp cải thiện hay tìm giải pháp tối ưu hơn. Ngoài ra, đi kèm với câu hỏi còn là các hành động cụ thể để tạo niềm tin và sự kích lệ cho thái độ làm việc và đóng góp của nhân viên. Trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên có một hộp thư góp ý. Như vậy mọi người sẻ dể dàng đóng góp ý kiến nâng cao chất lượng và dịch vụ một cách kính đáo không gây ra hiểu lầm, đố kỵ trong nội bộ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mọi thành viên sẻ có trách nhiệm tự giác tìm ra lổi và các thiếu sót trong từng công đoạn, để góp ý. Có nghĩa nâng cao chất lượng, cải tạo qui trình làm việc cho sự hoàn thiện trước khi khách hàng nhận ra thiếu sót của mình. Đó củng là cách mà doanh nghiệp tự hoàn thiện và tạo ra cách biệt trong cuộc chạy đua với các đối tác trong và ngoài nước.

Bài học thứ tám là khen thưởng nhân viên cho sự đóng góp trước toàn thể mọi thành viên và sự tôn trọng rỏ ràng. Gia tăng thái độ làm việc tích cực, cổ vũ những giá trị đạo đức nghề nghiệp với các phần thưởng sang tạo. Sự vui mừng hay cùng nhau tận hưởng các chiến thắng của doanh nghiệp củng tạo ra luồn sức mạnh cho mọi người, và đồng thời nhắc nhở thái độ làm việc nghiêm túc của họ sau này. Thưởng nhân viên với các giá trị cụ thể như tiền thưởng, tăng lương, đi nghĩ ở nơi du lịch nổi tiếng, hay các bổng lộc khác. Có thể tặng nhân viên xuất sắc một số cổ phiếu của doanh nghiệp để gắn liền tương lai của nhân viên với sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

Bài học thứ chính là áp dụng các giá trị so sánh phân tích nhằm hạn chế các tiêu xài không cần thiết cho cán bộ cao cấp hay đầu ngành các bộ phận. Do đó sẻ tiết kiệm tối đa các chi phí, nếu nhận thấy nó không cần thiết, củng như tạo ra lợi nhuận cho công ty. Doanh nghiệp sẻ tính toán giảm đi các chi phí trung gian khi thực hiện các giao dịch hay mua bán. Tiền hoa hồng của nhân viên trong việc tham gia các giao dịch như vậy sẻ được tính toán cho sự hợp lý tính theo số người tham gia. Khi nhận ra nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới có thể tiết kiệm từ mức tiêu thụ giấy, mực in, giấy vệ sinh, nước uống, hay các chi phí lặc vặc trong hoạt động văn phòng, thì số lượng lớn sẻ giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều. Củng như việc sử dụng điện và các thiết bị không cần thiết cho mục tiêu kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có số lượng đi lại lớn cho nhân viên giữa các văn phòng trên thế giới hay trong một quốc gia, thì sự tính toán chi phí cho việc đi lại này củng sẻ giúp tiết kiệm nhiều cho doanh nghiệp. Khi thiết kế xây dựng văn phòng, hảng xưởng, người quản lý sẻ tính đến việc rút ngắn thời gian di chuyển của nhân viên từ bộ phận này sang bộ phận khác, hay các dây chuyển gia công sản xuất có thể đảm bảo chất lượng, số lượng. Nhân viên sẻ làm việc trong môi trường có không gian và sự bố trí nhân sự và các bộ phận chức năng hợp lý cho cả việc trao đổi thông tin và di chuyển hằng ngày. Như việc thiết kế nhà vệ sinh và phòng ăn, tiện cho nhân viên có thời gian di chuyển ngắn nhất. Sự tiết kiệm sẻ đi kèm theo sự tích luỷ của ngân sách. Có nghĩa chi phí tiết kiệm được sẻ được dùng vào các dự án khác có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa bỏ qua quá trình tăng giá trị của doanh nghiệp. Mọi hành vi tiết kiệm luôn đảm bảo là chất lượng của công việc luôn phải được đảm bảo và gia tăng không ngừng. Khi cần thiết thì doanh nghiệp vẩn phải chi phí cho các hoạt động cần thiết tạo ra lợi nhuận, hay hổ trợ cho các hoạt động tạo ra lợi nhuận.

