Monday, October 8, 2012

Banking Reforms


Cán Bộ Quản Lý và Tầm Nhìn cho Tương Lai
“Môi trường làm việc giống như ngôi nhà thứ hai của một nhân viên, do vậy nhân viên sẻ có nhiều trách nhiệm nuôi dưỡng mối quan hệ công việc và cá nhân với các thành viên trong môi trường đó.”
 *****
Sự thành công của bốn loại hình kinh doanh – doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh – luôn tạo ra các câu hỏi cho sự khác biệc về phương thức quản lý và khen thưởng tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khi tôi viết phần này, tôi tư hỏi là môi trường làm việc nào sẻ ứng dụng tại thị trường Việt Nam. Ngoài ra cuốn sách này chú trọng cho việc hoàn thiện các phương thức quản lý tại doanh nghiệp tư nhân. Môi trường thứ nhất là doanh nghiệp nhà nước. Môi trường thứ hai là doanh nghiệp tư nhân. Môi trường thứ ba là doanh nghiệp nước ngoài. Môi trường thứ tư là doanh nghiệp liên doanh. Vậy có sự khác biệt nào giữa bốn môi trường làm việc?



Điều dể dàng nhận ra là giá trị đóng góp của từng loại môi trường dựa trên tính hiệu quả, thời gian xử lý công việc, khả năng quản lý vốn tạo ra lợi nhuận, khả năng khen thưởng và bồi dưởng nhân viên, khả năng phát triển và mở rộng theo qui mô lớn dần của nền kinh tế trong nước và kinh tế toàn cầu, sự áp dụng khoa học công nghệ, sự nâng cấp quá trình thao tác và làm việc tương phản theo các giá trị thay đổi của môi trường xã hội trong và ngoài nước.

Trước tiên nên đề cập đến môi trường làm việc là cơ quan của chính phủ các cấp. Có thể cán bộ lảnh đạo không thật sự nhận ra ý nghĩa của tính “quan liêu” và tính “linh hoạt” dựa theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Có nghĩa giá trị kinh tế mà các cơ quan chức năng đóng góp không thể tính ra bằng doanh thu trực tiếp của từng cơ quan, nhưng ngược lại nó  được tính trên khả năng xử lý công việc và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh tế của ba nhóm trong môi trường làm việc – doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nước ngoài, và doanh nghiệp liên doanh – tạo ra giá trị kinh tế là doanh thu, tiền đóng thuế, công việc cho người dân, sản xuất sản phẩm và dịch vụ cho thị trường trong và ngoài nước. Như vậy có thể nói cơ quan nhà nước mang sứ mạng to lớn hơn các doanh nghiệp kinh tế, bởi vì các cơ quan chức năng có thể điều phối nguồn tài nguyên quốc gia, phân bố nguồn lao động, tạo điều kiện tối ưu cho việc vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, cung cấp nguồn điện, nước, xử lý chất thải, quản lý giao thông thuỷ-không-bộ hiệu quả và hợp lý, kích thích sự gia tăng nguồn chất xám có giá trị cao cho các ngành kinh tế trong nước, tạo ra giá trị trao đổi mậu dịch tiền tệ và hàng hóa có lợi cho mọi doanh nghiệp kinh tế, củng như quyền lợi của người tiêu dùng.

Do đó các cán bộ được chọn nắm giử các vai tròn then chốt trong việc quản lý các cơ quan chức năng sẻ gánh vác nhiều trách nhiệm hơn là cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp kinh tế. Khi nói đến một trách nhiệm tinh thần khác là thành viên của đảng, mọi cán bộ lại có trách nhiệm cho các giá trị mà người đảng viên cần thực hiện và chấp hành trong hai cương vị của một cán bộ lảnh đạo trong cơ quan chức năng của chính phủ. Điều mà các cán bộ sẻ quan tâm là tạo ra tầm nhìn rộng hơn, bao quát hơn và lâu dài hơn từ 10 năm đên 20 năm cho các kế hoạch cụ thể. Có thể nói việc phát triển đô thị, hiện đại hóa nông thôn, tin học hóa mọi người dân, xã hội hóa trách nhiệm và ý thức mang giá trị lâu dài. Hệ thống giao thông khi xây dựng sẻ tính đế tiềm năng giải quyết lưu lượng xe gia tăng trong vòng 10 năm hay 20 năm tới. Hệ thống cấp thoát nước củng sẻ được thiết kế theo tỉ lệ mật độ dân cư và số lượng nhà máy trong khu vực. Phần lớn các thành phố hình thành từ hơn 200 năm, ngoại trừ các thành phố lớn có tuổi đời lớn hơn, do đó cơ cấu hạ tầng hầu như không thể nâng cấp một cách hiệu quả khi cho có sự phối hợp cho việc kiến thiết các bố cục như nơi nào là nhà ở của cư dân, nơi nào là khu thương mại, nơi nào là văn phòng công sở của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân, nơi nào là khu khách sạn, nơi nào là khu giải trí, nơi nào là trường học, bệnh viện, thư viện, chợ. Do đó ngoài việc nâng cấp các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũ Tàu,Cam Ranh, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Đà Lạc, Bình Dương, Phan Thiết, thì các cơ quan chức năng có thể chọn các khu vực mới xây dựng các thành phố tương laic ho từng miền, tỉnh trong cả nước. Như vậy việc lên kế hoạch xây dựng dể dàng hơn và mang giá trị hệ thống hiện đại cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.

Các cơ quan chức năng của chính phủ vẩn áp dụng các nguyên tắc quản lý như cácdoanh nghiệp kinh tế, nhưng vẩ giử nét văn hóa của dân tộc, chính trị của quốc gia. Tính “quan lieu” có thể mang giá trị chính trị khi các cơ quan chính phủ tạo ra một không gian và môi trường làm việc tạo ra sự kính trọng, tin tưởng, và thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân và người dân trong nước. Cán bộ lảnh đạo vẩn có thể rút ngắn thời gian xử lý công việc, quản lý ngân sách, phân bổ ngân sách, chọn dự ánh đầu tư với các ứng dụng công nghệ tiên tiến, lẩn các phương thức cạnh tranh công khai cho việc gia tăng tính hiệu quả của các dự án có số vốn lên vài trăng triệu hay vài chục triệu USD.

Hầu như các cơ quan thuộc chính phủ đều có thể kích thích sự tăng trưởng GDP của Việt Nam hơn 12% một năm, nếu các giá trị sau có thể được áp dụng.

1)      Điện toán hóa sự kết nối giữa các cơ quan trung ương và thành, tỉnh giúp thống nhất các phương thức làm việc hiệu quả và xử dụng vốn, nhân sự cho mục tiêu tạo điều kiền cho nền kinh tế quốc gia phát triển
2)      Gia tăng cung cấp các chương trình giáo dục mang giá trị đóng gói các kiến thức sau cho vùng nông thôn: vệ sinh cá nhân, thao tác và kỷ thuận nông nghiệp, kỷ thuận xây dựng và sản xuất vật liệu gổ, xi-măng, và vật dụng tre nứa, thủy lợi, sử dụng điện từ nhiều nguồn khác nhau, chăn nuôi, canh tác các loại hoa màu, lương thực có giá trị kinh tế cao.
3)      Cung cấp các chương trình hướng nghiệp cho học sinh lớp 9, 10, 11, 12 giúp họ có một kiến thức căn bản làm việc trong các xí nghiệp gia công, chế biến, dịch vụ. Như vậy giảm đi thời gian và kinh phí cho việc học đại học.
4)      Gia tăng hệ thống thu thuế, nhằm tạo ra kinh phí gia tăng cho việc giáo dục và đầu cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, phát triền công nghiệp cơ khí, phát triển nông thôn cho sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao.
5)      Khuyến khích các doanh nhân hay các nhà đầu tư thành đạt đóng góp nhiều hơn cho xã hội như học bồng, xây dựng trường học, bệnh viện, thư viện cho các vùng nông thôn, thành thị cho nhu cầu học tập, giải trí, sức khỏe của người dân.
6)      Khuyến khích mọi người dân biết tiết kiệm và đầu tư vào các dự án kinh doanh sản xuất hơn là đầu tư vào thị trường địa ốc.
7)      Quảng cáo cho sản phẩm và thị trường Việt Nam thu hút du khách nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tại các quốc gia như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức, Ý.
8)      Tăng cường các chương trình giáo dục bảo tồn nết văn hóa, truyền thống của Việt Nam tại mỗi vùng khác nhau tạo ra nét riêng cho từng vùng. Du khách du lịch luôn muốn tìm hiểu về các giá trị văn hóa cổ truyền.
9)      Cải thiện mức thu nhập luôn gắn liền với các giá trị: ngân sách từ thuế cho cơ quan nhà nước, doanh thu và lời nhuận cho lương bổng và tiền thưởng cho doanh nghiệp nhà nước. Đó là giá trị mà thị trường Việt Nam sẻ dần dần hoàn thiện trong tương lai.

Khi nói đến các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân trong nước, các cán bộ có thể nhận ra nhiều phương thức được áp dụng cho từng loại doanh nghiệp do nhiều lý do. Doanh nghiệp nhà nước vẩn có ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ so với doanh nghiệp tư nhân. Nhưng ngược lại thiếu sự linh động và đa dạng cho việc phát triển và mở rộng doanh nghiệp trên qui mô toàn cầu. Vinashin có thể phát triển thành một doanh nghiệp phục vụ cho khách hàng trên thế giới. Doanh nghiệp nhà nước này có thể chuyển mình trở thành công ty có giá trị thị trường khoảng 20 tỉ USD trong năm 2030 hay 2040, nếu nguồn ra là sản phẩm chủ đạo có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới.

Khi cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nước, sẻ có nhiều lợi thế và thuận lợi, nhưng bên cạnh đó các giá trị do thị trường quyết định đều tồn tại và tác động đến các quyết định cho lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước. Trung Quốc phát triển doanh nghiệp nhà nước có sự đóng góp của các nhóm doanh nghiệp tư nhân trong nước. Có nghĩa chính phủ Trung Quốc vẩn nắm giữ phần lớn cổ phiếu của doanh nghiệp này, bên cạnh đó bán ra thị trường phần nhỏ cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài hay tư nhân trong nước sở hữu dưới 30% tổng giá trị của cổ phiếu lưu hành.

Nhưng hiệu quả mà doanh nghiệp nhà nước vẩn phải theo đuổi là tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường nội địa và nước ngoài. Các công ty của Trung Quốc có vốn do nhà nước đầu tư đả không ngừng gia tăng sử dụng công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, sau đó cải thiện dần với các giá trị sáng tạo nội địa tạo ra sản phẩm cạnh tranh trong và ngoài nước. Trong khi đó các quốc gia như Nhật Bản, chính phu hổ trợ ngân sách nghiên cứu và phát triển công nghệ kỷ thuật cao cho các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu trong giai đoạn 1950s đến 1990s. Đó củng là biện pháp hổ trợ mà chính phủ muốn các doanh nghiệp nội địa có thể phát triển lớn mạnh trước các công ty nước ngoài. Như vậy các doanh nghiệp có vốn của nhà nước sẻ có nhiều lợi thế hơn là các doanh nghiệp tư nhân, sẻ dể dàng phát triển kỷ thuật mới, sản phẩm mới, thị trường mới. Nhưng cán bộ quản lý của doanh nghiệp nhà nước phải luôn áp dụng các chính sách linh động, đa dạng dựa trên mối quan hệ cung cầu của thị trường, nhằm hạn chế việc thất thu vốn, gây thua lổ và kéo chính phủ vào trả nợ dùmg như công ty Vinashi đả làm.

Phần lớn các ngành công nghiệp mủi nhọn như khai thác dầu khí, khoáng sản, năng lượng, điện, cung cấp nước, đóng tàu thủy, xe lửa, xe điện, sản xuất máy bay, xe hơi, xe chuyên dùng, máy công nghiệp nặng, ngân hàng, có sự tham gia về vốn hơn 80% thuộc sở hữu của chính phủ. Nhưng chính phủ vẩn tạo ra sự đa dạng trong việc quản lý nhân sự, kỷ sư thiết kế, chuyên gia đầu tư, do đó trong ban lảnh đạo của doanh nghiệp sẻ có một hay vài người thuộc nhóm tư nhân bên ngoài, vì họ sẻ đóng góp cho việc phát triển của doanh nghiệp có lợi cho quốc gia. Nhưng quyền sơ hữu vẩn thuộc nhà nước. Chính phủ Nhật Bản vẩn mua cổ phiếu của các công ty lớn như viễn thông, năng lượng, ngân hàng, đầu tư bất động sản, xây dựng của các doanh nghiệp trong nước tạo sự cân đối của hoạt động kinh doanh tại các công ty này. Phần lớn các công ty đứng đầu của Trung Quốc vẩn có số lượng lớn cổ phiếu nằm trong tay chính phủ như ngân hàng, công ty khai thác dầu, khai thác quặn và điện, viễn thông, điện thoại di động, đóng tàu, sản xuất máy tín.

Có lẻ các giá trị mà bất cứ doanh nghiệp nào tham gia vào thị trường đều phải quan tâm có liên quan đến việc khai thác thị trường, xử dụng vốn đầu tư vào các kế hoạch cụ thể, nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua công nghệ tiên tiến và sự sáng tạo không ngừng. Tìm thị trường và mời đối tác để gia tăng giá trị cạnh tranh khi thâm nhập thị trường có nhiều đối thủ và yêu cầu chất lượng cao.

Do tính khách quan của sự thành công mà mọi doanh nghiệp có thể thu được, cán bộ quản lý sẻ tự chọn ra các phương châm và khẩu hiệu riêng cho doanh nghiệp của mình. Nhằm động viên, khuyến khích đội ngủ nhân viên tham gia tích cực vào các công đoạn kinh doanh sản xuất nhiệt tình, trách nhiệm, học hỏi, tương trợ, cùng nhau phát triển. Các nội qui được áp dụng cho nhân viên củng khác nhau giữa ba môi trường. Cơ quan nhà nước không có sự áp lực mang tính cạnh tranh về mối quan hệ cung cầu của thị trường kinh tế, do đó thái độ làm việc sẻ có phần thư thả và thoải mái hơn. Ngoài ra, cơ quan nhà nước không có đối thủ cạnh tranh như hai môi trường làm việc của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Nhưng nhà nước có nhiều đối thủ cạnh tranh về sức hút đầu tư và giá trị kinh tế của quốc gia. Do đó các chính sách mà chính phủ ban hành có thể thay đổi thái độ đầu tư và quan hệ mậu dịch với các quốc gia nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài.

Cơ quan nhà nước có lẻ chịu một áp lực duy nhất là cơ quan cấp trên khi có nhiều ứ động công việc hay quản lý nguồn tài chính do ngân sách nhà nước phân bổ cho. Nhưng khi nền kinh tế phát triển theo sự liện hệ gắn liền giữa ba nhóm với nhau, thì cơ quan nhà nước sẻ nhận ra nếu hiệu xuất và tốc độ làm việc của họ không đồng bộ với hai nhóm tư nhân trong và ngoài nước thì tốc độ phát triển của nền kinh tế sẻ bị khựng lại theo hai nghĩa giá trị gia tăng của lợi nhuận và số lượng hàng hóa và dịch vụ lưu thông tại thị trường, bao gồm cả việc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Do đó, phần này sẻ nói về hiệu xuất của phương thức làm việc và hiệu quả của năng lực khi làm việc trong môi trường có sự tương tác lớn cho công việc tại ba nhóm chính tại thị trường Việt Nam. Từ “Chính sách một cửa” có thể giải thích việc các cơ quan nhà nước  sẻ áp dụng các biện pháp quản lý kinh tế theo các giá trị: giảm thời gian không cần thiết cho các thủ tục có thể gây tác hại cho nền kinh tế của Việt Nam. Điều rất dể hiểu là mỗi một công dân Việt Nam sẻ có ít nhất là ba nhiệm vụ căn bản: làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, làm việc gia tăng giá trị kinh tế của công ty mà họ đang làm việc, và cuối cùng là làm lợi cho quốc gia thông qua đóng thuế trong các giá trị thu nhập, tiêu dùng và xử dụng. Do đó thời gian của họ sẻ mang ý nghĩa quan trọng cho đất nước Việt Nam. Dân có giàu thì nước mới giàu và thịnh vượng. Do đó hiệu xuất và tốc độ xử lý công việc của các cơ quan nhà nước sẻ trực tiếp tác động lên nền kinh tế trong tương lai. Các thủ tục xuất nhập khẩu, xin giấy phép kinh doanh và thuê mướn luôn cần có sự quan tâm của chính phủ nhằm tạo ra một xa lột lưu thông hàng hóa với hiệu xuất cao nhất. Mức lương của cán bộ và nhân viên làm việc trong các cơ quan chính phủ củng tác động đến thái độ làm việc hiệu quả hơn và mang giá trị chuyên nghiệp và đồng bộ cao trong thời gian tới. Muốn có mức lương tăng thì ngoài khả năng ngân sách của chính phủ cấp cho từng cơ quan và các thu nhập riêng, các cơ quan củng có thể thành lập các quĩ đầu tư tài chính tạo ra lợi nhuận để hổ trợ lương bổng và tiền hưu trí của mọi thành viên trong cơ quan. Đó là một việc làm tích cực trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường.

Khi một cán bộ nhận ra giá trị của mình trên tỉ lệ tạo ra giá trị kinh tế cho cơ quan chính phủ hay doanh nghiệp tư nhân, cán bộ sản thay đổi thái độ làm việc, đồng thời luôn nâng cao khả năng xử lý công việc và cải thiện môi trường làm việc của mình và nhân viên cấp dưới của mình. Đó là điều mà bất cứ cán bộ nào củng sẻ tiếp thu và nhận ra khi cá nhân mình đóng góp nhiều hơn cho tập thể là cơ quan chức năng hay doanh nghiệp tư nhân. Theo sự linh động của phương thức làm việc và thái độ làm việc, một cán bộ sẻ có thể thích ứng vào cả ba môi trường làm việc trong tương lai – cơ quan chức năng của chính phủ, doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp tư nhân nước ngoài.

Cơ quan chức năng có nội qui và phương thức làm việc ảnh hưởng nhiều của quan hệ chính trị và quan hệ kinh tế. Có nghĩa cán bộ luôn cảm nhận mình có nhiều quyền hành và ưu đải hơn trong các mối quan hệ với doanh nghiệp tư nhân, do đó cán bộ của các cơ quan chức năng sẻ có những nhận định khác nhau về tốc độ thực hiện công việc, hay thao tác thực hiện công việc. Ngược lại, cán bộ trong các doanh nghiệp tư nhân sẻ luôn đối phó với thị trường cạnh tranh, nên họ có phải thích ứng với môi trường cạnh tranh kinh tế cho mục tiêu đạt được lợi nhuận trong việc sản xuất và quan hệ với các đối tác trong thị trường. Hai thái độ làm việc này sẻ dần dần thay đổi cách suy nghĩ của một cán bộ làm việc trong cơ quan của chính phủ. Và nó tạo ra một khoảng cách thực tế và ứng dụng của nền kinh tế thị trường và hiệu quả của công việc. Nếu chính phủ muốn nền kinh tế gia tăng ở mức cao hơn hiện nay, thì sẻ có nhiều thay đổi trong phương thức quản lý và phục vụ người dân của cán bộ trong các cơ quan chức năng. Nhưng đó chỉ là lý thuyết, còn thực tế thì sự thay đổi này cần 2 thế hệ hay 3 thế hệ kế tiếp. Tức là sinh viên học sinh được giáo dục theo một chương trình giáo dục cải cách từ 2011-2040. Điều này rất dể nhận ra khi cán bộ đi tu nghiệp nước ngoài sẻ có một phong cách làm việc khác với cán bộ tốt nghiệp quản lý tại các trường đại học trong nước. Nhưng không nhất thiết là ngoại hóa hay âu hóa sẻ tốt cho nền kinh tế Việt Nam. Thực tế là quản lý hiệu quả và giảm mức tối thiểu cho sự lảng phí tài nguyên, cùng với khai thác nhân tài là điều mà cán bộ quản lý luôn đặc vị trí ưu tiên trong tương lai. Bên cạnh đố các tác nhân về chính trị sẻ ảnh hưởng lớn đối với việc cán bộ trong chính phủ thực hiện các cải cách làm việc có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Khi một cán bộ cao cấp của các bộ trong chính phủ được đi tu nghiệp quản lý nhân sự, tài chính, tiền tệ, tài nguyên, khoa học kỷ thuật tại một quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Nhật, Singapore, Úc, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, điều mà cán bộ này có thể nhận ra là khái niệm thời gian, hiệu xuất, năng xuất, và chi phí thấp luôn được nhắc đến trong các khóa học. Bên cạnh đó quản lý nhân sự và tài nguyên theo mục đích xã hội, kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc gia và môi trường, sức khỏe con người. Mà kết quả của các quốc gia có thu nhập cao đều ứng dụng các khái niệm vào công tác quản lý hành chính trong các cơ quan trực thuộc của chính phủ để giúp nền kinh tế phát triển đa dạng và hiệu quả. Sự phát triển kinh tế theo nghĩa càng có nhiều doanh nghiệp hoạt động tại thị trường, chính phủ sẻ thu vào nhiều nguồn thuế ngân sách cho các hoạt động xã hội, an ninh quốc phòng. người dân có công ăn việc làm nâng cao cuộc sống của họ và đóng góp nhiều hơn cho chính phủ. Sự cải thiện này nâng cao khả năng an ninh quốc gia mà chính phủ có thể đạt được thông qua việc nâng cao khả năng sản xuất của nền kinh tế trong nước.

Trong trường hợp của Công ty Vinashin, chính phủ có thể thay đổi các phương thức kinh doanh để dùng vốn của chính phủ tạo ra lợi nhuận cho chính phủ. Đó là khái niệm chuyển mình từ không có lời thành có lời dưới một cách thức quản lý mới. Nâng cao mức thu nhập của cán bộ quản lý ở mức cao hơn, đồng thời gia tăng liên doanh với các công ty nước ngoài như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đức cho việc cải thiện thiết kế, chất lượng và giá thành nhằm gia tăng đơn đặc hàng trong và ngoài nước. Còn các phương kinh doanh khác do sự phân tích biến chuyển của thị trường tạo ra lợi nhuận đa chiều. Thị trường địa ốc, kinh doanh thương mại và phát triển các lĩnh vực kinh tế khác cần sự linh động và sắc bén cho việc chọn dự án đầu tư. Một công ty nhà nước có nhiều lợi thế là vốn, ưu đải kinh doanh và tìm đối tác trong và ngoài nước. hiệu quả của việc quản lý vốn luôn do khả năng quản lý của cán bộ nhằm đáp ứng ba yếu tố cơ bản: (a) vòng soay của vốn lưu động, (b) tỉ lệ lợi nhuận và vốn đầu tư, (c) khả năng cạnh tranh. Ngoài ra giá thành của các đơn đặc hàng cho tàu vận tải, tàu trở khách, phà, tàu du thuyền giải trí, ca-nô cho di chuyển nhanh lẹ và các loại tàu chuyên dùng có thể được phát triển theo phương thức liên doanh hay tự túc với các chuyên gia nước ngoài và nâng cấp cơ sở hạ tầng của công ty Vinashi, thì không lâu khách hàng của công ty sẻ ở mọi nơi trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.

Trong khi đó, các doanh nghiệp trẻ củng sẻ chọn ra phương thức riêng phù hợp cho môi trường làm việc của doanh nghiệp mà mình đầu tư cho thành công lâu dài. Thường các doanh nghiệp trẻ thành lập công ty riêng của mình ít khi chọn ra khẩu hiệu hay phương châm của kinh doanh cho doanh nghiệp. Nó là kim chỉ nam cho mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng thực hiện. Ví dụ, công ty tài chính sẻ có phương châm kinh doanh “Chúng tôi sẻ giúp khách hàng vừa lòng và cùng nhau phát triển.” hay “Dịch vụ tài chính của chúng tôi đem lại an toàn, tiện lợi và năng lực cho khách hàng.” Trong khi đó doanh nghiệp chế tạo phần mềm sẻ có phương châm riêng, “Dịch vụ của chúng tôi đem lại sự thành công cho khách hàng ở mức chi phí thấp nhất, an toàn nhất.” Nhưng doanh nghiệp phải đáp ứng theo phương châm kinh doanh của mình để giữ uy tín đối với khách hàng, củng như tạo ra sự khách biệc cho doanh nghiệp tồn tại trên thị trường. Các doanh nghiệp về thời trang củng có những phương châm kinh doanh cụ thể cho sản phẩm của mình, nhưng “sản phẩm của chúng tôi luôn đem lại niềm lạc quan, kiêu hảnh cho các bạn trẻ.” hay “Sự thanh lịch, thoải mái, và tiện lợi là mục tiêu của chúng tôi.” Và doanh nghiệp đó phải thực hiện đúng phương châm kinh doanh của mình nhầm gia tăng tính yêu cầu cao của khách hàng.

Ngược lại nếu một bạn trẻ muốn thử thách vai trò và năng lực của mình tại một doanh nghiệp nước ngoài, thì bạn sẻ làm gì? Cán bạn trẻ đó sẻ luôn tự hỏi công ty đó sẻ yêu cầu gì và các tiêu chuẩn làm việc là gì. Trong đầu của các ứng cử viên cho các vị trí quản lý như trưởng phòng, phó giám đốc, họ sẻ nhận ra các tiêu chuần hay thước đo sau: (1) trình độ học vấn có phù hợp cho công việc đó hay không, (2) có kinh nghiệm hay chưa có kinh nghiệm, (3) khả năng thích hợp cho công việc, (4) trình độ ngoại ngữ trong giao tiếp, (5) khả năng hy sinh hay mức độ nhiệt tình cho công việc, (6) khả năng học hỏi và xây dựng mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng, và đối tác, và (7) hiểu giá trị của lương bổng, quyền lợi và sự thành công của công ty. Bảy khía cạnh hay tiêu chuẩn mà ít khi một người xin việc làm chuẩn bị cho mình trước sự đòi hỏi của một công ty nội địa hay nước ngoài. Mục tiêu mà công ty này muốn thành công là lợi nhuận và thị phần trên thị trường.

Công ty là một tập thể của nhiều thành viên có nhiệm vụ khác nhau, nhưng sự đóng góp của mỗi cá nhân luôn gắn liền với nhau. Sự phấn đấu là điều cần khuyến khích, nhưng đôi lúc sự kích thích cạnh tranh không phù hợp hay bị hiểu sai đi, tạo ra sự thù ghét cá nhân hay giữa nhóm này và nhóm khác. Cuối cùng các mâu thuẩn như vậy không chỉ làm tiêu tốn tài nguyên của công ty mà còn trì hoản các dự án hay các mục tiêu kinh doanh và hoạt động kinh tế. Ví dụ như, khi một công ty chuyên sản xuất đồ điện tử bao gồm điện thoại di động, ti-vi, máy vi tính. Do đó công ty sẻ có ba nhóm nghiên cứu và phát triển cho các sản phẩm trong nhóm sản phẩm của mình. Có nghĩa cả ba nhóm cần xử dụng tài nguyên của công ty, nhưng mổi nhóm lại có sự hạn chế về tài nguyên, ngân sách, nhân lực để tập trung vào việc phát triển sản phẩm. Nếu nhà quản lý cấp cao điều phối tài nguyên cho cả ba nhóm, sẻ luôn nhận định dù nhóm nào thành công thì giá trị lợi nhuận vẩn đóng góp vào nguồn tài sản của công ty. Nếu do sự truyền đạt thông tin không chính xác, trưởng nhóm của ba nhóm sản xuất lại mong muốn nhóm của mình được ưu đải nhiều hơn cho việc phát triển sản phẩm, có thể dẩn đến sự thất thoát tài nguyên do việc làm trì hoản các nhóm khác không hoàn thành công việc. Hơn thế nủa, nhân viên của các nhóm có thể hỗ trợ cho nhau, nếu thời gia cho phép, củng như khả năng đóng góp cho từng nhóm mà các nhân viên này tham gia. Một thiết kế giỏi, có thể thiết kế mẫu mã cho cả ba nhóm, hay kỷ sư điện tử có thể ứng dụng các chức năng cụ thể cho từng nhóm một. Nhất là ứng dụng cho việc bảo mật thông tin, nếu các thiết bị có các ứng dụng internet.

Trong môi trường làm việc và giao tiếp cho các nghành liên quan đến giao dịch quốc tế, nhân viên và cán bộ ViệtNamsẻ có những tiếp xúc với đối tác nước ngoài và làm việc trong môi trường kinh doangh mới. Cách thức xử lý công việc và đảm bảo tính an toàn và an ninh của công việc tránh những thất thoát về thông tin mật kinh tế, kinh doanh, và kỷ thuật. Nhiều nhân viên nội địa không nhận ra sự quan trọng của cách thức quản lý thông tin nội bộ và quản lý nhân sự trong môi trường liên doanh hay 100% vốn đầu tư nước ngoài, và thường tạo ra những mâu thuẩn hay sai sót đối với chủ quản và thượng cấp là người nước ngoài. Khi chấp nhận làm việc cho công ty liên doanh hay 100% vốn nước ngoài, nhân viên thường sẻ so sánh mức lương của họ nhận được từ công ty, và thảo luận với người khác. Có thể là cùng làm chung sở làm hay khác sở làm. Thói quen này có thể xem là bình thường ở xã hội ViệtNam, nhưng đôi lúc nó sẻ tạo ra nhiều mâu thuẩn, nhiều khi còn gây ra các vấn đề xung đột giữa nhân viên và nhân viên, hay nhân viên và thượng cấp.

Các yếu tố văn hoá và cá tính không thể thay đổi dể dàng, nhưng nếu có sự nhận xét và phân tích có lợi cho công ty, thì chắc chắn không người nhân viên nào mà không mong muốn. Nếu hai nhân viên cùng làm việc trong một khâu, nhưng một ngưòi có mức lương cao hơn người kia. Nếu cả hai người không biết mức lương của nhau, thì họ sẻ vui vẻ làm việc, không có sự thắc mắc hay khiếu nại nào. Còn không cả hai sẻ có những thái độ thù nghịch hay ganh tị do các yếu tố chủ quan. Nếu một nhà quản lý giỏi sẻ nhận ra người nhân viên có mức lương cao hơn, có khả năng thay thế người khác làm công việc hay giúp đở người khác làm công việc hiệu quả hơn. Đó sự đánh giá ngầm của người quản lý nhằm tăng tính hiệu quả, nhưng không làm các cấp dưới có những mâu thuẩn với nhau. Đó là lý do của sự trênh lệch về mức thu nhập có tính tích cực khi mọi người cảm nhận là nếu họ làm tốt hơn, thì họ sẻ có được phần thưởng xứng đáng.

Kế tiếp là khái niệm giá trị lao động trong một công ty khi các nhân viên làm việc có khái niệm ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao. Có ba trường hợp khi nhân viên nhận xét đồng nghiệp của mình không hoàn thành công việc được giao. Phản ứng một là dửng dưng. Phản ứng thứ hai là chủ động giúp đở. Phản ứng thứ ba là báo cáo với cấp trên. Vậy trong ba cách phản ứng, thì cách nào có giá trị đóng góp cho công ty, cho bản thân, và cho tập thể. Sự dửng dưng là phản ứng có ý nghĩa tiêu cực nhất. Còn phản ứng tự nguyện giúp đở củng có một mặt tiêu cực tạo ra sự ỷ lại của đồng nghiệp. Còn phản ứng thứ ba là báo cáo với cấp trên có thể gay ra tranh cải, mâu thuẩn, và thù hận với đồng nghiệp. Do đó cách tốt nhất là thảo luận các vấn đề đó với cấp trên trước, hay trong các buổi họp tập thể ở gốc độ khách quan, tạo ra ý nghĩa đóng góp cho công ty, chứ không phải là ác ý muốn hại ngưòi khác cho quyền lợi của mình.

Ngoài ra sự khác biệt giá trị lao động giũa hai thị trường là điều tất nhiên do điều kiện kinh tế và phát triển xã hội của mỗi thị trường quyến định. Một nhân viên khi làm việc cho một công ty nước ngoài không nhất thiết phải so sánh mức lương của mình với các nhân viên làm một công việc tương tự tại các quốc gia khác. Nếu mức lương ở ViệtNamlà 600 USD có thể nói là tương đương với 2400 USD theo tỉ giá của các loại sản phẩm căn bản. Do đó các công ty nước ngoài mới đầu tư vào thị trường ViệtNamcho các sản phẩm đòi hỏi nhiều ở sức lao động. Vì nếu một công nhân may mặc tại Hoa Kỳ có mức lương là 8 USD đến 12 USD một giờ, so với mức lương mà công ty may mặc taị Việt Nam trả cho nhân viên một tháng là 60 USD đến 100 USD, thì nhân viên Việt Nam có thể xem mức lương của mình quá thấp, nhưng đó là giá trị so sánh cạnh tranh mà thị trường Việt Nam thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Ở Nhật mức lương cho một nhân viên ở một tiệm tạp hóa (convenient store) có mức lương từ 800 Yen đến 1200 Yen (khoảng 9 USD đến 14 USD ở tỉ giá 83 Yen/ một đô-la). Giá trị so sánh trong nền kinh tế toàn cầu hóa, tạo ra sự chuyển dời các công việc tay chân, cần nhiều sức con người sang các quốc gia đang phát triển và mới nổi lên nhằm đóng góp lợi nhuận cho các nhà đầu tư của các công ty đa quốc gia.

Do đó khái niệm giá trị so sánh không hoàn toàn đúng theo nghĩa giá trị cung và cầu và các chỉ số tương ứng của thị trường. Nhất là so sánh giá trị của lương ở doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường ViệtNam. Nếu mức lương ở Trung Quốc và Việt Nam gia tăng từ từ lên bằng các quốc gia như Nam Triều Tiên và các nước Đông Âu, thì sự cạnh tranh của thị trường Trung Quốc và thị trường Việt Nam sẻ chuyển từ các ngành kinh tế cần nhiều sức lao động con người sang các ngành kinh tế cần nhiều tư duy, sáng tạo, có kiến thức, và sự nhạy bén trong khả năng phân tích thị trường và công nghệ kỷ thuật cao. Đó là giá trị gia tăng của môt thị trường từ gia công chế biến sang sáng tạo và thiết kế và nghiên cứu. Singapore và Hồng Kông củng đả chuyển đổi từ kinh tế cần sức lao động sang kinh tế cần vốn và hoạt động trí tuệ sáng tạo.

Nếu một kỷ sư phần mềm Việt Nam có thể viết ra những chương trình ứng dụng cho các doanh nghiệp kinh tế như chương trình phần mềm quản lý khách hàng của các công ty bảo hiểm y tế, ngân hàng, trường học, bệnh viện, siêu thị mua sắm, thì mức lương mà người kỷ sư này có thể kiếm là vài ngàn đô-la từ các công ty phần mềm tại Việt Nam. Bởi vì các chương trình đó trực tiếp bán ra cho khách hàng không qua nhiều khâu trung gian như các loại hàng hóa khác. Nếu một công ty phần mềm của Hoa Kỳ trả lương cho kỷ sư phần mềm là 50 ngàn USD cho đến 150 ngàn USD một năm, thì họ sẻ dựa trên giá trị đóng góp của kỷ sư viết chương trình phần mềm thương mại cho một dự án theo yêu cầu khách hàng. Họ sẻ ước tính số lượng dòng mã viết mà các kỷ sư cùng nhau viết ra chương trình mà trả tiền cho các kỷ sư. Nhưng các giá trị bản quyền và lợi nhuận từ việc bán ra các phiên bản là lợi nhuận cho công ty đó trên giá trị gia tăng như trường hợp của công ty Microsoft và các phiên bản Window. Công tay Microsoft đầu tư hơn 1 tỉ USD cho các kỷ sư phần mềm viết các chương trình hệ điều hành Vista. Như vậy họ tính vào doanh thu bán bán quyền của hệ điều hành cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp lớn, chính phủ, trường học và các nhóm hoạt động khác.

Sự cạnh tranh của thị trường lao động ngày nay không còn bị giới hạn trong một quốc gia, mà nó lang ra khu vực xung quanh hay trên toàn thế giới. Nếu các sinh viên viết chương trình phần mềm, thiết kể mẫu mả, thiết kế sản phẩm điện tử dân dụng hay công nghiệp, các loại máy móc cơ khí, thì các công ty nước ngoài sẻ sẳn sàng tăng mức lương để chiêu mộ các nhân tài về với công ty. Nếu một nhóm kỷ sư công nghệ thông tin của Việt Nam gồm 20 người có thể hoàn thành một chương trình ứng dụng cho một công ty Nhật Bản là ngân hàng đầu tư quốc tế. Giá đặc hàng là 2 triệu USD, và nhóm này hoàn thành trong 6 tháng. Nếu trung bình một kỷ sư nhận mức lương là 500 USD, thì tổng số chi phí lương cho 20 nhân viên này là (20x500USDx6)= 60 ngàn USD. Các chi phí thuế, thuê mướn văn phòng, các thiết bị và các dịch vụ khác là 500 ngàn USD, thì công ty đầu tư vẩn kiếm đợi lợi nhuận là hơn 1 triệu 440 ngàn USD. Nhưng khi có nhiều công ty nước ngoài mở văn phòng tại Việt Nam, họ cần các kỷ sự giỏi, nhưng vì thị trường không có nhiều kỷ sư như yêu cầu, do đó mức lương trả cho các kỷ sư có thể được tăng lên là 700 USD một tháng. Như vậy lợi nhuận của một hợp động 2 triệu USD trong 6 tháng sẻ giảm xuống. Ngoài chi phí trả lương tăng từ 60 ngàn USD lến 84 ngàn USD, công ty này củng sẻ có nhiêu chi phí gia tăng khác: như tiền thuê văn phòng và các chi phí khác. Lúc đó nhà đầu tư sẻ tiếp tục làm bài toán so sánh về giá cả chi phí cho việc có nên đầu tư ở ViệtNamhay không. Khi đó người lao động sẻ tự nhận thức rằng họ muốn có việc làm lương cao thì họ cần có trình độ chuyên môn hay nói cách khác là họ cần tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học, hay bằng cấp thạc sỉ và tiến sĩ.

Những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao, thì giá trị GDP do các ngành kinh tế dịch vụ đóng góp cao hơn 60%, so với các ngành kinh tế nông nghiệp chỉ đóng góp một phần nhỏ từ 2% đến 5%. Như Nhật Bản, kinh tế nông nghiệp chỉ đóng góp 1.5 % cho GDP của Nhật, là khoảng 73.6 tỉ USD, trong khi đó kinh tế dịch vụ đóng góp đến 72.3% GDP là khoảng 3550 tỉ USD, còn kinh tế công nghiệp đóng góp 26.3% GDP là khoảng 1291 tỉ USD trong năm 2008. So với Trung Quốc thì nông nghiệp đóng góp 11.3% GDP là khoảng 489 tỉ USD, công nghiệp đóng góp 48.6% GDP là khoảng 2103 tỉ USD, kinh tế dịch vụ đóng góp 41.1% GDP là khoảng 1778 tỉ USD. Úc có mức đóng góp của nông nghiệp là 3.4% GDP là khoảng 34.4 tỉ USD, công nghiệp đóng góp 26.8% GDP là khoảng 271.4 tỉ USD, và dịch vụ đóng góp 69.8% GDP là khoảng 707 tỉ USD trong năm 2008.

Sự phát triển kinh tế của một thị trường luôn có khuynh hướng gia tăng mức sống của người dân. Hay nói cách khác làm giá cả sinh hoạt gia tăng, lẩn các nhu cầu khác tạo ra nhu cầu nâng cao nhiệp vụ, trình độ kiến thức để có thể tìm được một việc làm có mức lương phù hợp chi trả các khoảng chi phí cho người đó. Nếu lương bình quân của một công nhân đứng máy tăng lên là 100 USD, và kỷ sự lập trinh vi tính có mức lương là 600 USD, giám đốc công ty là 1000 USD; như vậy chi phí hành chính của các công ty củng gia tăng lên. Nhà đầu tư sẻ muốn thay đổi phưong thức đầu tư nhằm đảm bảo mức lợi nhuận phù hợp thông qua các khả năng cạnh tranh khác. Thường họ sẻ nhắm đến thị trường lao động theo trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và khả năng sáng tạo để đầu tư và khai thác cho mục tiêu lợi nhuận. Công ty Trung Quốc có hậu thuẩn của chính phủ mua thương hiệu IBM PC rồi sau đó đổi tên thành Lenovo có giá trị thượng mại toàn cầu không qua quá trình tạo uy tín của thương hiệu. Nay công ty điện tử NEC của Nhật Bản muốn liên kết với Lenovo cho việc khai thác thị trường máy tính cá nhân, vì cả hai muốn chia sẻ lợi nhuận lâu dài. Trong khi đó NEC có thể tập trung vào việc nghiên cứu chế tạo các sản phẩm chủ đạo khác.