Bài học thứ mười là xây dựng nền tảng của doanh nghiệp bằng việc gìn giử các nhân tài và chuyên gia có kinh nghiệm trong công việc. Họ là nòng cốt duy trì sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Nhưng đồng thời gia tăng giá trị sáng tạo bằng cách tiếp nhận nguồn nhân lực mới từ bên ngoài. Nhân viên luôn hiểu hết giá trị lịch sử mà doanh nghiệp hình thành, phát triển, mở rộng thị trường như là niềm tự hào của mọi thành viên. Bên cạnh đó hạn chế các hành vi chia nhóm hay phân rẻ trong nội bộ doanh nghiệp tạo ra sự đình trệ và thiệt hại cho sự phát triển mang tính sáng tạo của mọi người. Nếu từng nhóm làm việc mang giá trị quan hệ như gia đình tạo ra sức mạnh phát triển của nhóm và củ cả doanh nghiệp. Hoán chuyển vị trí làm việc nhằm đổi mới và gia tăng khả năng điều hành của các giám đốc của từng bộ phận. Tạo ra giá trị lảnh đạo trong từng hơi thở của các thành viên. Bên cạnh đó củng tạo ra khái niệm khi nào thì nên theo nội qui, khi nào thì có thể linh động sử lý công việc.

Bài học thứ mười một là xây dựng dựa trên các giá trị căn bản của cạnh tranh và ưu việt. Khả năng mà doanh nghiệp có thể làm được là biết đánh giá mọi hoạt động một cách nhanh chónh. Có thể nói những con số luôn vận động và làm việc trong đầu của mọi người. So sánh với cái tốt nhất hiện có trên thị trường để cố gắn vươn lên vượt qua giá trị đó. Luôn gắn liền các giá trị chiến lược theo từng hành vi làm việc hằng ngày. Mổi nhân viên có thể tự đánh giá về mình trong công việc và đánh giá đồng nghiệp trong công việc để cùng nhau tiến bộ. Giám đốc hay trưởng nhóm luôn biết được thuộc cấp của mình nghĩ gì và làm sao để mọi người đánh giá khả năng làm việc của mình. Nếu chỉ thị cấp dưới, người lảnh đạo luôn dùng các minh họa chi tiết để hạn chế hiểu làm tạo ra sai sót gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Bài học thứ mười hai là lên kế hoạch trước ba năm cho sự tăng trưởng vượt bậc. Quan niệm những gì là quá trình chuyển biến cho giá trị chính và chiến lược của doanh nghiệp. Đề ra các mục tiêu cụ thể để khẳn định các chiến lược rỏ ràng. Trong việc thực hiện chiến lược luôn gắn liền việc phân tích từng bước. Khi nhận ra nhân viên có sáng kiến hay, nên giao cho họ tham gia vào việc hoạch định chính sách kế hoạch lâu dài.

Bài học thứ mười ba là sáng tạo sản phẩm mới, dịch vụ mới mỗi ngày. Có thể từ các chi tiết hay hoạt động nhỏ nào củng liên quan đến các giá trị lớn hơn cho sang kiến được đóng góp. Nâng cao cải tiến công nghệ là bước quan trọng. Sự gia tăng khả năng xử lý vấn đề củng mang giá trị sáng tạo và cải tiến. Tốc độ hoạt động của các khâu làm việc củng nằm trong quá trình sáng tạo và cải tiến. Thành lập trung tâm cho hoạt động cải tiến ở mức tuyệt đối như là nơi để mọi thành viên có thể học hỏi và nâng cao khả năng của mình. Sáng kiến và cải tiến luôn thông qua các chương trình khởi xướng do cấp trên đề ra. Sự cải tiến về số lượng và chất lượng luôn đi kèm với nhau trong từng bộ phận của doanh nghiệp. Khi tiếp nhậ ý kiến từ bên ngoài, doanh nghiệp sẻ chuyển đổi thành ý kiến mới mang nét riêng của doanh nghiệp. Luôn tạo ra tinh thần học hỏi từ các chuyển gia hy bậc thầy bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp. Sự kiệm thời xử lý các công đoạn hay áp dụng sự chính xác và làm việc có tốc độ cao, củng như hoàn thành công việc theo chu kỳ thời gian.