Nhu cầu nguồn lao động cho các khu chế xuất, doanh nghiệp liên doanh, quốc doanh, và liên doanh luôn đòi hỏi nhân công lành nghề về kiến thức, ý thức cao, trách nhiệm trong công việc, và tinh thần tự hào dân tộc. Sự khác biệt giữa làm việc cho công ty nội địa và nước ngoài là tâm lý của lợi ích cho người chủ công ty. Nhưng do sự khác biệt của môi trường đầu tư và sở hữu cổ phần doanh nghiệp, các công ty đa quốc gia không còn mang tính chất sở hữu của một quốc gia mà là cổ đông từ nhiều quốc gia. Vì vậy nhân viên hay cán bộ ViệtNamcó thể thay đổi thái độ về giá trị lao động trong công việc ở công ty nội địa và công ty nước ngoài. Nếu người làm công Việt Nam có thế học hỏi kinh nghiệm trong môi trường làm việc ở công ty nước ngoài và sau này thành lập công ty của riêng mình hay làm việc các công ty khác phù hợp với năng lực và phát triển nghề nghiệp. Thực chất mỗi công ty tạo ra một đóng góp kinh tế cho quốc gia sở tại bằng cách tạo ra công ăn việc làm, thu nhập cho người tiêu dùng, đóng thuế cho chính phủ, khai thác nguồn nhân lực tài nguyên hợp lý. Cho dù đó là công ty nội địa hay nước ngoài.

Môi trường có nhiều công ty cạnh tranh sẻ kích thích các doanh nghiệp trong và ngoài nước luôn cải thiện các qui trình sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao. Những cải thiện luôn bắt đẩu bằng các giá trị ưu việc hơn các đối thủ cạnh tranh nhằm gia tăng mức doanh thu của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp của luôn tự đặc vị trí của họ vào trong môi trường có mối quan hệ với các xã hội, môi trường thiên nhiên, và giá trị tương lai. Nếu những giá trị đó luôn nâng cấp đó thể hiện trong việc một doanh nghiệp thực hiện hiện đại hóa công nghiệp dây chuyền cho số lượng sản phẩm ở mức giá hợp lý, thì sự nâng cấp của doanh nghiệp sẻ là theo đuổi các mục tiêu mới gắn liền lợi nhuận cho doanh nghiệp với lợi ích của xã hội, và môi trường toàn cầu. Giống như sự ảnh hưởng ô nhiểm ở thị trường Trung Quốc tạo ra những thay đổi ở tận tiểu bang California ở Hoa Kỳ. Những thay đổi thời tiết như vậy đả thuyết phục các quốc gia thực hiện các biện pháp mới cho việc khai thác lợi nhuận trong sự tôn trọng và gìn giử môi trường tự nhiên. Có thể doanh nghiệp làm ngơ việc ô nhiễm môi trường trong vài năm đầu, nhưng sau đó các hậu quả gây ra sẻ tác động đến điều kiện sinh số của người dân, do đó chính phủ phải cang thiệp và có biện pháp xủ lý thích đáng. Nếu nền kinh tế của Trung Quốc vì lợi nhuận trước mắt không hạn chế và khắc phục ô nhiểm thì từ từ các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa, tim mạch sẻ làm suy yếu nguồn lao động của Trung Quốc, lúc đó Trung Quốc sẻ nhận ra cái giá phải trả là rất lớn. Hầu như không khắc phục được nhất là khi các ô nghiểm tác động đến gen di truyền của các thế hệ tiếp theo.

Sự cọ xát hay tiếo xúc của các doanh nghiệp trên một hay nhiều thị trường luôn tạo một áp lực cho các doanh nghiệp không bao giờ chấp nhận các thành công ở hiện tại, họ phải tiếp tục theo đuổi công việc chế tạo ra sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn và hoàn thiện hơn. Nhờ các công ty nước ngoài hoạt động trong thị trường nội địa, các công ty nội địa sẻ có những thay đổi tích cực trong cơ cấu quản lý nhân sự, vật tư, khách hàng, vận chuyển, phân phối thích ứng và năng động. Khái niệm về kinh tế thị trường giúp các doanh nghiệp và nhà sản xuất sẻ phân tích thị trường người tiêu dùng lẩn thị trường cung cấp nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, vật liệu thõa mản nhu cầu của khách hàng. Trong khái niệm làm việc của một cán bộ quản lý và nhân viên trong một công ty đa quốc gia, có thể là công ty của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, cán bộ quản lý sẻ tự hỏi sự thành công của bản thân chính là giá trị đóng góp trong môi trường tập thể mà mình đang là một thành viên. Một công ty thành công có được những thành viên biết làm việc và kết hợp với nhau như ví dụ của một đội đua thuyền bườm. Nếu người thuyền trưởng có thể điều khiển các thành viên làm việc nhịp nhàn, hiệu quả, kỷ luật, tôn trọng, và tương trợ nhau thì con thuyền sẻ tận dụng mọi sức gió giúp con tàu lau tới đích trước các tàu đối phương. Một nhận xét thực tế mà Việt Nam có thể rút tỉa kinh nghiệm là tham quan các nơi như sau: Thượng Hải, Hồng Kông, Seoul, Tokyo, Taipei, Singapore, Bangalore của Ấn Độ, Silicon Valley của California để so sánh hoàng cảnh xã hội, kinh tế, con người rồi thành lập một ủy ban chuyên môn cho việc phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2012-2030. Tôi hy vọng mình sẻ đóng góp vào kế hoạch này.


Giáo Dục Kiến Thức và Nhân Cách

“Kiến thức giúp con người làm việc khoa học hiệu quả hơn. Nhưng nhân cách quyết định sự sống còn của con người trong mối tương quan với gia đình, cộng đồng, đồng nghiệp, cơ quan, và xã hội.”
*****

Trong kinh doanh quốc tế, nhân viên hay cán bộ trực tiếp giao dịch với đối tác nước ngoài, lẩn các chức năng hoạt động phục vụ thị trường quốc tế cần tích lũy một lượng kiến thức cần thiết. Chẳng hạn lịch sử quốc tế, vị trí địa lý, ngôn ngử, văn hóa, tôn giáo, điều kiện chính trị và kinh tế của doanh nghiệp đối tác hay quốc gia của doanh nghiệp đối tác. Kiến thức giúp cá nhân thấu hiểu những nguyên lý và nguyên tắc của hoạt động tạo ra lợi nhuận cho các bên tham gia trong hoạt động kinh tế hay ngoại giao. Không có cá nhân nào trong nước hay ngoài nước muốn bị thiệt thòi hay thiệt hại trong quan hệ kinh doanh với đối tác. Kiến thức còn giúp ích cho sự phân tích nhạy bén trong tình hình thay đổi trên thị trường. Sự cập nhật kiến thức giúp rất nhiều trong việc đảm bảo tính cạnh tranh, khoa học kỷ thuật, và các vấn đề xử lý tế nhị trong giao dịch. Nhất là các quốc gia như hồi giáo, phật giáo, hay các quốc gia Đông Á có giá trị văn hóa cao về giao tiếp luôn đòi họi các nghi thức cần thiết khi tiếp xúc và làm việc với họ.

Nhân cách của nhân viên và cán bộ là điều kiện thứ hai cùng với điều kiện kiến thức tạo ra sự hoàn hảo của khả năng hoàn thành công việc – “work performance”.

Nếu một công ty muốn kích thích nhân viên của mình làm việc hiệu quả, nhưng vẩn luôn cân nhắc trong việc khen thưởng hợp lý giúp cho nhân viên có một động lực trong làm việc, thì công ty đó sẻ chọn một phương thức hữu hiệu giúp cho công ty đạt được các mục tiên vừa nêu. Cà hai điều kiện này là các điều kiện quan trọng cho doanh nghiệp phát triển trên thị trường. Có nhiều cá nhân hay doanh nghiệp thường chú trọng vào lợi nhuận ngắn hạn hơn là lợi nhuận dài hạn. Do đó họ không cần quan trọng đến hai điều kiện – kiến thức và nhân cách. Nhân cách bao gồm thái độ phục vụ, ngôn ngử xử dụng trong giao tiếp, trách nhiệm, tính chân thật, tôn trọng đối tác, giử lời hứa, và quan tâm đúng mức trong các mối quan hệ trong giao tiếp. Kiến thức giúp nhà quản lý biến điều phối tài nguyên, nhân lực thích ứng cho công đoạn tìm hiểu thị trường, chế tạo sản phẩm, đảm bảo chất lượng, nhiệt tính nhận ý kiến đóng góp và phục vụ khách hàng. Công nghệ và khoa học kỷ thuật cùng với khả năng phân tích, thấu hiểu tâm lý của người tiêu dùng sẻ giúp nhà quản lý đạt được các kết quả ớ mức cao nhất.

Phần đông các doanh nghiệp có môi trường kinh doanh và làm việc mang những yếu tố văn hóa, tư tưởng chính trị khác nhau. Sự trao đổi hằng ngày giữa nhân viên với cấp trên, với đồng nghiệp, với cấp dưới khác có thể khác nhau tạo ra những hàng rào vô hình bên trong nội bộ của doanh nghiệp. Ngây cả chủ doanh nghiệp hay ban quản lý doanh nghiệp có những khẩu hiệu tốt, nhưng không có phương thức trao đổi hữu hiệu thì sẻ có nhiều hạn chế cho việc phát huy nguồn nhân lực bên trong. Các ý kiến tốt, sáng kiến có giá trị có thể sẻ ngủ yên mà không được khai thác cho ích lợi của doanh nghiệp. Thị trường mang tính cạnh tranh, do đó môi trường làm việc luôn cần nhiều ý kiến sáng tạo cho việc cải thiện sản phẩm, nâng cao chất lượng, giảm giá thành, hoàn thiện khâu phục vụ khách hàng.  Tuy nghiên có nhiều cơ quan chính phủ, nhân viên luôn giữ im lặng vì không muốn mất lòng cấp trên, do đó cán bộ lảnh đạo có các biện pháp khác nhau để khuyến khích mọi người đóng góp ý kiến để thực hiện các phương án kinh tế, phát triển xã hội, biên soạn các điều luật, chính sách có lợi cho xã hội, an ninh quốc gia. Còn doanh nghiệp phục vụ người tiêu dùng cần có sáng kiến, sáng tạo các ý tưởng mới từng nhân viên đả tạo ra các sản phẩm có giá trị tốt hơn và giá cạnh tranh hơn.

Nếu một cá nhân có ý kiến đóng góp giúp ích cho doanh nghiệp là tăng lợi nhuận hay cải thiện các khâu trong kinh doanh thì cấp trên cần khen thưởng thích hợp, nhưng củng đồng thời kiểm soát môi trường làm việc luôn có tính tích cực cùng nhau đóng góp, tuyệt đối hạn chế ảnh hưởng của quan niệm ‘Trâu buộc ghéy trâu ăn’ hay ‘cào bằng’ vì có nhiều nhân viên không có năng lực đề ra các ý kiến hay, do vậy khi thấy đồng nghiệp của mình giỏi hơn sẻ đâm ra ganh tị và tìm mọi cách gây trở ngại cho đồng nghiệp làm việc. Nhiều khi vu khống đồng nghiệp để cấp trên trù dập đồng nghiệp. Mỗi cá nhân luôn đặc lợi ích của doanh nghiệp lên trên lợi ích cá nhân, có như vậy thì tất cả mọi người sẻ nhận ra một chân lý ‘Doanh nghiệp phát triển sẻ tạo ra cơ hội tồn tại lâu dài cho doanh nghiệp.’

Trong môi trường cùng nhau tiến bộ, nhân viên sẻ cố gắng hòa hợp vào môi trường để có cơ hội tồn tại lâu dài với nhiều ý nghĩa khác nhau. Chính vì vậy doanh nghiệp cần thiết lập môi trường làm việc và kinh doanh có những tác động tích cực đến nhân viên, cấp quản lý. Có những chính sách giúp cho nhà doanh nghiệp hay chủ tịch hội đồng quản trị trong việc thực hiện các chính sách kinh doanh có lợi theo kế hoạch kinh doanh lâu dài, mang tính tiêu cực cho doanh nghiệp trong thời gian dài. Nếu nhà doanh nghiệp và chủ tịch hội đồng quản trị tạo ra môi trường kinh doanh và làm việc luôn mang tính cầu tiến, cạnh tranh tiến bộ cho mục tiêu chung, thì doanh nghiệp không chỉ nâng cao nghiệp vụ làm việc, mà còn cải thiện mức thu nhập. Ngược lại, doanh nghiệp không chú trọng đến việc khuyến khích nhân viên đóng góp sáng kiến, thì về lâu dài, doanh nghiệp sẻ rò rỉ và thất thoát nguồn chất xám và tài năng trong doanh nghiệp. Có những tài năng sẻ bỏ doanh nghiệp đi làm cho các doanh nghiệp khác.

Chương trình huấn luyện nghiệp vụ và nắm bắc nội qui lao động mang tính bắt buộc cho từng nhân viên trong việc chấp hành các mệnh lệnh, hạn chế các hành vi tiêu cực gây phương hại cho hệ thống quản lý, và mối quan hệ nhân sự trong doanh nghiệp có thể gây ra mâu thuẩn trong nội bộ. Giá trị thiệt hại của các mối mâu thuẩn không tính ra được bằng tiền, do đó càng hạn chế mâu thuẩn trong nội bộ càng giúp doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận. Sư tự do hay năng động trong sáng kiến vẩn là điều khoảng đặc biệt trong quyền lợi và quyền hạn cho phép đối với những nhân viên có khả năng. Sự chống đối hay kích động của cá nhân hay tập thể sẻ bị hạn chế trong các giai đoạn kinh doanh ở mức độ thấp trong quá trình phát triển kinh tế và cạnh tranh thương mại. Khi kiến thức của nhân viên còn hạn chế thì ý thức củng sẻ hạn chế, do vậy doanh nghiệp sẻ áp dụng chính sách tự giác và tránh nhiệm dựa trên trình độ học vấn và mức lương của nhân viện. Khi trình độ học vấn được cải thiện trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn tạo môi trường học hỏi để động viên nhân viên nâng cao tay nghề, tinh thần trách nhiệm, kiến thức nghiệp vụ và quản lý. Thường các công ty thuê mướn nhân viên có trình độ kiến thức thấp sẻ có các biện pháp khen thưởng va kỷ luật khác với các công ty thuê mướn nhân viên có trình độ kiến thức cao. Đó là khiá cạnh tế nhị giữa hai khái niệm kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội cộng với ý thức tự giác cao tạo ra sự đồng bộ trong các liên kết kinh tế. Còn trường hợp phải dùng kỷ luật cao cùng với sự khen thưởng động viên hợp lý để kích thích công nhân trong các công xưỡng, nhà máy làm việc hiệu quả hơn và hệ thống hóa hơn.

Doanh nghiệp sẻ tạo ra sự cố gắng và vươn lên của nhân viên khi nhân viên nhận ra sự cố gắng của họ được đền bù xứng đáng qua mức lương, thăng cấp trong công việc, và các hổ trợ tài chính ưu đải khác giúp nhân viên có cuộc sống ổn định và hạnh phúc hơn. Doanh nghiệp có thể được xem là gia đình thứ hai của mọi thành viên. Nhân viên được động viên cho việc không ngừng cải thiện khả năng hoàn thành công việc của họ lẩn việc học hỏi trao dồi kiến thức trong môi trường làm việc và học hỏi. Tùy theo cơ cấu phát triển văn hóa và chính trị, mỗi doanh nghiệp sẻ chọn ra mô hình làm việc và kinh doanh riêng giúp cho doanh nghiệp có thể nuôi dưởng tài năng và khuyến kích tài năng phát triển.

Cán bộ quản lý tại cơ quan chính phủ, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài đều có cùng một quan niệm chung là khả năng khai thác thị trường Việt Nam dựa trên các yếu tố sau: (a) con người, (b) tài nguyên, (c) cơ hội trong và ngoài nước, (d) sự hổ trợ hay kết hợp đồng bộ giữa các tác nhân trong thị trường, (e) tiêu chuẩn quốc tế của vận hành và áp dụng các công nghệ khoa học kỷ thuật. Mà phần lớn mọi người luôn nói đến giá trị của vốn. Vì nó giúp cho nền kinh tế của Việt Nam thu hẹp về khả năng khai thác tài nguyên, con người, cơ hội để gia tăng giá trị của sản phẩm sau tốt hơn sản phẩm trước, hay lợi nhuận sau nhiều hơn lợi nhuận trước. Vậy vốn mang giá trị quan trọng đi kèm với khả năng tư duy của đội ngủ cán bộ lảnh đạo.

Hiện tại thị trường Việt Nam đang chuyển biến theo nhiều chiều hướng khác nhau do tác động của các nguyên tắc mà chính phủ đang cố gắng áp dụng nhằm tạo ra nhiều công việc, gia tăng nguồn đầu tư quốc tế, tăng ngân sách qua giá trị kinh tế xuất khẩu. Có nhiều cơ hội cho các bộ trong các cơ quan chính phủ tham gia kinh doanh trong các hoạt động kinh tế ớ mức thấp, trung và cao. Tùy theo khả năng phán đoán và phân tích, các doanh nghiệp có vốn của các bộ trong chính phủ sẻ đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc dân. Nhưng sự khác biệt giữa phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của trung ương đảng hay chính phủ và quản lý kinh tế thị trường do sự quản lý tuyệt đối của chính phủ là khả năng nhạy bén đối với sự điều tiết các nguồn thu chi ngân sách cho các ngành kinh tế. Tùy theo khả năng như vậy mà chính phủ có thể giúp lượng vốn, hổ trợ kỷ thuật, pháp lý, chuyên môn kịp thời cho một ngành kinh tế nào đó của quốc gia. Mà muốn được như vậy chính phủ phải có hay phương thức tạo ra nguồn thu ngân sách và chọn nguồn ra cho chi thích hợp. Đó là giá trị thích ứng linh hoạt thay đổi trong từng giai đoạn chính trị và kinh tế xã hội. Các giá trị chính trị mà cán bộ lảnh đạo trung ương có thể áp dựng cho viện quản lý nhân cách của mọi thành viên nắm các vị trí quan trọng. Bởi vì tư tưởng và hành vi luôn mang giá trị liên kết tác động lên các hoạt động kinh tế. Nền kinh tế có mức GDP là 104 tỉ USD sẻ khác với nền kinh tế có mức GDP là 900 tỉ GDP. Khi đó mọi quyết định không còn mang tính cảm tích đơn giản mà nó gắn liền với các suy luận logic, toán học thống kê, các loại toán kinh tế của lợi nhuận và rủi ro. Nhất là mọi thức có sự liên hệ với các thị trường quốc tế. Sự khác nhau giữa hai nền kinh tế trong việc chính phủ tham gia vào quản lý nền kinh tế ở mức động nào. Đó là điểm then chốt. Tiếp theo là khả năng của chính phủ trong việc điều phối tài nguyên ở qui mô lớn hơn, nó không còn là một thị trường thu hẹp, mà là một thị trường nối kết vớc các thị trường trên toàn thế giới. Một ngày nào đó, các sản phẩm với dòng chử ‘made-in-Vietnam’ sẻ đi đến mọi ngỏ ngách trên toàn cầu. Từ một người dân Nam Phi, một học sinh ở Mông Cổ, một nhân viên ở Bra-xin, một người bán hàng tại Hoa Kỳ, một doanh gia tại Nhật đều xử dụng đến chiếc máy chụp hình mang nhản hiệu Canon, nhưng được lấp ráp và nghiên cứu bởi các kỷ sư và công nhân Việt Nam. Hay một ngày nào đó, dòng chử Vinashi sẻ thấy ở nhiều nơi trên thế giới, khi các tàu buôn, tàu chở hàng, phà chở khách, du thuyềt, ca-nô được đóng và thiết kế tại các công xưởng và ụ tàu của công ty Vinashi. Làm sau điều đó có thể xãy ra trong vòng 5 năm hay 10 năm nửa?

Câu trả lời là sự đóng góp của toàn thể cán bộ lảnh đạo trong các cơ quan của chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân. Một chiếc tàu xuất xưởng cần có nhiều linh kiện, vật liệu, trình độ chuyên môn của các kỷ sư và các nhà cung cấp trong và ngoài nước. Một chiếc máy chụp hình kỷ thuật số củng cần những giá trị tương tự. Một công ty thành công luôn có sự đóng góp của nhiều công ty thành công khác.

Do đó nguồn vốn đang nằm yên một chổ là điều không nên, vì nền kinh tế Việt Nam cần nguồn vốn cho việc mở rộng kinh doanh. Cơ sở hạ tầng là điều sống còn cho nền kinh tế Việt Nam. Nó như là nền móng cho một cao tầng 100 được xây trên một khu đất trước đây là một con lạch nhỏ. Muốn cho cao tầng này đứng vững hơn 100 năm hay 200 năm, thì nhà thầu xây dựng sẻ kết hợp các yếu tố sau: gia cố nền móng có sức chịu lớn hơn 1.5 lần các khu đất bình thường. Có nghĩa là nó còn vững hơn là nền móng ở các vùng đất thổ cư khác. Làm hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, cung cấp nước sạch, bải đậu xe ngầm, các khu vực sinh hoạt và mua sắm cho khách hàng, nguồn điện và hệ thống thoát hiểm. Ngoài ra, giáo dục người dân ngụ tại cao tầng 100 hay khách hàng về các nội dung cần thiết cho việc bảo dưỡng và phòng chống các tệ nạn và hành vi xấu. Nhà vẻ kiểu sẻ kết hợp hài hoà của môi trường sống và tác động sinh thái cho ngôi nhà cao tầng 100 đến với khu vực lân cận. Các giá trị cơ bản này sẻ được áp dụng cho hầu hết các loại ngành kinh tế tại Việt Nam. Đó là điều mà mọi cán bộ đều nhận ra cho việc khuyến khích nền kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng từ 104 tỉ USD lên hơn 900 tỉ USD trong năm 2030.

Hổ trợ của chính phủ cho các doanh nghiệp, phát triển cơ sợ hạ tầng, thiết lập môi trường kinh doanh, luật pháp, luật đầu tư, luật sở hữu, luật lao động, luật kinh doanh để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước luôn nhằm vào mục tiêu chung là tăng khả năng sản xuất của thị trường Việt Nam thông qua việc gia tăng công ăn việc làm cho người lao động, Đồng thời điều phối các phương tiện cở sổ hạ tầng, lẩn kiến thức và nhu cầu tối thiểu cho đại đa số dân chúng trong việc phân bổ sự phát triển các ngành nghề kinh tế đồng bộ và hòa hợp. Chẳn hạng tạo ra các loại hình kinh doanh, sản xuất địa phương trong các vùng nông thôn mang tính phục vụ tiêu dùng cao, hạn chế sự di chuyển không hợp lý vào các khu đô thị lớn cho mục đích kiếm việc làm. Ngoài ra nhằm khắc phục sự trênh lệnh mức lương cho công nhân khu chế xuất tạo ra sản phẩm xuất khẩu, chính phủ cùng tư nhân xây dựng hệ thống nhà ở chung cư có giá trị xử dụng cao, nhưng mức thuê thấp hay có chương trình trả góp lâu dài. Nhất là các doanh nghiệp có thể ràng buộc hay giử tài năng làm việc cho doanh nghiệp trong thời gian dài.

Khai thác và bồi dương nhân viên là điều mà cán bộ quản lý luôn quan tâm bởi vì các thiết bị máy móc dù hiện đại và mắc tiền bao nhiêu, nếu không có người nhân viên giỏi thì củng không tạo ra sản phẩm tốt tiêu thụ được tại các thị trường mang tính cạnh tranh cao. Nghề thủ công có thể được nâng cao cho giá trị cao vì nó không sản xuất số lượng nhiều. Sản xuất hàng loạt cần chất lượng, giá thành thấp và các tiêu chuẩn đồng nhất giúp doanh nghiệp tồn tại lâu dài.

Các khu chế xuất ở Việt Nam sẻ có những chọn lựa nếu có sự tham gia của công ty nước ngoài bỏ vốn để xây dựng các thiết bị và cơ sở hạ tầng nhằm cung cấp các phương tiện cho hoạt động kinh doanh và sản xuất ở khu chế xuất thì họ sẻ nhận được sự ưu đải về giảm thuế hay miễn thuế trong thời hạn bao nhiêu năm, ngoài ra giá trị đất xử dụng cho các xí nghiệp kinh doanh sản xuất với thời hạn là bao lâu. Mục tiêu trước mắt của khu chế xuất là gia tăng mức độ sản xuất các loại sản phẩm tiêu thụ xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, và tạo ra các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ, và gia công cho các công ty nước ngoài năng trong khu chế xuất và các công ty nằm bên ngoài khu chế xuất. Khái niệm này củng mang cá giá trị trong quan hệ con người và con người. Khi nhận xét cho nguồn lợi nhuận và khả năng hợp tác lâu dài với đối tác, cán bộ quản lý sẻ cân đối và điều chỉnh các chính sách kinh doanh của mình. Đó là nết cơ bản của khai thác lợi nhuận ngắn hạn và lợi nhuận dài hạn. Nếu cán bộ quản lý tập trung nguồn vốn và nhân lực cho các dự án ngắn hạn thì có nhiều cơ hội sẻ mất đi cho các dự án dài hạn. Đồng thời củng mang nhiều rủi ro cho việc thua lổ. Đó là lý do tại sau các doanh nghiệp đang áp dụng đa dạng kinh doanh và sản xuất để hạn chế rủi ro thua lổ khi thị trường biến động và kiếm lợi ở các hạn mục có nhu cầu cao.

Sự gia tăng nguồn thu nhập của dân chúng sẻ tạo ra nguồn thu ngân sách cho chính phủ địa phương và trung ương trong các hoạt động mua sắm, buôn bán, sinh hoạt hằng ngày. Du lịch và phát triển kinh tế địa phương tạo ra nguồn ngân sách cung cấp lương cho bộ máy hành chính. Ngoài ra, hệ thống giáo dục địa phương luôn mở rộng giảng dạy những khái niệm: phát triển sản phẩm tiêu thụ, gia công sản phẩm tiêu thụ, khác thác tiềm năng cho kinh tế.  Sự phát triển luôn dựa trên sự đa dạng của các ngành kinh tế tạo ra công ăn việc làm cho thị trường địa phươn. Các sản phẩm cần đáp ứng yêu cầu của khách hàng là mục tiêu biến nông dân thành người lao động sản xuất dựa trên kiến thức, sáng kiến, khao học kỷ thuật và ứng dụng kinh tế. Việt Nam có thể giải quyết được các khó khăn của Trung Quốc trong việc giải quyết đời sống kinh tế, giáo dục, và nhu cầu giải trí ở vùng nông thôn bằng việc nối kết hệ thống thông tin kinh tế ứng dụng khoa học quốc gia giúp nông dân Việt Nam có khái niệm khai thác giá trị kinh tế của sáng kiến, say mê, nhiệt tình đều tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làng xóm, gia đình. Làm sao người nông dân có thể sống trên vùng đất của họ mà vẩn có thể đạt được các giá trị cao gần bằng với mức sống ở thành thị. ViệtNamcó thể đạt được mức tăng trưởng kinh tế mau hơn và hiệu quả hơn, nếu các ngành kinh tế và quản lý tạo được sự thu hút chất xám, tài năng trẻ trong thị trường. Các thế hệ trẻ sẻ chuyển đổi các giá trị tinh thần, sáng tạo, và khoa học kỷ thuật thành giá trị kinh tế và hàng hóa trao đổi. Bất kỳ trong lĩnh vực kinh tế nào cần có ba khái niệm – nâng cao chất lượng, nâng cao sản lượng, đa dạng sản phẩm – cho cả thị trường trong và ngoài nước. Các nhà nông Việt Nam có thể cung cấp sản phẩm cho nhiều thị trường khác nhau tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ, gia tăng mức sống của họ. Vốn, phương cách quản lý, công nghệ, thiết bị và các kiến thức sẻ giúp nhà nông Việt Nam đạt được mức sống gần băng hay cao hơn thành phố.

Trong phần này, các bố quản lý có thể nhận ra một khía cạnh mà mọi người công nhận là – giá trị kiến thức, giá trị quản lý, và giá trị khai thác tài nguyên, giá trị phối hợp, giá trị tôn trọng luật pháp – sẻ tạo ra một sức mạnh thần kỳ giúp các vùng trong lãnh thổ Việt Nam chọn ra cho mình một loại hình kinh tế phát triển đặc biệc và thuận lợi. Giống như Ấn Độ phát triển khả năng về công nghệ thông tin, trong khi đó Trung Quốc lại phát triển về kỷ nghệ gia công chế biến sản phẩm tiêu dụng và các loại máy móc cơ khi với các thương hiệu quốc tế và Trung Quốc. Vậy mỗi tỉnh của Việt Nam củng có thể chọn một ngành kinh tế mủi nhọn để phát triển chủ đạo trong giai đoạn 2011-2030.

Các nhà quán lý doanh nghiệp trẻ củng nhận ra các giá trị cho khái niệm giáo dục cơ sở từ học sinh lớp 9 đến lớp 12. Khi học sinh bắt đầu hấp thụ kiến thức và quan niệm về lợi nhuận, sáng tạo, chế tạo ra sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng. Học sinh sẻ bắt đầu tự tin vào năng lực, khả năng của mình trong việc tìm tòi, sáng taọ, biến kiến thức và ý tưởng của mình thành sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Mổi cá nhân có thể tạo ra thu nhập, tài sản, doanh thu cho mình cho dù là ở lứa tuổi nào. Học sinh, sinh viên sẻ dần dần quên đi quan niệm sự thăng tiến đều do mối quan hệ cá nhân, hay hối lộ mà có được. Khi quan niệm thành đạt và tiêu thụ trong xã hội thay đổi, con người sẻ có những động lực tích cực hơn trong việc phấn đấu vươn lên do chính tài năng và năng lực của mình. Cá nhân mổi người sẻ bị sự quản lý của luật pháp quản lý trước các hành vi mang tính đạo đức nghề nghiệp, kinh doanh, vô công chí tư, và quan niệm của tài sản do công sức mình làm ra sẻ giảm đi các tiêu cực trong xả hội.

Khi các thành viên trong xã hội có cơ hội làm giàu chính đáng, họ sẻ thật sự hiểu đúng nghĩa của giá trị lao động và giá trị hưởng thụ. Thành thị sẻ phát triển theo lợi thế và kế hoạch phát triển của thành thị; còn nông thôn sẻ phát huy các nguồn tài sàn tư nhiên được kết hợp với yếu tố con người tạo ra sản phẩm hay dịch vụ có thể trao đổi hay bán được. Nền kinh tế hoạt động theo khả năng thích ứng và cải tiến của từng doanh nghiệp. Mối quan hệ mang giá trị cảm tính có lợi thế ngắn hạn, nhưng về lâu về dài doanh nghiệp đó vẩn phải tồn tại với những giá trị cụ thể là quản lý doanh nghiệp để giá thành hạ và chất lượng đảm bảo. Nền kinh tế của quốc gia cần có cán cân buôn bán là dương, hay nói cách khác là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Hiện tại thị trường của Việt Nam nên khuyến khích các giá trị tiết kiệm, mà cán bộ quản lý là người có tác động đi trước, nhằm dùng số vốn ngoại tệ cho các hoạt động kinh doanh sản xuất cho xuất khẩu tạo ra thặng dư mậu dịch giúp cho nền kinh tế của Việt Nam có tiền đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng.

Các nhà doanh nghiệp trẻ củng nên có một cánh nhìn mới về các khái niệm vật chất, quan hệ cá nhân và quyền lợi được xác định dựa trên giá trị ngắn hạn và giá trị dài hạn, các thành viên tham giam vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẻ biết khai thác triệt để tiềm năng gia tăng các giá trị kinh tế cho doanh nghiệp. Giá trị ngắn hạn luôn hạn chế sự phát triển và mở rộng của giá trị dài hạn. Mà một doanh nghiệp cần giá trị dài hạn hơn là ngắn hạn. Tùy theo sự nhận xét cho việc phát triển nền kinh tế hoạt động hiệu quản, mà chính phủ sẻ áp dụng các biện pháp quản lý kinh tế như thế nào: cạnh tranh công khai cho các hạng mục đấu thầu, tuyển dụng nhân tài qua các cuộc hạch tuyển cho các vị trí quản lý, bồi dưỡng nhân tài trong các chương trình huấn luyện hay tu nghiệp trong và ngoài nước. Như cho chiều sâu của chất lượng mà nền kinh tế tạo ra từ các địa phương, doanh nghiệp nên khuyến khích tuyển chọn nhân tài công khai. Cho chiều rộng của nền kinh tế của địa phương, doanh nghiệp sẻ thảo luận công khai và phối hợp với đối tác cho các dự án kinh tế, phát triển an sinh xã hội trong khu vực. Có như vậy, các doanh nghiệp mới có nhiều cơ hội khác thác tiềm năng kinh tế cả chiều rộng và chiều sâu cho lợi ích lâu dài và ngắn hạn. Khả năng chuyên môn của mỗi doanh nghiệp có hạn, do đó họ cần liên kết cho kế hoạch phát triển trên các giá trị khác nhau. Ví dụ một công ty chuyên sản xuất chương trình lập trình ứng dụng kế toán và quản lý vật tư cho thị trường nước ngoài, có thể liên kết với các ngân hàng quốc tế nhằm gia tăng mức tiêu thụ sản phẩm của mình. Hay nhờ các công ty mậu dịch và quảng cáo để thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Có nghỉa mối quan hệ hợp tác luôn nối liền một sản phẩm dịch vụ này với sản phẩm dịch vụ khác nhằm tăng tính hiệu quả cho mức tiêu thụ của cả hai sản phẩm tại nhiều thị trường khác nhau.


Khả Năng Thích Nghi Trong Môi Trường Làm Việt trong Công Ty Nước Ngoài
“Sự thích nghi của một nhân viên trong môi trường làm việc sẻ là chìa khóa mở ra cánh cửa mới của một tương lai chưa biết tới.”
*****

Doanh nghiệp nước ngoài có những yêu cầu và tiêu chuẩn tuyển dụng nhân viên khác với doanh nghiệp trong nước. Do môi trường kinh doanh, những doanh nghiệp hoạt động theo cơ cấu quản lý khác nhau. Nhất là khả năng ứng biến khi thị trường thay đổi, chẳn hạn nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi làm cho doanh nghiệp phải thu nhỏ hay chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác. Đó chính là khả năng nhạy bén của một doanh nghiệp biết cách thay đổi các kế hoạch sản xuất phù hợp với từng thay đổi của thị trường trong và ngoài nước.

Thái độ làm việc của nhân viên trong môi trường làm việc ở công ty nước ngoài là hiệu quả và năng xuất của mỗi nhân viên. Đồng thời nhân viên có kinh nghiệm sẻ trao dồi giúp đỡ nhân viên thiếu kinh nghiệm. Sự hợp tác trong công việc và trao đổi kinh nghiệm luôn được khuyến khích bởi các các bộ quản lý, vì họ tin tưởng vào sự cải thiện, tiến bộ, tự học hỏi của nhân viên là điều tự nhiên. Nhân viên làm việc cho năng xuất và trách nhiệm. Tâm lý của nhân viên là làm việc hết giờ rồi đi về là thái độ không trách nhiệm, bởi vị họ lảnh lương để hoàn thành công việc, chứ không phải là đến công ty đúng giờ rồi về đúng giờ là xong nhiệm vu. Tinh thần trách nhiệm cao cho từng cá nhân trong việc cống hiến công sức cho công ty để đạt được mục tiêu lâu dài là lợi nhuận, mở rộng thị trường, tạo uy tín cho khách hàng.

Môi trường làm việc và những yêu cầu kết quả của công việc của doanh nghiệp nước ngoài đối với nhân viên cao hơn là các doanh nghiệp nội địa. Điểm khác biệt là quan niệm về giá trị lao động, giá trị xử dụng, giá trị khai thác, và giá trị tận dụng và tái tạo. Khi các quan niệm hiệu quả, hiệu suất và kết quả của quá trình kinh doanh luôn đòi hỏi các nhân viên làm việc nhiệt tình, say mê, và có trách nhiệm hơn. Nhưng nếu họ hiểu sự khác biệt của giá trị kinh tế trong các mối quan hệ thuê mướn, lương bồng, phạt thưởng, bồi dưởng nghiệp vụ thì họ sẻ hiểu tại sao doanh nghiệp nước ngoài đòi hỏi nhiều hơn ở nhân viên so với doanh nghiệp trong nước. Có lẻ mọi người sẻ nhận ra một điều là doanh nghiệp trong nước quan niệm là họ không có khả năng mở rộng thị trường ra nước ngoài, nên khả năng lợi nhuận bị hạn chế, đồng thời củng hạn chế các ngân sách hổ trợ cho việc bồi dưởng và nâng cao nghiệp vụ của nhân viên. Vậy doanh nghiệp nước ngoài khởi đầu ở đâu và làm sao có thể vượt ra khỏi biên giới của quốc gia và phục vụ các thị trường khắp nơi trên thế giới. Đó là khái niệm phiêu lưu, mạo hiểm, tìm tòi, và cầu tiến giúp các công ty đa quốc gia mở rộng ra thị trường nước ngoài.

Nhân viên làm việc cho một công ty nước ngoài sẻ nhận ra quá trình làm việc của họ là một con đường phấn đấu và nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho một cá nhân tồn tại
Có nhiều khái niệm an ninh, bí mật thương nghiệp, giờ giấc làm việc, thái độ làm việc, giúp đở công việc và hợp tác với các đồng nghiệp. Những thích nghi như vậy luôn do các chương trình huấn luyện đào tạo sau khi được tuyển dụng. Nhân viên còn tiếp tục việc trao dồi học hỏi trong quá trình làm việc để nâng cao nghiệp vụ. Bằng cấp là sự xác nhận căn bản cho quá trình tích lủy kiến thức lý thuyết cần thiết cho nhân viên xử lý các thao tác và chức năng trong công việc. Nhưng các trường đại học vẩn cập nhật các thông tin và các trường hợp phân tích để giúp sinh viên xử lý các tình huống mô phỏng trong các trường hợp nếu sinh viên đặc mình vào các vai trò của người tham gia trong các trường hợp thực tế mà các doanh nghiệp thường gặp phải, rồi so sánh kết quả xử lý công việc trong các quyết định cụ thể của mỗi sinh viên hay nhóm trong các tình huống đó. Đó chính là lý do sinh viên có thể tiếp thu kiến thức và hình dung ra làm sao kiến thức đó có thể được áp dụng vào thực tế.

Ngoài ra các đại học thường mời các chuyên gia hay thành viên trong chính phủ để nói chuyện hội thảo với sinh viên, giúp sinh viên có cơ hội tiếp thu các kiến thức mới trong cuộc sống khi các kiến thức trong sách giáo khoa không còn thực tế hay lổi thời với môi trường kinh doanh mới. Nhưng một đặt tính quan trọng của kinh tế thị trường có thể giúp sinh viên Việt Nam thành công trong tương lai là sự quan sát, đưa đến các phân tích cho các nhu cầu trên thị trường, giúp họ nghĩ ra các sáng kiến, phát minh phục vụ thị trường. Sáng kiến, phát minh cần vốn và kỷ thuật để nhân bản lên số lượng nhằm phục vụ số lượng lớn nhu cầu người tiêu dùng, khách hàng trên thị trường. Kế tiếp là quảng cáo, phân phối, và phục vụ khách hàng qua các ý kiến khen che để cải tiến, nâng cao chất lượng. Tương lai ở trong tay của họ, khi họ hội đủ các yếu tố: sáng kiến tạo ra sản phẩm, vốn để sản xuất sản phẩm, quảng cáo và vận chuyển sản phẩm đến người tiêu dùng, nâng cao chất lượng thông qua tiếp nhận ý kiến khách hàng, cuối cùng là chọn lựa chu kỳ cho việc nhân bản tùy theo nhu cầu của thị trường.

Tùy theo mỗi doanh nghiệp nước ngoài hay trong nước, mà có chương trình đào tạo nội bộ giúp cho đội ngủ nhân viên luôn có kiến thức cập nhật phù hợp với môi trường kinh doanh, sản xuất cho các nhu cầu của khách hàng và nhu cầu của nhiều loại thị trường trên thế giới. Không thể lơ là khái niệm đào tạo đội ngủ nhân viên để tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, theo khu vực và theo các dự án riêng. Sự so sánh giữa hai môi trường làm việc củng giúp cho doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh trong việc thu hút nhân tài, bồi dưỡng nhân tài trong thời gian dài.


Đáp Ứng Yêu Cầu của Doanh Nghiệp Nước Ngoài
“Mối quan hệ lâu dài giửa người làm công và doanh nghiệp thuê mướn là một mối quan hệ qua lại thay đổi theo giá trị tạo ra của cải cho doanh nghiệp và thị vượng cho xã hội.”
*****

Doanh nghiệp nước ngoài có phương thức kinh doanh và hoạt đông quản lý khác nhau. Chính vì vậy họ có những đòi hỏi, yêu cầu khác nhau. Trong kinh doanh, tiếp xúc trong các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp và đối tác trong nước càng có nhiều thuận lợi khi nắm bắt được như yêu cầu của doanh nghiệp nước ngoài cho việc phát triển những mối làm ăn lâu dài. Sự đầu tư về thời gian, tiền bạc, nhân sự cho việc thiết lập quan hệ với doanh nghiệp nước ngoài.