Bài học thứ mười bốn là luôn gắng liền mối quan tâm đối với khách hàng khi họ cần các dịch vụ vào bất cứ thời điểm nào. Các giá trị phục vụ cho nhu cầu của khách hàng luôn được quan tâm và thực hiện cho dù là thiên tai hay các sự cố ngoài ý muốn xảy ra, thì doanh nghiệp vẩn tiềm giải pháp thỏa mản nhu cầu của khách hàng. Tạo ra sự quan tâm từ khách hàng đối với nền tản hay giá trị của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp vẩn phải chọn các phương pháp cụ thể biến sự thất bại thành thành công với sự đóng góp của toàn thể nhân viên. Khi chọn một khách hàng khó tính nào hay có giá trị tiềm năng toàn cầu, phục vụ họ với các giá trị sang tạo vượt ngoài khả năng sẻ là phương thức quảng cáo cho giá trị của doanh nghiệp. Sự thành công này chính là chìa khóa để đón nhận khách hàng mới từ thị trường trong và ngoài nước. Trong quá trình phục vụ khách hàng, doanh nghiệp còn có khả năng tiếp xúc và giáo dục khách hàng cho các việc sự dụng sản phẩm, dịch vụ có lợi nhất cho họ. Đó củng là cách tạo ra niềm tin từ khách hàng khi thể hiện tính cách chuyên nghiệp cao của doanh nghiệp.

Bài học thứ mười lăm là áp dụng quản lý nhịp độ cao để tăng khả năng hoàn thành công việc và chỉ tiêu. Có nghĩa tạo ra tốc độ làm việc cao hơn mức bình thường, như vậy giúp nhân viên hoàn thành công việc sớm hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, gia tăng lợi nhuận. Ngay cả khi đả đạt vị trí là nhà cung cấp toàn cầu có doanh thu hàng tỉ USD, thì doanh nghiệp vẩn phải doanh nghiệp phải tiếp tục  bố trí nhân sự cho các vị trí then chốt cho các nhân tuyển có khả năng tiếp tục phát triển doanh nghiệp hiệu quả hơn. Người lảnh đạo luôn linh động trong việc quản lý và thực hiện các chính sách cho doanh nghiệp. Sự linh động này mang giá trị phù hợp theo thị trường và đối thủ cạnh tranh. Đồng thời biết điều chỉnh và tổ chức các bộ phận làm việc với nhau cho mục tiêu đạt được tốc độ của sang tạo, cải tiến phục vụ khách hàng. Sự nhảy vọt cho giá trị tạo ra sản phẩm của doanh như là mục tiêu vượt mặt các đối thủ trong thị trường.

Bài học thứ mườn sáu là áp dụng khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh như là bài học cho tương lai và giới thiệu với khách hàng khác. Doanh nghiệp sẻ phân tích từng loại khách hàng và loại hình kinh doanh của khách hàng có sự liên quan đối với khả năng phục vụ của doanh nghiệp. Đó là các ví dụ cụ thể mà doanh nghiệp dùng phát triển cho các kế hoạch phục vụ khách hàng mới. Khách hàng củng có thể giúp cho doanh nghiệp nâng cao giá trị phục vụ về chuyên môn và các giá trị khác.

Những bài học quản lý kinh doanh và mở rộng thị trường mà các công ty công nghệ thông tin có thể giúp các công ty công nghệ thông tin Việt Nam học hỏi và tạo ra thương hiệu toàn cầu cho mình. Ngôn ngử quốc tế như tiếng Anh, Hoa, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Á Rập là công cụ chính giúp các doanh nghiệp Việt Nam phục vụ khách hàng khắp nơn trên thế giới. Các bài học từ các công ty Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ giúp cho doanh nghiệp trong nước mở rộng dần từ lợi nhuận ổn định, rồi phát hành cổ phiếu ra thị trường nước ngoài. Không chỉ huy động vốn nước ngoài, mà còn thu hút khách hàng nước ngoài cho tiềm năng lớn hơn, lợi nhuận cao hơn.