Về cơ bản doanh nghiệp nước ngoài cần nhân viên có khả năng giao tiếp, nói, đọc hiểu, nghe tiếng Nhật, Anh hay các ngoại ngữ khác. Bên cạnh đó là nghiệp vụ cho việt hoàn thành các đề mục trong công việc được giao. Sự khác biệt giữa hoàn thành công việc và kinh nghiệm rút ra từ quá trình làm việc cho các cải tiến hay rút ngắn thời gian, tiết kiệm nguyên vật liệu là điều luôn được khuyến khích một cách tích cực. Doanh nghiệp nước ngoài đòi hỏi nhân viên có những kiến thức về luật pháp tối thiểu trong môi trường làm việc nhờ vậy nhân viên dể dàng tránh khỏi các mâu thuẩn và trường hợp hiểu làm trong quan hệ giữa người và người. Tuyệt đối bảo mật các nội dung, tài liệu, kế hoạch trong công ty. Nhất là tránh việc đem chuyện công ty thảo luận với các thành viên trong gia đình hay bạn bè. Nhân viên nên tập thói quen là khi rời khỏi công sở là quên hết mọi chuyện, và không nên đề cập đến chuyện gì đang xảy ra ở công ty. Có những nội dung kinh doanh sẻ bị tiết lộ ra bên ngoài rơi vào tay các doanh nghiệp đối thủ sẻ gây nguy hại đến doanh nghiệp của mình đang làm việc. Càc tài liệu, máy tính nên luôn được quản lý chặc chẻ cho việc xử dụng và truy cập. Không bao giờ để người khác có thể lợi dụng và xử dụng các tài nguyên hay dử liệu nếu không được sự cho phép của cấp quản lý hay lành đạo.

Doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư vào thị trường ViệtNamvới nhiều lý do. Nếu nhân viên hay sinh viên tốt nghiệp nắm bắt được các nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp nước ngoài, sinh viên và nhân viên sẻ chuẩn bị kỷ càng hơn trong các bước làm hồ sơ xin việc làm, trả lời câu hỏi phỏng vấn, và nguyên vọng cho công việc và giá trị đóng góp cho công ty. Có những sai biệt khi nhân viên hay sinh viên vừa mới ra trường hiểu sai đi khi chỉ tập trung vào hoàn thành xong công việc được giao là hết trách nhiệm, còn các chuyện khác không cần quan tâm. Nhưng một doanh nghiệp vận hành giống như là một gia đình, trong đó mỗi nhân viên sẻ tác động qua lại với nhau trong vòng tròn khép kín. Nếu một nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ sẻ ảnh hưởng đến các khâu khác ,cuối cùng tạo ra những ảnh hưởng không tốt cho kết quả cuối cùng là doanh thu và uy tín của doanh nghiệp. Do vậy nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài có thể trực tiếp hỏi ý kiến cấp trên cho việc hổ trợ và giúp đỡ lẩn nhau trong công việc. Nếu môi trường tiếp xúc trong giao tiếp có những hiện tiêu cực thì tốt nhất là nhân viên đó thảo luận với cấp trên của mình. Vì luật pháp ở các quốc gia quản lý những công ty nước ngoài vẩn thường áp dụng các luật pháp ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực trong quản lý kinh tế và hợp tác kinh doanh.

Ngoài ra, khi xả hội vẩn còn hiện tượng ‘phép vua thua lệ làng’ luôn gây ra những xáo trộn cho xã hội về lâu về dài. Khi doanh nghiệp hoạt động trong các vùng nông thôn hay tỉnh thành luôn bị chi phối các giá trị hành chính địa phưong, doanh nghiệp luôn tìm cách để dung hoà phưong thức ngoại giao cho các thủ tục hành chính với các cơ quan chức năng. Cơ quan chức năng ở các cấp từ trung ương, thành phố, tỉnh, huyện, phường xả nếu nhận ra sự giải quyết các thủ tục cho doanh nghiệp trong nước và nước ngoài là nghĩa vụ đóng góp cho sự thành công của nền kinh tế thị trường. Đó là mối quan hệ lâu dài. Càng có nhiều doanh nghiệp thành công tại địa phương, công ăn việc làm sẻ gia tăng, thu nhập của người dân được cải thiện, nguồn ngân sách thuế của chính quyền địa phương củng được gia tăng theo tỉ lệ thuận với mức sống của người dân. Như vậy doanh nghiệp trong nước củng sẻ tạo ra các tiêu chuẩn có sức cạnh tranh cao trong việc tuyển dụng nhân tài theo trình độ và mức lương phù hợp với giá trị sản phẩm bỏ ra. Khi mức doanh thu của doanh nghiệp gia tăng thì điều đương nhiên kéo theo là gia tăng thu nhập cho nhân viên. Nhưng các nhân viên đóng góp nhiều cho sự thành công của doanh nghiệp sẻ có mức khen thưởng phù hợp, nhằm động viên họ làm việc hăng say và có nhiều ý tưởng sáng tạo hơn trong tương lai.


Làm Việc và Khái Niệm Học Hỏi
“Say mê và trách nhiệm bước đầu thay đổi thái độ làm việc mang tính hiệu quả và tương trợ cao. Đồng thời giá trị cải thiện luôn giúp con người tồn tại trong môi trường luôn thay đổi theo cấp số nhân.”
*****

Làm việc là một hợp đồng trao đổi giửa người làm việc và người thuê mướn với mức bù lổ tài chính gọi là lương hàng tháng, củng như các khoảng trợ cấp khác nhau. Nếu giữa hai phía không có sự thỏa thuận hợp lý, thì mối quan hệ này sẻ bị bẻ gẩy hay sẻ nẩy sinh các yếu tố tiêu cực gây ra những hậu quả thiệt hại cho hoạt động kinh doanh và sản xuất.

Ngoài ra quá trình làm việc là môi trường học hỏi của mỗi người khi chấp nhận hợp đồng làm việc. Những kiến thức trong trường học và làm việc được nâng cấp và cải thiện. Nếu không học hỏi và cải thiện cùng những hoạt động trao đổi trong làm việc sẻ giúp cả một tập thể tiến bộ. Nếu một người giỏi thì tập thể hay cả nhóm có thể học hỏi và tiến bộ. Sự hiệu quả của làm việc trong môi trường của doanh nghiệp nước ngoài luôn đòi hỏi tính tự giác cao, thái độ làm việc nghiêm chỉnh, giá trí làm việc dựa trên tính chính xác tuyệt đối, kết quả làm việc và thời gian nghỉ ngơi trong một ngày làm việc. Nếu nhân viên có khái niệm giá trị lợi nhuận dựa trên giá trị xử dụng nguồn tài nguyên lao động, vật tư, vốn, khoa học kỳ thuật thì mỗi một khâu trong quá trình sản xuất đều tạo ra giá trị cho sản phẩm cuối cùng được tạo ra phục vụ người tiêu dùng. Nếu nhân viên đi làm trể thì con số 100 người đi làm trể sẻ ảnh hưởng đến kết quả kinh tế của doanh nghiệp. Một dây chuyền sản xuất nếu bị đình trệ tại một khâu sẻ kéo theo sự đình trệ trên toàn bộ khâu dây truyền sản xuất.

Nhân viên hay yếu tố con người là tài sản của doanh nghiệp. Củng như các tài nguyên tài chính, máy móc, quản cáo, mẫu mả, yếu tố con ngươì tạo ra tính cạnh tranh mạnh nhất khi hai doanh nghiệp có những tương đương về hệ thống sản xuất và kinh doanh. Nếu nhân viên vào làm việc mang tâm trạng hôm nay tôi chỉ cần hoàn thành công việc mà tôi được giao thì là việc làm mà tôi nên theo đuổi ở một công ty nước ngoài, thì về lâu về dài sự giảm sút của công ty sẻ ảnh hưởng lang rộng ra các bộ phận khác trong công ty. Khái niệm tự thỏa mản hay ỷ lại là điều tối kỵ cho một công ty, do đó các nhân viên được thuê mướn luôn có khái niệm đóng góp các sáng kiến, bảo vệ tài sản, gia tăng chất lượng, mẫu mã của sản phẩm giúp công ty phát triển trên thị trường. Ví dụ hảng sản xuất xe gắn máy Honda có nhà máy tại Thái Lan, Việt Nam, và các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Giá trị lợi nhuận mà hảng Honda có thể đạt được là uy tín mà các sản phẩm của Honda từ các nhà máy này đối với khác hàng. Nếu khách hàng mua xe gắn máy được sản xuất tại Thái Lan có mẫu mã và chất lượng tốt hơn các loại sản xuất tại ViệtNam, nhưng giá cả cao hơn một chút. Người tiêu dùng sẻ chọn lựa việc mua sản phẩm sản xuất tại ViệtNamcó giá rẽ hơn, hay mua sản phẩm sản xuất tại Thái Lan có giá cả mắc hơn một chút. Các nhân viên ViệtNamcó thể không tự hỏi lý do gì mà sản phẩm tại Thái Lan có chất lượng cao hơn sản phẩm tại ViệtNam. Nếu các công ty gia công phụ tùng hay nhà phân phối phụ tùng cho các sản phẩm xe gắn máy Honda sản xuất tại Việt Nam có chất lượng tốt và an toàn, thì sẻ đảm bảo cho các sản phẩm xe gắn máy của Honda sản xuất tại Việt Nam có thể bán ra các thị trường trên thế giới.

Các quốc gia ởChâu Phi,NamMỹ, Châu Âu và Châu Á có nhu cầu cho xe gắn máy cao, hay các loại xe scooter (tay ga không cần đạp số). Nhưng các kỷ sư cơ khí, thiết kế mẫu mã của Việt Nam có đảm bảo là sẻ đóng góp vào công đoạn cải tiến, thiết kể mẫu mã, giảm giá thành cho sản phẩm tiêu thụ tại thị trường trong và ngoài nước. Nếu nhìn vào các mối hàn và nước sơn, độ tinh vi, sắc xảo của các sản phẩm ở thị trường cao cấp, chất lượng luôn là yêu cầu đầu tiên mà khách hàng chọn sản phẩm mà tiêu thụ. Trong khi đó các các thị trường có mức yêu cầu chất lượng thấp hơn, sẻ chú trọng đến giá cả hay chất lượng tương đối cho sản phẩm mà họ cần xử dụng. Các công ty xe gắn máy của Trung Quốc đả gia tăng việc sản xuất các loại sản phẩm xe gắn máy có giá thành rẻ thu hút nhu cầu của các khách hàng có thu nhập thấp.

Tùy theo môi trường văn hóa và chính trị của mỗi doanh nghiệp, mà các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho cấp dưới học hỏi và nâng cao tay nghề trong các khâu kinh doanh, nghiên cưú, sản xuất, tiếp thụ, phục vụ khách hàng. Các giám đốc, trưởng phòng sẻ luôn chuẩn bị nguồn tài năng có thể thay thế mình khi mình thăng chuyển sang nhiệm vụ mới. Nhất là giám đốc nhân sự luôn có sẳn tên các ứng cử viên cho các vị trí quan trọng. Khi công ty cần các tài năng thay thế các vị trí quan trọng. Ngoài ra nhân viên lôn được giáo dục và đào tạo các khái niệm cở bản của ba giá trị: giá trị lao động, giá trị trao đổi, giá trị tương đối, thì mọi thành viên trong doanh nghiệp hay cơ quan chức năng  luôn tự học hỏi nâng cao kiến thức, tính tôn trọng đồng nghiệp, khách hàng, giúp đở nhau tương trợ, công nhận các giá trị mà đồng nghiệp mình đả hoàn thành. Nhân viên tuyệt đối không có quan niệm ‘trâu buộc ghét trâu ăn’ hay thói quen chê bai người khác trong khi bản thân không bao giờ phấn đấu và học hỏi. Nếu người lảnh đạo phát hiện có những nhân viên như vậy thì nên có biện pháp là cảnh cáo nội bộ hay cho thôi việc tránh ảnh hưởng đến các đồng nghiệp khác, đồng thời luôn nhắc nhở mọi người biết tương trợ cho nhau trong công việc. Thà loại bỏ một người xấu, còn hơn để nó ảnh hưởng đến cả một tập thể của công ty. Khái niệm muốn kiếm lợi mà tốn ích sức lực nhất thường mang giá trị tiêu cực theo nghĩa luồn lách cho đạt được mục tiêu, nhưng thực chất không tạo ra giá trị kinh tế. Nếu doanh nghiệp hoạt động trên thị trường đa quốc gia, những quan niệm trở nên lạc hậu và không còn có giá trị lâu dài. Các sản phẩm, dịch vụ luôn cần sự đóng góp nhiệt tình mà tất cả mọi thành viên nên quan tâm. Phần thưởng mà cá nhân có thể đạt được là tiền lời sẻ được chi cho mọi thành viên trong doanh nghiệp. Đó là động lực thiết thực để động viên và khuyến khích mọi người cùng làm việc và gia tăng giá trị sáng tạo. Tùy mỗi doanh nghiệp tạo ra một phương thức khen thưởng hiệu quả tác động lên nhân viên của mình.


Lao Động Luôn Mang Giá Trị Nhân Bản
“Lao động có nghĩa là tự hào và khẳng định, khi người làm việc nhận ra giá trị nhân bản của bản thân gắn liền với giá trị nhân bản của các bạn đồng nghiệp và khách hàng.”
*****

Nếu trong làm việc hay kinh doanh mà không tồn tại giá trị nhân bản, có nghĩa mối quan hệ giửa con người và con người sẻ bị bẻ gẩy dể dàng khi mối quan hệ lợi nhuận và quyền lợi bị thay đổi hay bị ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Giá trị nhân bản tạo ra sự quan tâm về môi trường xung quanh đồng thời với các mối quan tâm về tài chính và lợi nhuận. Sự điều hoà của những mối quan hệ kinh doanh luôn dựa trên quan hệ nhân bản, vì quan hệ lợi nhuận là những con số nếu thỏa mãn được các phía. Trong những tình huống khó khăn, nếu một bên không đáp ứng được bên kia, bên không nhận được sự yêu cầu sẻ áp dụng biện pháp xử lý theo hợp đồng. Nhưng thật chất đó chưa phải là giải pháp tốt, bởi vì có những mối quan hệ mang giá trị nhân bản hay lòng tin và sự thông cảm đem lại giá trị lâu dài hơn là áp dụng các biện pháp của pháp luật. Thực tế cho thấy nhiều đối tác đả thông cảm nhau cùng vượt qua các giai đoạn khó khăn cho mục tiêu là lợi nhuận lâu dài. Sau đó họ mới nhận ra là mỗi đối tác có thể hy sinh chia sẻ để đạt lợi nhuận lâu dài.

Nhân viên làm việc và giúp đở nhau cùng tiến bộ sẻ tiết kiệm rất nhiều cho doanh nghiệp trong việc đào tạo và nâng tay nghề nhân viên. Nếu môi trường làm việc giống như chiến trường luôn mang tính đố kị, ganh đua, ghen ghét, chỉ trích, mất đoàn kết, thì không sớm thị muộn doanh nghiệp sẻ gặp khó khăn trong việc tạo ra sản phẩm cạnh tranh trên thị trường với hiệu xuất lao động và hiệu quả của vốn đầu tư cao nhất. Và doanh nghiệp sẻ không bao giờ tạo ra sản phẩm ưu việc với giá thành rẻ nhất. Nhất là bên trong nội bộ luôn có sự phá hoại, gây rối với nhau của các nhóm chia rẻ vì lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích của cả doanh nghiệp.

Sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có kinh nghiệm, và các nhân viên đả có kinh nghiệm khi làm việc ở các công ty khác luôn có những khái niệm khác nhau về giá trị lao động. Có thể lợi ích đi kèm với vị trí công tác hay công việc dể ảnh hưởng đến quyết định có tính chủ quan hơn là khách quan. Trong môi trường kinh tế thị trường và các ưu đải về quyền hạn của các cán bộ có thể ảnh hưởng việc quyết định cho việc thực hiện các giá trị đạo đức trong kinh doanh, đạo đức trong quản lý, đạo đức trong trách nhiệm. Giá trị lao động mang tính nhân bản khi người tham gia trong quá trình lao động nhận ra các tác nhân tác tạo ra kết quả luôn mang tính nhân bản có nghĩa một người hưởng lợi ích, thì củng cần chia sẻ lợi ích với người khác. Các trường hợp tiêu cực là một căn bệnh tâm lý về lợi nhuận và hiệu quả. Nếu hiệu quả là thời gian thì các hiện tượng tiêu cực sẻ lưu tồn tại, vì mọi người cảm thấy cơ hội sẻ không còn nửa nếu mình không khai thác lợi nhuận theo mặc tiêu cực ngây bây giờ. Nếu một cá nhân nhận ra khả năng lợi nhuận là vô hạn không lệ thuộc vào thời gian, thì bản thân người đó sẻ nhận ra mọi thức có thể đạt được trong bất cứ tình huống nào. Đó là phần cơ bản khác nhau giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Tính nhân bản còn thể hiện qua việc xử dụng công quỉ, lương bổng, tiền viện trợ, xét duyệt các đề án, công trình, đều thể hiện quan niệm của giá trị lao động đi kèm với giá trị nhân bản.

Ví dụ một tài năng bỏ công sức ra thiết kế một một công trình xây dựng khu dân cư có lợi ích cho thành phố và môi trường sinh thái, bời vì cư dân sẻ có điều kiện sống tốt đẹp hơn, làm việc hiệu quả hơn, con cái sinh ra sẻ có điều kiện phát triển tâm sinh lý tốt đẹp hơn. Khi người dân có điều kiện sống được cải thiện điều tất nhiên là họ có khả năng nuôi nấng con cái củng như làm việc có hiệu quả hơn, tạo ra nhiều của cải cho xã hội dưới hình thức là thu nhập tăng lên. Như đơn vị chủ quản xét duyệt công trính không quan tâm đến chuyên đó, mà quan tâm họ được lợi gì khi ký duyệt công trính. Và đối với nhà thi công, họ cùng yêu cầu nhiều thứ chi phí không liên quan đến lợi ích việc thi công. Các khoảng chi phí và thủ tục hành chánh trong suốt quá trình xây dựng công trình sẻ tạo những chi phí phụ trội lẩn các khó khăn khác cho việc hoàn thành thi công. Có nghĩa đơn vị xét duyệt công trình xây dựng đả không làm việc theo khái niệm gắn liền giá trị lao động với giá trị nhân bản. Bởi vị giá trị nhân bản là tạo ra khả năng hoàn thành công trình cho đúng kiệp thời hạn, giúp cho cư dân mau di dời và chuyển đổi đến cư ngụ nơi cư trú mới. Hiệu xuất thi công, xây dựng và đưa công trình vào xử dụng là các bước cần thiết giúp cho xả hội phát triển.

Khi nước ngoài viện trợ cho các công trình phúc lợi cho xã hội, nếu thật sự 100% vốn được xử dụng rỏ ràng hợp lý, có nghĩa ban quản lý tiền viện trợ đả nhận ra giá trị lao động và giá trị nhân bản đi liền với nhau. Nếu vì lý do cá nhân lạm dụng quyền hạn để xử dụng nguồn tiền viện trợ cho mục đích khác, thì các nhà chức trách quản lý đả tạo ra những tác hại cho nền kinh tế quốc dân về lâu dài. Có lẻ ít ai nhận ra giá trị lao động đi kèm với giá trị nhân bản. Chử nhân bản được giải thích theo ý nghĩa xã hội bao gồm cộng đồng con người. Nước ngoài cung cấp viện trợ có những mục đích khác nhau. Trong khi đó các dự án do nguồn viện trợ sẻ giúp kích thích sự phát triển của xã hội như là trường học thì tạo ra môi trường đào tạo con người. Bệnh viện giúp bệnh nhân điều trị bệnh, nguồn lao động khỏe mạnh làm việc tạo ra của cải cho xã hội. Trung tâm nghiên cứu tạo ra nơi đào tạo nhân tài và nâng cao nghiệp vụ cho các tài năng, đồng thời các kết quả giúp các nghành kinh tế phát triển như công nghệ thông tin, công nghiệp xe hơi, đóng tàu, các vật dụng điện tử cho người tiêu dùng. Do đó các hạng mục xây dựng và phát triển này luôn cần sự hổ trở của chính phủ tuyệt đối. Nền kinh tế hoạt động cần có một môi trường kinh doanh hoàn thiện mà nó bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng, luật pháp, giá trị lao động cho việc khen thưởng, giá thành cho việc cạnh tranh, thuế cho việc tạo ra thu nhập và đóng góp hợp lý cho xã hội, và giá trị nhân bản của con người. Sự công bằng trong khai thưởng ở doanh nghiệp là điều cần thiết để quản lý nguồn lao động và nhân tài tại doanh nghiệp đó.

Công ty nước ngoài yêu cầu nhân viên của mình làm việc có trách nhiệm, có sáng kiến đóng góp, biết tôn trọng đồng nghiệp và cấp trên, biết trao đổi các vấn đề kỷ thuật và công việc theo các phương thức cho phép của ban quản lý của công ty. Khả năng của một công ty tạo ra lợi nhuận khi các sản phẩm có thể tiêu thụ trên thị trường với mức độ hài lòng cao từ khách hàng. Nếu các sản phẩm xe gắn máy, đồ điện tử, thiết bị công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng của các hảng Nhật Bản tại khu công nghiệp thảo mản các nhu cầu cao tại thị trường Việt Nam và quốc tế, thị các công ty Nhật Bản mới có dự án mở rộng công xuất sản xuất cho nhu cầu cao hơn. Nhưng thị trường lao động của Việt Nam có lẻ sẻ cần được nâng cấp cho nguồn thuê mướn khác nhau cho các công ty Nhật Bản, Hoa Kỳ và nước ngoài. Nếu các sản phẩm điện thoại di động, máy vi tính, đồ điện tử, quần áo cao cấp, mỹ phẩm, dược phẩm thuốc lá của các hảng Nhật Bản tin tưởng vào khả năng sáng tạo, thiết kế các sản phẩm có chức năng hiện đại, và giá cả cạnh tranh, thì họ sẻ yên tâm bỏ vốn ra xây dựng các nhà máy tại thị trường Việt Nam. Các loại máy nghe nhạc mp3, điện thoại đi động, máy tín xách tay mini, và các loại truyền hình phẳng, thiết bị giải trí chất lượng cao, xe hơi có tính năng ưu việc và giá thành dưới 11 ngàn USD là sự ưu thế của thị trường Việt Nam, nếu các kỷ sư cơ khí của Việt Nam có sự cải tiếng vế thiết kế và xử dụng nguyên vật liệu để cạnh tranh với các công ty xe hơi của Ấn Độ và Trung Quốc trên phương diện giá thành, kỷ thuật và thiết kế mẫu mã.

Hiện tại hệ thống giáo dục của Việt Nam vẩn chưa hoạt động ở tầng số cạnh tranh toàn cầu. Khái niệm kinh tế thị trường ở Việt Nam còn bị hạn chế theo các giá trị sau:

(a)    Không gắn liền nguồn chất xám vào tiêu chuẩn quốc tế hay khu vực
(b)   Giá trị kinh tế của một lao động là người làm thuê hay nhân viên cho việc đóng góp cho một doanh nghiệp
(c)    Doanh nghiệp và khả năng tạo ra lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường. Sự cạnh tranh và chất lượng và số lượng sẻ quyết định mức lương cho một nhân viên mà doanh nghiệp đồng ý chi trả theo giá trị thị trường

Một tài xế ta-xi có thể gia tăng thu nhập của mình bằng nhiều phương thức, nhưng anh ta nên chọn phương thức tốt nhất là thái độ lịch sự, niềm nở, khả năng cung cấp thông tin cần thiết cho khách hàng và các giá trị phục vụ. Khách hàng là thượng đế trên ý nghĩa yêu cầu và đòi hỏi, do đó sẻ chọn tài xế có tác phong và khả năng cung cấp thông tin và vận chuyển an toàn nhất. Như vật người tài xế tự tạo ra giá trị kinh tế khác biệc với đồng nghiệp của mình và thu hút nhiều khách hàng hơn. Khách hàng sẻ nhới tên anh ta, số xe của anh ta và nhiều thứ khác.

Doanh nghiệp Việt Nam sẻ bắt đầu áp dụng phương thức mới để trong việc nâng cấp tương đươc với doanh nghiệp nước ngoài trong việc quản lý nhân sự, đào tạo nhân sự và các khía cạnh khen thưởng tích cực tạo tạo sự cân đối giữa hai nền kinh tế do doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khai thác. Giá trị nhân bản là mức độ cao nhất của nền kinh tế thị trường mà các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu đả bước nào hoàn thành và tiếp tục cải thiện. Người tiêu dùng sẻ thay đổi thái độ của họ trong các tiếp xúc mua bán, trao đổi khi điều kiện kinh tế của họ thay đổi. Con cái của họ được giáo dục chu đáo hơn, cuộc sống của họ được đầy đủ và an toàn vệ sinh hơn và mức tiêu thụ cao hơn. Nhu cầu của con người là vô hạn, bởi vì nó quyết định bở nguồn thu nhập hằng năm và trình độ kiến thức và giới tính và điều kiện gia đình. Người quản lý cần hiểu các giá trị này để có thể phát triển sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng trong và ngoài nước. Các công ty của Nhật Bản có doanh số thu nhập rất lớn, sau đây là các công ty C. Itoh 115.71 tỉ USD, Mitsui & Co 110 tỉ USD, Sumitomo 109 tỉ USD, Mitsubishi 107.86 tỉ USD, Marubeni 105.71 ti USD trong năm 1989, có nghĩa cách đây 21 năm, khi đó tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản là 2386 tỉ USD trong năm 1987. So với hiện tại GDP của Nhật trong năm 2009 là 5.05 ngàn tỉ USD. Các mối quan hệ này tạo ra một đóng góp đồng bộ giúp cho nền kinh tế của Nhật Bản phát triển trong giai đoạn 1945-1990 với sự đóng góp của các gia đình công nghiệp và keiretsu là khoảng 20% GDP của Nhật Bản.


Mức tiết kiệm cao ở Nhật Bản giúp cho các ngân hàng và công ty tài chính có vốn tái đầu tư trong các ngành kinh tế xuất khẩu, tiêu dùng và nghiên cứu. Từ 1961 đế 1979, mức tiết kiệm khoảng 18.2 % đến 22.1% thu nhập của người dân Nhật. So với Hoa Kỳ là 5.4% đến 8.8%. Nhờ vậy Nhật Bản tự túc được nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế giúp quốc gia tăng nhanh năng xuất sản xuất của nền kinh tế và giá trị GDP tăng hàng năm. Chính một trong các giá trị mà doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng trong giai đoạn gia tăng tốc độ phát triển kinh tế là hoạt động trên 20% vốn tự có và 80% vốn vay, cùng lúc luôn giữ mức nguyên vật liệu ở mức thấp cho thời gian sản xuất là 5 ngày đến 7 ngày trước khi đơn đặc hàng mới được chuyển đến. Như vậy tính theo giá trị kinh tế thì vòng xoay vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản rất cao.

Sự hợp tác quốc gia dưới sự điều phối của các cơ quan chính phủ Nhật Bản trong các chính sách ưu tiên cho ngành nghề nào cần phát triển và xử dụng vốn và công nghệ như thế nào. Sự thành công trong việc hợp tác giữa chính phủ, giới công nghiệo và nhóm tài chính, và lực lượng lao động tạo ra một sự hoàn hảo của mức đầu tư cao, chất lượng nghiệp vụ của lực lương lao động, sự kết hợp chặc chẻ và thống nhất của các tổ chức doanh nghiệp, và tốc độ điều phối công nghệ và khoa học kỷ thuật cho các ngành kinh tế chủ đạo có giá trị xuất khẩu cao. Ngoài ra sự hiệu quả của việc xử lý các vấn đề mà giám đốc, trưởng xưởng đối với nhân viên luôn tiết kiệm thời gian nhất là nhân viên có thể thảo luận với cấp trên nhanh hơn cho các biện pháp xử lý. Tức là khoảng cách mà nhân viên có thể liên lạc với cấp hiệu quả hơn so với các quốc gia khác. Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích sự phát triển của hệ thống giáo dục chú trọng đến khoa học kỷ thuật và ngôn ngử quốc tế, tăng cường hợp tác và cạnh tranh nhưng không phải đối chọi trên thị trường, cung cấp vốn cho các ngành xuất khẩu, hổ trợ các dự án hợp tác với chính phủ nước ngoài, luôn khuyến khích thị trường nước ngoài mở cửa.

Khi tham khảo các vấn đề trong công việc, nhân viên cấp dưới có thể thảo luận với cấp trên trong thái độ khiêm tốn và lặng lẻ, và đưa ra các ý kiến cho cấp trên biết trước khi vấn đề được bàn thảo công khai. Đó là một trong các bước mà nhóm làm việc tạo ra, hơn là tự đưa ra ý kiên để lấy điểm trước tập thể. Các thay đổi và sửa chữa sẻ có người chịu trách nhiệm xử lý. Các ý kiến và kế hoạch luôn được thông qua cho tất cả mọi thành viên tham khảo để biết trước nội dụng. Còn quyết định cuối cùng vẩn là ở cấp trên. Sự làm việc của các nhân viên Nhật Bản ở mức độ cao trên thế giới so với các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp. Quá trình làm việc theo chu kỳ vòng tròn từ khởi điềm cho đến khi quyết định cuối cùng trải qua nhiều bước cho toàn thể công ty cùng tham khảo trước khi được phê chuẩn cho việc áp dụng và thực hiện.

Giá trị và nhiệm vụ của kỷ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bơỉ vì Nhật Bản nhận ra đất nước của họ không có nhiều tài nguyên như các quốc gia khác, khả năng mà họ phải đạt được là phát triển các ngành khoa học nghiên cứu, công nghệ kỷ thuật cao, hệ thống tính toán theo thần kinh logic, hóa sinh, gia tăng giá trị cho các sản phẩm ưu việc phục vụ thị trường trên thế giới. Nền kinh tế Nhật Bản và xã hội Nhật Bản đang chuyển sang gia đoạn hoàn thiện của các giá trị xuất phát từ con người hay người tiêu dùng và ứng dụng các lợi ích của thông tin và trong sinh hoạt cuộc sống và kinh doanh. Có nghĩa khoa học công nghệ sẻ nối kết tất cả mọi hoạt động với nhau và mục tiêu cuối cùng là phục vụ con người. Trong năm 2008 giá trị kinh tế của nông nghiệp chỉ chiếm có 1.5% GDP, công nghiệp chiếm 26.3% GDP, và các loại kinh tế dịch vụ cần nhiều giá trị kiến thức và khoa học kỷ thuật đóng góp đến 72.3% GDP. So với Úc thì kinh tế dịch vụ đóng góp là 69.8% GDP, còn Trung Quốc là 40.1% GDP, Ấn Độ là 53.4% GDP.

Đó là một số điểm khái quát về văn hóa trong kinh doanh và hoạt động kinh tế Nhật Bản có thể giúp nhân viên và cán bộ quản lý Việt Nam có một niềm đam mê học hỏi ở Nhật Bản. Điều quan trọng là làm sao tạo ra khả năng của một con người có thể nối kết với công ty hay tập thể để cùng nhau phát triển về tương lai. Sự trung thành, hy sinh, tôn trọng, khiêm nhượng, và kiên nhẩn luôn là sự kết hợp hoàn hảo. Ở Nhật Bản, sự phát triển là vận đống thăng tiến liên tục. Việt Nam cần có khái niệm hy sinh cho công ty, cho doanh nghiệp, cho tổ chức cơ quan nhằm khuyến khích mọi thành viên đóng góp nhiều hơn, làm việc nhiệt tình hơn, biết phát huy sáng kiến cho lợi ích chung. Trung Quốc, Ấn Độ là hai bài học cho Việt Nam phát triển về công nghệ thông tin và kỷ nghệ sản xuất cho xuất khẩu ở giá thành cạnh tranh và tiêu chuẩn quốc tế.


Các Giá Trị Của Trung Quốc Mà Việt Nam Cần Học Hỏi

“Không có công thức nào giúp một quốc gia thành công hoàn toàn, nhưng quốc gia đó có khả năng khai thác tiềm năng của mình thông qua việc khai thác tài nguyên, quản lý con người, và tạo điều kiện cho con người kinh doanh thành công.”

*****
John Naisbitt và Doris Naisbitt, giảng sư tại đại học Nanjing, Nankai và Tianjin ở Trung Quốc. Họ thành lập ra viện nghiên cứu Naisbitt ChinaTianjin cho việc nghiên cứu, giảng dạy về kinh tế tại Trung Quốc. Mặc dù họ là người Áo, nhưng sự say mê của họ về Trung Quốc đưa họ đến quốc gia này làm việc và sống trong thời gian dài. Chính vì lẻ đó cái nhìn của họ về Trung Quốc khác với các tác giả khác. Tôi chi nêu lại các kết luận mà hai giáo sư này nhận xét và phân tích lý do nào mà Trung Quốc thành công trong việc phát triển kinh tế của mình trong giai đoạn 1979-2010.

Họ ca ngợi các giá trị mà chính phủ Trung Quốc làm được trong việc giảm đi số lượng dân có mức thu nhập nghèo vượt qua con số 300 triệu người trong vòng 3 thập niên. Mà trong đó có sự di chuyển của hơn 200 triệu người từ vùng nông thôn lên thành thị cung cấp nguồn lao động cho sự tăng trưởng GDP liên tục ở mức trên 10% trong suốc hơn 2 thập niên và giảm dần cho mức 9%, 10% trong các năm gần đây. Bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc củng biết khai thác cơ hội để phát triển ra thị trường nước ngoài. Mặc dù có nhiều ý kiến về các giá trị văn hóa, xã hội tại Trung Quốc không tương đồng với các giá trị tại Phương Tây, như kết quả mà Trung Quốc làm được có thể khẳng định một điều là Ấn Độ củng có số dân đông như Trung Quốc nhưng không phát triển mạnh và nhanh như Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ có chế độ chính trị đa đảng, còn Trung Quốc chỉ có một đảng chính trị. Sau đây là một phần tóm lược ý kiến của hai giáo sư này cho các giá trị mà Trung Quốc đả làm được trong ba thập niên qua.

Khái niệm tái kiến thiết Trung Quốc ra đời vào năm 1979. Các công ty hay xí nghiệp đang hoạt động trên bờ vực bị phá sản. Người điều hành doanh nghiệp hay xí nghiệp đả chọn ra những kế hoành đầy tham vọng, có tầm nhìn xa, kiên quyết, nhất quán để biến đổi lực lượng lao động của họ trong tình trạng có trình độ kém, luôn bị quản thúc hay quản chế cho từng hành vi, quá dể dải thành một lực lượng làm việc với những phương thức, tinh thần hoàn toàn khác.

Bước đầu tiên mà nhà quản lý muốn làm là chọn ra cho mình một đội tinh nhuệ nồng cốt có thể đảm nhận công việc hiệu quả, và nắm rỏ mục tiêu mà doanh nghiệp họ muốn hoàn thành. Nhân viên cấp dưới biết suy nghĩ mạnh mẻ hơn để cung cấp sáng kiến và cải tiến trong công việc. Khả năng tự chủ, tự tin này giúp nhân viên tăng them tinh thần làm việc và long tự trọng trong công việc. Mọi người can đảm hơn trong việc có trách nhiệm đóng góp cho doanh nghiệp của mình phát triển.

Bước tiếp theo là cán bộ quản lý sẻ tạo ra môi trường làm việc mới nhằm tăng cường khả năng trao đổi ý kiến, đóng góp ý kiến, truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên xuống cấp dưới, hay từ cấp dưới lên cấp trên. Sự trao đổi và đóng góp này mang tính xây dựng và hoàn thiện cho doanh nghiệp, do đó mọi người luôn tin tưởng là ý kiến của mình sẻ không gây tại họa cho bản thân. Mọi người sẻ nhiệt tình đóng góp cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Nó không tạo ra mâu thuẩn mà tạo ra quá trình lập đi, lập lại cho sự hoàn thiện mỗi ngày.

Bước thứ ba là khẳn định mục tiêu mà doanh nghiệp theo điểu. Thành lập ra giá trị riêng cho doanh nghiệp gọi là văn hóa của doanh nghiệp. Nó đảm bảo mọi người sẻ có lợi khi cùng nhau thực hiện các qui ước này một cách tự giác và có ý thức cao. Sự thành công của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, có như vậy thì doanh nghiệp mới cung cấp thu nhập, tiền thưởng và các lợi ích khách cho mọi thành viên. Mọi thành việc sẻ hoạt động theo các khuôn mẫu đả đề ra, nhưng các tài năng vẩn có thể phát triển vượt ra ngoài các khuôn mẫu này cho sự lớn mạnh của công ty. Công ty sẻ xem xét kết quả này để điều chinh lại chiều kích mới cho khuôn mẫu mới để mọi thành viên khác cùng noi theo. Như vậy khuôn mẫu giúp mọi thành viên hoạt động hiệu quả, nhưng các tài năng hiếm có vẩn có thể gia tăng sức sang tạo và giá trị cống hiến cho công ty ở mức cao và linh động.

Bước thứ tư là khả năng xây dựng niềm tin và loại dần cảm giác sợ hải. Lòng tin sẻ giúp mọi người giám làm đển chọn ra kết quả đúng. Có nghĩa làm thử để loại cái sai, chọn cái đúng được chấp nhận vì mọi người chưa tạo ra một tiêu chuẩn thống nhất cho chiến lược lâu dài. Đó là cơ hội để sự sang tạo, phát minh và sang kiến có cơ hội phát huy và tồn tại trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.

Bước thứ năm là chào đón, đón nhận các giá trị nghệ thuận và trí tuệ, mặc dù đôi lúc nó đi trước thời đại. Vì các giá trị này góp phần cho sự đa dạnh của kinh doanh trong nền kinh tế, nhất là sự hình thành nhiều loại hình kinh doanh văn hóa phong phú tạo ra tác động tích cực cho các loại hình kinh tế khác tăng trưởng. Ví dụ như hội họa có thể tăng lượng du khách nước ngoài cho việc chiêm ngưỡng hay mua các tác phẩm.

Bước thứ sáu là doanh nghiệp biết thành lập nền móng tại thị trường nội địa, sau đó mở rộng sang các thị trường nước ngoài. Đồng thời mời gọi đối tác, nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác, để học hỏi công nghệ hiện đại, công nghệ mới giúp công ty tăng khả năng cạnh tranh.

Bước thứ bảy là hành vi của một người sẻ ảnh hưởng lên người khác. Sự thành công của một người luôn tạo ra sự ganh tị cho người khác. Trong khi đó thất bại lại gây ra sự than phiền từ người khác cho hành vi của mình. Thường một người có tài sẻ leo dân lên nấc thang của sự thành công, ngược lại những người không có khả năng sẻ bị khựng lại cho ví trí của mình. Quá trình này tạo ra sự hoàn thiện của quá trình sản xuất vì mọi người nhận ra sự cải tiến, sang tạo được nhận phần thưởng là chức vụ cao hơn, lương cao hơn. Sự công bằng và tự do cho đóng góp và khen thưởng sẻ giúp sự hòa hợp tồn tại và phát triển ổn định trong doanh nghiệp.

Bước thứ tám là Khi doanh nghiệp đả tạo ra chổ đứng trong thị trường, thì doanh nghiệp phải chuyển dần từ việc bắt chước các sản phẩm nước ngoài sang việc tự chế tạo ra sản phẩm do mình nghiên cứu và tạo ra sự tin tưởng và ưa thích của người tiêu dùng. Các quá trình được cải tiến, nâng cấp để tăng chất lượng, hiệu xuất, số lượng của sản phẩm tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Như vậy cuộc sống của mọi thành viên trong doanh nghiệp củng được cải thiện và nâng cấp.

Tám giá trị này được biểu hiện không chỉ ở doanh nghiệp kinh tế, mà còn ở các cơ quan chức năng trong chính phủ. Điều này có thể nhận ra khi chính phủ luôn biết cách hổ trợ doanh nghiệp kinh tế thông qua giúp vốn vay ưu đải, công nghệ cho việc phát triển tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các giao dịch mua các thương hiệu nước ngoài, trên danh nghĩa là do các doanh nghiệp kinh tế Trung Quốc thực hiện, như vốn thu mua do ngân hàng của Trung Quốc cung cấp. Tám giá trị vửa nêu còn gọi là tám trụ cột xã hội mà nền kinh tế của Trung Quốc dựa vào để phát triển trong ba thập niên qua. Nền kinh tế của Việt Nam có thể áp dụng phần nào tám giá trị này cho việc tăng tốc nền kinh tế từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.


Ấn Độ và Giá Trị Quản Lý của Các Doanh Nghiệp Công Nghệ Thông Tin

“Khả năng sử quản lý nguồn nhân sự, tài nguyên, khai thác thị trường là một sự phối hợp không chỉ do trình độ của ban quản lý của một doanh nghiệp, mà nó còn mang giá trị văn hóa của quốc gia đó tác động lên sự thành công trên thị trường trong nước và ngoài nước.”

*****


Cán bộ quản lý củng không quên là có thể học hỏi như thế nào đối với các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc phát triển công nghệ thông tin và mở rộng sang các loại ngành kinh tế khác. Ấn Độ có tỉ lệ dân số rất lớn không tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở, do nhiều nguyên nhân. Như bù lại các thành phố lớn có tỉ lệ lớn sinh viên tốt nghiệp trong các ngành kinh tế, khoa học, nghiện cứu mũi nhọn. Nhờ đó mà nền kinh tế của Ấn Độ có khả năng cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ và công nghiệp này.

Sau đây là một trong các thành công của nền công nghiệp phần mềm mà Ấn Độ làm được trong ba thập niên vừa qua. Đó là sự thành công của công ty Wipro có giá trị thị trường hiện nay là hơn 30 tỉ USD vào tháng 2 năm 2011. Công ty công nghệ thông tin của Ân Đố này đả áp dụng các chiến lược phát triển thần kỳ tạo ra mức doanh thu và giá trị thị trường gân bằng 1/3 GDP của Việt Nam. Như vậy nếu Việt Nam có hai công ty như công ty Wipro thì củng có thể tăng lên giá trị thị trường là 60 tỉ USD.

Các giá trị nào mà công ty Wirpo đả áp dụng thành công? (a) mở rộng thị trường không tạo ra sự bất ổn và xáo trộn, (b) thực hiện các qui luật của xuất khẩu công đoạn, (c) cải tiến và nâng cấp mỗi ngày, (d) luôn quan tâm khách hàng một cách cao độ, (e) khuyến khích nhân viên làm việc theo phương thức của Wipro, (f) chuẩn bị kế hoạch trước ba năm cho tốc độ tăng trưởng nhanh. Wirpo đả chọn chổ đứng cho mình trong việc cung cấp nguồn chất xám giá rẻ thông qua kết nối mạng internet đối với khách hàng trong và ngoài nước. Trong năm 2000, công ty phát hành cổ phiếu đầu tiên tại thị trường New York, khi công ty đạt được mức doanh thu là 500 triệu USD. Năm 2006, giá trị thị trường của công ty là 20 tỉ USD, tạo ra doanh thu là 2.4 tỉ USD. Các công ty phần mềm và công nghệ thông tin của Ấn Độ thường có hai cách thành lập. Thông qua các du học sinh tại các đại học Hoa Kỳ, sau đó họ vào làm việc cho các công ty tại thông lũng Silicon ở California. Khi họ đả tích luỹ đủ kinh nghiệm, củng như tạo ra mối quan hệ làm ăn và uy tính tại thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu, thì họ quay về Ấn Độ thành lập công ty. Người bỏ vốn cho họ có thể là nhà đầu tư Ấn Độ hay Hoa Kỳ. Khi họ thành lập công ty có qui mô nhỏ, rồi phát triển dần thành một công ty quốc tế phục vụ mọi nơi thông qua nối kết mạnh cho các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Ân Độ đào tạo khoảng 120,000 sinh viên thạc sĩ và hơn 3 triệu sinh viên đại học về công nghệ thông tin hằng năm. Mức lương mà họ nhận bằng khoảng 20% mức lương của các nhân viên tại các công ty của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Có nghĩa thị trường chất xám của Ấn Độ tạo ra cơn chảy công việc từ các thị trường mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu theo giá trị so sánh: kết nối internet + chất xám giá rẻ tạo ra cơ hội kiếm tiền và tạo lợi nhuận cao. Các công ty này thuê mướn nhân viên làm việc theo ba ca, tức là họ luôn hoạt động 24 giờ một này, và 365 ngày một năm cho khách hàng trên toàn thế giới không kể sự khác biệt của múi giờ.

Tata Consultancy Services (TCS) là công ty lớn nhất về dịch vụ công nghệ thông tin tại Ấn Độ. Doanh thu của họ là 3 tỉ USD trong năm 2006. Doanh thu của họ trong năm 2010 là khoảng 6.5 tỉ USD, giá trị thị trường là khoảng 46 tỉ USD. Infosys củng là một công ty Ấn Độ có giá thị trường là 38 tỉ USD trong năm 2011, tạo ra doanh thu là 4.6 tỉ USD. Ba công ty công ty tạo ra giá trị thị trường khoảng 110 tỉ USD lớn hơn bằng GDP của Việt Nam. Cả ba công ty tạo ra doanh thu là hơn 15 tỉ USD tạo ra công ăn việc làm cho hơn 420,000 người. Đó là một trong ví dụ cho việc Việt Nam có thể phát triển các doanh nghiệp trong công nghệ thông tin có qui mô hoạt động toàn cầu. Các loại dịch vụ mà cả ba công ty này cung cấp và phục vụ khách hàng toàn cầu luôn cần nguồn cung cấp nhân tài là chất lượng mà các đại học thuộc khoa học công nghệ thông tin có thể cung cấp hằng năm cho ba loại bằng cấp: thạc sĩ, đại học và trung cấp. Mà nòng cốt là đội ngủ giảng dạy có có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp tại các đại học nước ngoài ở Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, và các quốc gia khác. www.infosys.comwww.tcs.comwww.wipro.com là ba websites của ba công ty này có thể cung cấp các loại hình dịch vụ mà Việt Nam có thể phát triển và đầu tư trong các năm sắp tới.

Cho trường hợp của công ty Wipro, cán bộ quản lý của Việt Nam có thể học hỏi các bài học sau.

Bài học thứ nhất là tạo ra khả năng cung cấp dịch vụ cho các công ty bán lẻ, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ khi giá thành cho việc chi phí ở mức thấp. Công ty có thể nhận ra tiềm năng cung cấp dịch vụ toàn cầu khi công ty thành lập bản đồ thị trường của khách hàng, qua đó sẻ chuẩn bị hệ thống kết cấu có khả năng phục vụ khách hàng ở tốc độ cao, ổn định, chất lượng bảo đảm và giá thành hợp lý. Khái niệm công ty ảo là một khái niệm mới lien quan đến sự hổ trợ của hệ thống máy tín có chức năng làm việc giải quyết các sử lý mà khách hàng yêu cầu. Những khó khăn về thời gian, ngôn ngữ, trình độ thao tác, độ chính xác luôn được quan tâm và nâng cấp không ngừng. Khách hàng là các công ty đa quốc gia do đó nhu cầu của họ không phải hạn chế hay rang buộc tại một thị trường, do đó công ty phải có khả năng hoạt động cùng lúc trên nhiều mạng khác nhau, nhằm duy trình khả năng hoạt động lien tục. Sự kết hợp trong các thao tác hay hộ trợ mang tính không biên giới cho các dịch vụ. Nhân viên có thể làm việc trong một nhóm, dù họ sống hay di chuyển tại nhiều thanh phố khác nhau, nhờ cầu nối internet toàn cầu, và bảo mật của mạnh giải mã cho các thông tin mật. Sự cải tiến là giá trị sống còn, vì các công ty đối thủ sẻ vượt qua khi công ty nhà không có biện pháp cải tiến và hoàn thiện. Sự sống của công ty nó giống như nguồn khí mà nhân viên hít thở hằng ngày, do đó tinh thần cải tiến và sang tạo luôn đi đôi với nhịp sống của mọi thành viên. Thành công là ý trí mà mọi thành viên luôn ghi nhớ và thực hiện. Nó như là khẩu hiệu, mục tiêu lâu dài cho từng cá nhân cống hiến cho công ty.

Bài học thứ hai là áp dụng các bài học chuyển tiếp cho lợi nhuận. Khai thác triệt để từng lợi nhuận dù nhỏ hay lớn để phát triển công ty. Giải thích bằng cái ví dụ giúp nhân viên áp dụng và thực hiện dể dàng. Tận dụng từng loại hình kinh doanh và áp dụng tất cả sang kiến cho việc cải thiện khả năng quản lý trong từng loại hình kinh doanh, vì khách hàng có thể hoạt động bất cứ lỉnh vực nào. Nhận ra khái niệm biến công ty thành trung tâm sang tạo và cung cấp dịch vụ toàn cần với các giá trị cạnh tranh cao nhất. Khi điều kiện cho phép, công ty sẻ tận dụng tốc độ phát triển ở mức cao nhất, nhưng đồng thời củng sẻ chuyển dần sang các loại hình kinh doanh khách nhau cho lợi nhuận được phân bổ trên nhiều loại hình kinh doanh. Nhất là khi thị trường phát triển cho các nhu cầu mới. Mục tiêu mà doanh nghiệp nên chọn ra có giá trị rỏ rệt như là giá trị thị trường của công ty, doanh thu của công ty từng năm hay kế hoạch 2 năm hay 3 năm trong tương lai. Như vậy kích thích sự phấn đấu mà nhân viên có thể đóng góp cho công ty. Khi công ty cần mở rộng thị trường, thì nên chọn giải pháp là phát hành cổ phiếu để gia tăng vốn cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Đồng thời thuê mướn nhân viên có chuyên môn cao, tay nghề, long nhiệt tình cho việc sang tạo ra các loại dịch vụ và sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của thị trường. Sáng kiến mới là nguồn động lực tiếp sức cho công ty hoạt động hiệu quả và lớn mạnh hơn. Ban lãnh đạo công ty sẻ chọn ra lý tưởng hay triết là cho công ty, mà nó được dùng như kim chỉ nam cho toàn thể nhân viên của công ty thực hiện.

Bài học thứ ba là thực hiện chiến lược để dẩn đầu một lúc tại nhiều thị trường. Sự mở rộng thị trường không có nghĩa là giảm đi sự tập trung mà doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả. Sự hoạt động hiệu quả sẻ do khả năng quản lý các nhóm hoạt động trong từng loại hình kinh doanh, như họ vẩn có thể hộ trợ cho nhau. Như vậy doanh nghiệp tận dụng hết tiềm năng và năng lực của mọi nhân viên cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng không nên phân tán ra quá nhiều tài nguyên của doanh nghiệp mà rủi ro củng có thể gây ra sự thất thu. Sự phức tạp của việc kinh doanh trong nhiều thị trường củng là một tính cách hữu ích cho doanh nghiệp, như là sự thử thách vượt qua các đối thủ khác. Khi đối diện với khó khăn, thì doanh nghiệp sẻ phân tích và rút ra các giá trị cụ thể liên quan đến ngành kinh tế dịch vụ của mình. Nó mang giá trị thiết thực, cụ thể để doanh nghiệp có thể thực hiện hiệu quả và có lợi nhuận cao hơn.

Bài học thứ tư là biết cách phát triển doanh nghiệp khi doanh nghiệp tạo ra kích thích và làm chủ tình hình trong từng loại hình kinh doanh. Nhất là từng loại thị trường kinh doanh khác nhau tạo thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Khi thâm nhập vào một thị trường mới, doanh nghiệp luôn phát triển hết khả năng nhằm gia tăng thị trường, củng nhưng chiếm lĩnh nhóm dẩn đầu trong thị trường đó. Đồng thời, doanh nghiệp củng sẻ chọn ra nhiều gói đầu tư để tấn công vào một thị trường tạo ra hiệu quả của sự thành công lớn hơn. Rút ngắn các thiếu sót mà khả năng doanh nghiệp đang gặp phải, đển nâng cấp khả năng cho sự hài lòng từ khách hàng. Đối với từng loại thị trường, doanh nghiệp có thể đi lên trong top đầu để tái khẳn định các qui tắc cạnh tranh mới nhằm qua mặt các công ty đối thủ khác. Khi muốn thu mua các công ty khác, doanh nghiệp sẻ đặc ra mục tiêu mở rộng tiềm năng rộng hơn tại thị trường. Giống như thành lập cả một mắt xích có đủ tiềm năng trong từng loại ngành kinh doanh khác nhau, nhưng lại có tiềm năng hổ trợ hài hòa bên trong doanh nghiệp.

Bài học thứ năm là biến doanh nghiệp của mình thành một thương hiệu có giá trị bằng việc áp dụng các qui tắc đạo đức, thái độ làm việc ở mức cao nhất. Hay gọi là nghiêm khắc nhất. Mọi nhân viên sẻ nhận ra họ phải làm điều đúng khi họ muốn hoàn thành công việc được giao. Chuyển dần các giá trị của công ty vào trong cuộc sống của nhân viên. Luôn khẳn định một điều là giá trị không đứng yên một chổ, mà nó phải biến đổi cho sự cải thiện và nâng cấp. Sự đồng bộ mà nhân viên có thể làm việc hiệu quả là khi các giá trị được gắn liền vào trong hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thành công, luôn tạo ra các khái niệm đóng góp cho xã hội qua nhiều hình thức khác nhau.

Bài học thứ sáu là giáo dục nhân viên mới thuê tuyển và hổ trợ họ suốt quá trình làm việc với các chương trình huấn luyện nâng cao nghiệp vụ. Có thể gọi là chuyển biến giá trị chất xám vào từng nhân viên làm việc cho công ty. Như vậy giúp công ty gia tăng hiệu quả và các mục tiêu kinh doanh lâu dài. Luôn tạo ra khoảng không gian tạo cho mọi nhân viên cảm giác họ phải vận động cho sự sang tạo không ngừng. Sự tuyển chọn nhân viên cho các vị trí cần thiết mà công ty muốn thuê tuyển. Tuỳ theo chức năng, mà tốc độ tuyển dụng nhân sự có sự thay đổi khác nhau nhằm đảm bảo chất lượng của nhân viên tuyển lựa nhân viên mới. Khi đả thuê mướn, các nhân viên luôn được tham gia các khóa đào tạo cho việc hấp thụ tinh túy là các giá trị mà công ty đả thành công và gây dựng nên. Nhân tài luôn được nuôi dưỡng và nâng cao cho từng vị trí phù hợp. Khi phát triển ở qui mô toàn cầu, sự chọn lựa nhân tuyển cho cán bộ lãnh đạo luôn được chuẩn bị trước khi cần sẻ thay thế vị trí của người lãnh đạo của công ty. Mọi nhân viên luôn có thái độ làm việc là tự nâng cao trình độ và cải thiện nghiệp vụ của mình.

Bài học thứ bảy là gợi ra các câu hỏi và phê bình từ nhân viên để giúp doanh nghiệp cùng phát triển. Khái niệm trao đổi thông tin, ý kiến, các giá trị đóng góp được phổ biến mở rộng ra trên toàn bộ các bộ phận của doanh nghiệp tạo cơ hội cho mọi người trao đổi và cải thiện lẩn nhau. Sự đóng góp này có thể tiết kiệm rất nhiều cho doanh về tiền bạc và thời gian. Vì các giá trị mà nhân viên đóng góp tương tư như ý kiến của khách hàng đóng. Do đó doanh nghiệp hạn chế mọi thiệt hại nếu các trường hợp vừa nêu không được khắc phục trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Như vậy có thể làm khách hàng bỏ đi sang các công ty cạnh tranh đối thủ khác. Các câu hỏi luôn được đưa ra từ cấp trên tạo cho nhân viên cấp dưới niềm tin cho các đóng góp của mình. Nếu cán bộ lảnh đạo nghi ngờ một cấn đề gì cho kết quả không như mong muốn, nên đưa ra câu hỏi ngay tức khắc để đón nhận ý kiến của nhân viên có thể giúp cho doanh nghiệp cải thiện hay tìm giải pháp tối ưu hơn. Ngoài ra, đi kèm với câu hỏi còn là các hành động cụ thể để tạo niềm tin và sự kích lệ cho thái độ làm việc và đóng góp của nhân viên. Trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên có một hộp thư góp ý. Như vậy mọi người sẻ dể dàng đóng góp ý kiến nâng cao chất lượng và dịch vụ một cách kính đáo không gây ra hiểu lầm, đố kỵ trong nội bộ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mọi thành viên sẻ có trách nhiệm tự giác tìm ra lổi và các thiếu sót trong từng công đoạn, để góp ý. Có nghĩa nâng cao chất lượng, cải tạo qui trình làm việc cho sự hoàn thiện trước khi khách hàng nhận ra thiếu sót của mình. Đó củng là cách mà doanh nghiệp tự hoàn thiện và tạo ra cách biệt trong cuộc chạy đua với các đối tác trong và ngoài nước.

Bài học thứ tám là khen thưởng nhân viên cho sự đóng góp trước toàn thể mọi thành viên và sự tôn trọng rỏ ràng. Gia tăng thái độ làm việc tích cực, cổ vũ những giá trị đạo đức nghề nghiệp với các phần thưởng sang tạo. Sự vui mừng hay cùng nhau tận hưởng các chiến thắng của doanh nghiệp củng tạo ra luồn sức mạnh cho mọi người, và đồng thời nhắc nhở thái độ làm việc nghiêm túc của họ sau này. Thưởng nhân viên với các giá trị cụ thể như tiền thưởng, tăng lương, đi nghĩ ở nơi du lịch nổi tiếng, hay các bổng lộc khác. Có thể tặng nhân viên xuất sắc một số cổ phiếu của doanh nghiệp để gắn liền tương lai của nhân viên với sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

Bài học thứ chính là áp dụng các giá trị so sánh phân tích nhằm hạn chế các tiêu xài không cần thiết cho cán bộ cao cấp hay đầu ngành các bộ phận. Do đó sẻ tiết kiệm tối đa các chi phí, nếu nhận thấy nó không cần thiết, củng như tạo ra lợi nhuận cho công ty. Doanh nghiệp sẻ tính toán giảm đi các chi phí trung gian khi thực hiện các giao dịch hay mua bán. Tiền hoa hồng của nhân viên trong việc tham gia các giao dịch như vậy sẻ được tính toán cho sự hợp lý tính theo số người tham gia. Khi nhận ra nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới có thể tiết kiệm từ mức tiêu thụ giấy, mực in, giấy vệ sinh, nước uống, hay các chi phí lặc vặc trong hoạt động văn phòng, thì số lượng lớn sẻ giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều. Củng như việc sử dụng điện và các thiết bị không cần thiết cho mục tiêu kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có số lượng đi lại lớn cho nhân viên giữa các văn phòng trên thế giới hay trong một quốc gia, thì sự tính toán chi phí cho việc đi lại này củng sẻ giúp tiết kiệm nhiều cho doanh nghiệp. Khi thiết kế xây dựng văn phòng, hảng xưởng, người quản lý sẻ tính đến việc rút ngắn thời gian di chuyển của nhân viên từ bộ phận này sang bộ phận khác, hay các dây chuyển gia công sản xuất có thể đảm bảo chất lượng, số lượng. Nhân viên sẻ làm việc trong môi trường có không gian và sự bố trí nhân sự và các bộ phận chức năng hợp lý cho cả việc trao đổi thông tin và di chuyển hằng ngày. Như việc thiết kế nhà vệ sinh và phòng ăn, tiện cho nhân viên có thời gian di chuyển ngắn nhất. Sự tiết kiệm sẻ đi kèm theo sự tích luỷ của ngân sách. Có nghĩa chi phí tiết kiệm được sẻ được dùng vào các dự án khác có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa bỏ qua quá trình tăng giá trị của doanh nghiệp. Mọi hành vi tiết kiệm luôn đảm bảo là chất lượng của công việc luôn phải được đảm bảo và gia tăng không ngừng. Khi cần thiết thì doanh nghiệp vẩn phải chi phí cho các hoạt động cần thiết tạo ra lợi nhuận, hay hổ trợ cho các hoạt động tạo ra lợi nhuận.

Bài học thứ mười là xây dựng nền tảng của doanh nghiệp bằng việc gìn giử các nhân tài và chuyên gia có kinh nghiệm trong công việc. Họ là nòng cốt duy trì sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Nhưng đồng thời gia tăng giá trị sáng tạo bằng cách tiếp nhận nguồn nhân lực mới từ bên ngoài. Nhân viên luôn hiểu hết giá trị lịch sử mà doanh nghiệp hình thành, phát triển, mở rộng thị trường như là niềm tự hào của mọi thành viên. Bên cạnh đó hạn chế các hành vi chia nhóm hay phân rẻ trong nội bộ doanh nghiệp tạo ra sự đình trệ và thiệt hại cho sự phát triển mang tính sáng tạo của mọi người. Nếu từng nhóm làm việc mang giá trị quan hệ như gia đình tạo ra sức mạnh phát triển của nhóm và củ cả doanh nghiệp. Hoán chuyển vị trí làm việc nhằm đổi mới và gia tăng khả năng điều hành của các giám đốc của từng bộ phận. Tạo ra giá trị lảnh đạo trong từng hơi thở của các thành viên. Bên cạnh đó củng tạo ra khái niệm khi nào thì nên theo nội qui, khi nào thì có thể linh động sử lý công việc.

Bài học thứ mười một là xây dựng dựa trên các giá trị căn bản của cạnh tranh và ưu việt. Khả năng mà doanh nghiệp có thể làm được là biết đánh giá mọi hoạt động một cách nhanh chónh. Có thể nói những con số luôn vận động và làm việc trong đầu của mọi người. So sánh với cái tốt nhất hiện có trên thị trường để cố gắn vươn lên vượt qua giá trị đó. Luôn gắn liền các giá trị chiến lược theo từng hành vi làm việc hằng ngày. Mổi nhân viên có thể tự đánh giá về mình trong công việc và đánh giá đồng nghiệp trong công việc để cùng nhau tiến bộ. Giám đốc hay trưởng nhóm luôn biết được thuộc cấp của mình nghĩ gì và làm sao để mọi người đánh giá khả năng làm việc của mình. Nếu chỉ thị cấp dưới, người lảnh đạo luôn dùng các minh họa chi tiết để hạn chế hiểu làm tạo ra sai sót gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Bài học thứ mười hai là lên kế hoạch trước ba năm cho sự tăng trưởng vượt bậc. Quan niệm những gì là quá trình chuyển biến cho giá trị chính và chiến lược của doanh nghiệp. Đề ra các mục tiêu cụ thể để khẳn định các chiến lược rỏ ràng. Trong việc thực hiện chiến lược luôn gắn liền việc phân tích từng bước. Khi nhận ra nhân viên có sáng kiến hay, nên giao cho họ tham gia vào việc hoạch định chính sách kế hoạch lâu dài.

Bài học thứ mười ba là sáng tạo sản phẩm mới, dịch vụ mới mỗi ngày. Có thể từ các chi tiết hay hoạt động nhỏ nào củng liên quan đến các giá trị lớn hơn cho sang kiến được đóng góp. Nâng cao cải tiến công nghệ là bước quan trọng. Sự gia tăng khả năng xử lý vấn đề củng mang giá trị sáng tạo và cải tiến. Tốc độ hoạt động của các khâu làm việc củng nằm trong quá trình sáng tạo và cải tiến. Thành lập trung tâm cho hoạt động cải tiến ở mức tuyệt đối như là nơi để mọi thành viên có thể học hỏi và nâng cao khả năng của mình. Sáng kiến và cải tiến luôn thông qua các chương trình khởi xướng do cấp trên đề ra. Sự cải tiến về số lượng và chất lượng luôn đi kèm với nhau trong từng bộ phận của doanh nghiệp. Khi tiếp nhậ ý kiến từ bên ngoài, doanh nghiệp sẻ chuyển đổi thành ý kiến mới mang nét riêng của doanh nghiệp. Luôn tạo ra tinh thần học hỏi từ các chuyển gia hy bậc thầy bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp. Sự kiệm thời xử lý các công đoạn hay áp dụng sự chính xác và làm việc có tốc độ cao, củng như hoàn thành công việc theo chu kỳ thời gian.

Bài học thứ mười bốn là luôn gắng liền mối quan tâm đối với khách hàng khi họ cần các dịch vụ vào bất cứ thời điểm nào. Các giá trị phục vụ cho nhu cầu của khách hàng luôn được quan tâm và thực hiện cho dù là thiên tai hay các sự cố ngoài ý muốn xảy ra, thì doanh nghiệp vẩn tiềm giải pháp thỏa mản nhu cầu của khách hàng. Tạo ra sự quan tâm từ khách hàng đối với nền tản hay giá trị của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp vẩn phải chọn các phương pháp cụ thể biến sự thất bại thành thành công với sự đóng góp của toàn thể nhân viên. Khi chọn một khách hàng khó tính nào hay có giá trị tiềm năng toàn cầu, phục vụ họ với các giá trị sang tạo vượt ngoài khả năng sẻ là phương thức quảng cáo cho giá trị của doanh nghiệp. Sự thành công này chính là chìa khóa để đón nhận khách hàng mới từ thị trường trong và ngoài nước. Trong quá trình phục vụ khách hàng, doanh nghiệp còn có khả năng tiếp xúc và giáo dục khách hàng cho các việc sự dụng sản phẩm, dịch vụ có lợi nhất cho họ. Đó củng là cách tạo ra niềm tin từ khách hàng khi thể hiện tính cách chuyên nghiệp cao của doanh nghiệp.

Bài học thứ mười lăm là áp dụng quản lý nhịp độ cao để tăng khả năng hoàn thành công việc và chỉ tiêu. Có nghĩa tạo ra tốc độ làm việc cao hơn mức bình thường, như vậy giúp nhân viên hoàn thành công việc sớm hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, gia tăng lợi nhuận. Ngay cả khi đả đạt vị trí là nhà cung cấp toàn cầu có doanh thu hàng tỉ USD, thì doanh nghiệp vẩn phải doanh nghiệp phải tiếp tục  bố trí nhân sự cho các vị trí then chốt cho các nhân tuyển có khả năng tiếp tục phát triển doanh nghiệp hiệu quả hơn. Người lảnh đạo luôn linh động trong việc quản lý và thực hiện các chính sách cho doanh nghiệp. Sự linh động này mang giá trị phù hợp theo thị trường và đối thủ cạnh tranh. Đồng thời biết điều chỉnh và tổ chức các bộ phận làm việc với nhau cho mục tiêu đạt được tốc độ của sang tạo, cải tiến phục vụ khách hàng. Sự nhảy vọt cho giá trị tạo ra sản phẩm của doanh như là mục tiêu vượt mặt các đối thủ trong thị trường.

Bài học thứ mườn sáu là áp dụng khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh như là bài học cho tương lai và giới thiệu với khách hàng khác. Doanh nghiệp sẻ phân tích từng loại khách hàng và loại hình kinh doanh của khách hàng có sự liên quan đối với khả năng phục vụ của doanh nghiệp. Đó là các ví dụ cụ thể mà doanh nghiệp dùng phát triển cho các kế hoạch phục vụ khách hàng mới. Khách hàng củng có thể giúp cho doanh nghiệp nâng cao giá trị phục vụ về chuyên môn và các giá trị khác.

Những bài học quản lý kinh doanh và mở rộng thị trường mà các công ty công nghệ thông tin có thể giúp các công ty công nghệ thông tin Việt Nam học hỏi và tạo ra thương hiệu toàn cầu cho mình. Ngôn ngử quốc tế như tiếng Anh, Hoa, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Á Rập là công cụ chính giúp các doanh nghiệp Việt Nam phục vụ khách hàng khắp nơn trên thế giới. Các bài học từ các công ty Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ giúp cho doanh nghiệp trong nước mở rộng dần từ lợi nhuận ổn định, rồi phát hành cổ phiếu ra thị trường nước ngoài. Không chỉ huy động vốn nước ngoài, mà còn thu hút khách hàng nước ngoài cho tiềm năng lớn hơn, lợi nhuận cao hơn.
Phần Mười Hai:  Quản Lý Môi Trường Kinh Doanh, Nhân Sự và Tài Nguyên
 “Thời gian làm thay đổi nhiều thứ, nhưng không làm sự vật trở lại trạng thái ban đầu, sau khi bị khai thác hay xử dụng. Con người là tác nhân quyết định cho việc thay đổi môi trường để tái phục vụ các thế hệ tiếp theo.”
 *****
 Môi trường mang giá trị hạn chế và tái tạo theo nghĩa được khai thác cho nền kinh tế quốc dân. Thành phố và các trung tâm kinh tế phát triển có lợi thế cho việc tạo ra công ăn việc làm khi mật độ đầu tư từ nguồn trong và ngoài nước cao do giá trị trảo đổi của mậu dich quốc tế tạo ra. Singapore là ví dụ cho giá trị trao đổi mậu dịch, du lịch, tiêu thụ, và giải trí bằng sự khai thác tuyệt đối vị trí địa lý, các di sản văn hóa, chính trị, và lịch sử cho sự phát triển hiệu quả của nền kinh tế. Do đó chính phủ trung ương cần tạo ra ít nhất là 3 khái niệm môi trường phát triển kinh tế trong thị trường nội địa. Nó bao gồm: con người, tài nguyên hay vị trí địa lý, và khả năng quản lý (kiến thức và pháp luật).
Trong gia đoạn kinh tế sau hai thập niên thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, Việt Nam có những lợi thế và hạn chế cho ba loại tác nhân: (1) yếu tố con người trong vấn đề nguồn cung cấp lao động, (2) nguồn tài nguyên địa lý như đất đai, khoáng sản, hải sản, du lịch sinh thái, hệ thống xử lý  nước thải và khả năng tái xử dụng rác (3) trình độ kiến thức và khả năng thích ứng với môi trường sống và làm việc cho việc phát triển sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước. Doanh nghiệp tư nhân sẻ hoạt động dưới các chính sách kinh tế mà chính phủ trung ương sẻ chọn ra nhằm hổ trợ giúp phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm đường xá, cầu cống, hệ thống xử lý nước thải và chất thải công nghiệp, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện, hệ thống nước sạch, hệ thống thông tin liện lạc, trường học, thư viện, chương trình đào tạo các bộ quản lý, và khả năng bảo vệ quốc gia trong vấn đề tội phạm kinh tế.

Nếu tính theo chiều hẹp của không gian thì một tỉnh ở Việt Nam còn lớn hơn nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng sự khác biệt ở chổ là khả năng khai thác và phát triển kinh tế của tỉnh đó. Chính vì vậy mà một khu vực có thể là thành phố hay tỉnh vẩn cần có sự kết hợp với chính phủ trung ương và các doanh nghiệp tư nhân trong việc tạo ra thế mạnh cho mình, nhất là biết khai thác tài nguyên và gìn giữ nguồn tài nguyên cho việc tái xử dụng nhiều lần trong cuộc sống. Các khu kinh tế đặc biệt sẻ thiên về giá trị cho thuê mặt bằng để các công ty sản xuất tập trung cao cho sản phẩm xuất khẩu tiêu dùng ở thị trường nội địa và quốc tế với chế độ thuế ưu đải nhằm thu hút nhiều hơn nhà đầu tư nước ngoài về vốn, thiết bị, nhà máy, khoa học kỷ thuật, và nghiệp vụ quản lý, lẩn khả năng thâm nhập thị trường quốc tế.

Doanh nghiệp tư nhân sẻ nhận ra khai thác tài nguyên, con người như thế nào có lợi về lâu dài. Có nghĩa không vắt kiệt hết mọi giá trị mà không tái tạo lại giá trị mới cho môi trường và tài nguyên. Trong khi đó chính phủ trung ương và địa phương sẻ làm việc với nhau nhầm thống nhất việc quản lý, khuyến khích, và thu chi trong phạm vi hành chính, luật pháp, và ngoại giao cho ý nghĩa của các chương trình phát triển kinh tế nhằm nâng cao mức sống người tiêu dùng, khả năng khai thác tài nguyên, tái tạo nguồn tài nguyên, nâng cao nghiệp vụ người lao động, điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong việc khuyến khích các loại hình kinh tế có nhu cầu cao trên thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp hay nhà đầu tư củng biết cách phát triển theo các qui định mà chính phủ đưa ra trong các hợp đồng kinh tế lâu dài.

Các giá trị về sự quan tâm và cải thiện môi trường sống bao gồm hệ thống giáo dục miễn phí và bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9 hay lớp 12. Tùy theo khả năng tài chính của ngân sách mà chính phủ có thể thực hiện nền giáo dục miễn phí hay không. Hệ thống y tế có sự hổ trợ của chính phủ, doanh nghiệp, và tư nhân giúp người dân có thu nhập thấp được châm sóc sức khỏe y tế tốt hơn. Các tổ chức tư vấn về pháp luật, kinh tế, kinh doanh, giáo dục sẻ giúp người lao động có cơ hội thay đổi công việc và các hoạt động sống tích cực giúp họ có cơ hội khai thác việc làm và bảo vệ quyền lợi của họ.

Những giá trị và ý nghĩa của quản lý môi trường tài nguyên, lao động, kinh doanh, luật kinh tế, luật đầu tư, luật sở hữu không những tạo ra môi trường phát triển kinh tế hoàn hảo cho kinh tế quốc gia và an ninh quốc gia, mà nó còn điều phối các quá trình hoạt động sống, làm việc, kinh doanh, giải trí lành mạnh của mọi thành viên trong xã hội. Nhưng đó là điều kiện cần và đủ cho Việt Nam trở thành một con rồng kinh tế mới trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á với tổng sản phẩm quốc dân hơn 1000 tỉ USD. Có nghĩa là gấp 10 lần mức tổng thu nhập quốc dân hiện tại ở mức 104 tỉ USD. Giá trị của một thị trường tiềm năng như Việt Nam có thể nói do nhiều tác nhân tạo ra, nhưng không thể quyên đi sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Củng như Trung Quốc có mức độ tăng trưởng cao củng do có nhiều nguồn vốn đầu tư bao gồm tiền, công nghệ, chuyên môn, hệ thống phân phối được phát triển và đầu tư trong và ngoài nước giúp cho các hàng hoá mang dòng chử “made-in-China” đi đến tay người tiêu dùng trên cả 5 châu lục. Ngoài ra các doanh nghiệp Trung Quốc biết khai thác thị trường mới bằng việc thâm nhập các sản phẩm tương tự có giá thành thấp hơn và chất lượng thỏa mãn người tiêu dùng.

Khi tạm xem tất cả những tổ chức hoạt động trong xã hội là một loại doanh nghiệp đặc biệt, thì ban quản lý sẻ nhận ra vai trò của họ đều mang giá trị kinh tế và an ninh quốc gia. Do đó họ sẻ nhận ra tính hiệu quả, và năng xuất trong việc xử lý công việc theo chức năng và quản lý nhân sự hiệu quả luôn là trách nhiệm và đóng góp cho việc phát triển kinh tế quốc gia. Có sự khác biệt giữa hai loại doanh nghiệp là doanh nghiệp trực tiếp tạo ra lợi nhuận theo mức doanh thu, và doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận theo hiệu quả giúp các doanh nghiệp khác tạo ra mức doanh thu. Các cơ quan chính phủ và trường học thuộc về loại thứ hai, còn các công ty, xí nghiệp kinh doanh thuộc về loại thứ nhất. Do vậy nều các cơ quan chính phủ từ cấp trung ương đến cấp địa phương gây trờ ngại cho các doanh nghiệp đạt mức doanh thu hay hoạt động làm việc và sinh sống của cá nhân và tổ chức kinh doanh là đả gián tiến gây tác hại đến quá trình pháp triển kinh tế. Càng có nhiều xí nghiệp tham gia vào thị trường sẻ tạo ra nhiều công việc cho người dân Việt Nam. Thời hạn xét duyệt đơn xin giấy phép kinh doanh hay thành lập công ty càng giải quyết mau chóng bao nhiêu càng tạo ra công ăn việc làm cho thị trường lao động trong nước.

Một công ty nước ngoài muốn đầu tư vào khu vực kinh tế đặc biệt và hội đủ tất cả các yêu cầu, thì cơ quan chức năng của chính phủ có thể cấp giấy phép kinh doanh và xây dựng. Nhưng do những thông lệ cho lợi nhuận cá nhân, đả gây ra hậu quả của việc đình trệ hay tăng chi phí cho các doanh nghiệp này chính là hành động gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam. Nếu Việt Nam so sánh thời gian xin giấy phép kinh doanh tại các quốc gia trong khu vực và thời gian các cơ quan chức năng của Việt Nam phê chuẩn giấy phép kinh doanh, thì câu trả lời sẻ là hiệu quả của thời gian giải quyết giấy phép kinh doanh sẻ thu hút nhà đầu tư nước ngoài tạo ra công việc cho người dân, tăng thu nhập quốc gia và nguồn thu ngân sách của chính phủ. Người dân càng giàu thì chính phủ càng có nhiều ngân sách thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, khoa học nghiên cứu và an ninh quốc phòng. Khi các chủ đầu tư nhận ra có nhiều hiện tượng tiêu cực trong các khâu xin giấy phép kinh doanh, xây dựng ,thuê mướn nhân viên, luật công đoàn, và quản lý hành chánh, tài chính họ sẻ rút lui và tìm sang các thị trường đầu tư khác trong khu vực. Đây là sự cạnh tranh giữa thị trường Việt Nam và các thị trường khác trong khu vực Đông Nam Á.

Các quốc gia cạnh tranh nhau trong việc thu hút nguồn đầu tư bằng nhiều biện pháp, do đó nếu một quốc gia không biết tạo ra các điệu kiện thuận lợi và ưu đải cho môi trường đầu tư và kinh doanh, thì họ sẻ tự đánh mất cơ hội phát triển kinh tế của mình. Sự gây khó khăn của các cơ quan chính phủ sẻ làm mất đi cơ hội tạo công ăn việc làm cho người dân, và làm giảm đi nguồn thu nhập quốc gia sẻ gây ra nhiều phương haị cho nền an ninh quốc gia. Quốc phòng có mạnh thì củng do nguồn ngân sách từ các hoạt động kinh tế phát triển tạo ra. Các phương tiện quốc phòng cần nguồn ngân sách từ hoạt động kinh tế. Nếu Việt Nam có mức GDP là 104 tỉ USD, thì ngân sách quốc phòng sẻ không vượt qua con số 3 tỉ USD một năm. Trong khi đó nếu GDP của Việt Nam là 1000 tỉ USD, thì ngân sách quốc phòng có thể lên đến 30 tỉ USD một năm. Ngoài ra các dự án về giáo dục và phát triển nghiên cứu sẻ giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển đồng bộ hơn.

Tất cả doanh nghiệp thường hạn chế các khoản chi phí cho việc bảo vệ môi trường hay tái tạo môi trường kinh doanh, lẩn việc hổ trợ cho cộng đồng hay xã hội thông qua các quĩ phát triển cho tương lai, học bổng cho học sinh, và tài trợ các chương trình xã hội. Tài nguyên cần nghiên cứu có thể tái tạo hay tái sinh với ảnh hưởng thấp nhất cho môi trường. Môi trường cần được quan tâm giống như khoảng không gian bên trong ngôi nhà và bên ngoài ngôi nhà mà mổi con người thường trải qua ít nhất là 1/3 cuộc đời của họ. Xã hội phát triển thông qua sự chuyển đổi cơ cấu phân phối của tài nguyên, sở hữu, giá trị, và quyền lợi tạo ra sự ổn định. Kinh tế là phần nổi của sự thúc đẩy xã hội phát triển, rồi con người được nâng cao ý thức tự giác cho việc bảo vệ môi trường sống, làm việc và sinh hoạt giải trí.

Quan niệm phát triển kinh tế đi kèm với việc bảo vệ và tái tạo môi trường là điều thiết yếu. Nếu nhà doanh nghiệp cố tình không chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường vì lợi nhuận trước mắt, thì sớm muộn rồi doanh nghiệp củng sẻ gặp những khó khăn sau này trong việc tìm cách xữ lý chất thải hay khí thải ra môi trường. Chưa kể các biện pháp của chính phủ trong nước và chính phủ các nước áp đặt lên các doanh nghiệp gây ra những tác hại môi trường và sức khỏe cho người tiêu dùng. Khi phát triển các đô thị, nhà thầu và chính quyền địa phương luôn cân nhắc và chú trọng vốn phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng trước khi xây dựng nhà ở, tòa nhà văn phòng, hảng xưởng và các trung tâm mua bán hay phi trường. Quan niệm về xây dựng theo khối hay modular sẻ giúp nhà thầu và kỷ sư dể dàng nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng theo mật độ dân số, mạng lưới điện, số điện thoại đăng ký hay mật động xe lưu thông. Tất cả nhưng thông số này phải tính trước để hạn chế các đùng tắc giao thông, nghẻn mạch điện thoại, internet và các loại dịch vụ khác. Có nghĩa một khu vực cư dân mới sẻ mang giá trị cho cả số dân cư gia tăng trong vòng 20 năm hay 50 năm tới. Có như vậy thì chính phủ sẻ hạn chế việc thất thoát tài sản khi phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng khi nhà cửa đả được xây xong. Hệ thống cống thoát nước cần đủ dung lượng cho việc thoát nước vào mùa mưa, củng như xử lý nước thải với số lượng dân cư tăng lên. Thành phố củng cầng thiết lập hệ thống xe điện nối kết các khu vực cư dân lân cận cho việc vận chuyển hằng ngày cho công việc, đi mua sắm và giải trí hay đi học. Các thành phố ở Nhật Bản sẻ là một mô hình cho Việt Nam học hỏi trong việc phát triển đô thị với sự hiệu quả của hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, xử lý chất thải và công viên cây xanh, trường học.

Khi doanh nghiệp phát triển hay đả hoạt động ổn định trên quỉ đạo kinh doanh, thì ban quản lý sẻ luôn hướng đến quan niệm cải tạo và nâng cấp môi trường làm việc để tăng khả năng sản xuất, chất lượng, và các tính năng khác tạo ra nguồn doanh thu cho doanh nghiệp. Nhân viên và công nhân sẻ luôn chịu ảnh hưởng môi trường làm việc thông qua tác động tâm lý, sinh lý, và vật lý cho hiệu quả sản xuất, sáng tạo và sức khỏe. Khi doanh nghiệp phân tích các thông số ưu điểm của mình như nhân lực, công nghệ, môi trường làm việc, môi trường kinh doanh, mội trường cạnh tranh, môi trường tài chính, ban quản trị sẻ đề ra các biện pháp thích hợp trong từng giai đoạn cụ thể. Chi phí cho việc bảo vệ môi trường và cải tạo môi trường được tính vào chi phí kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp. Đó là nguyên tắc tự giác đối với trách lâu dài cho nền kinh tế quốc dân.

Trong giai đoạn mới phát triển, chính phủ thường tập trung vốn và nhân lực cho việc phát triển kinh tế theo nghĩa tuyệt đối. Nhiều dự án sẻ không đủ vốn cho việc tái tạo môi trường hay bảo vệ môi trường. Nhưng khả năng hạn chế tác động của công trình đối với môi trường có thể được điều chỉnh hay có dự án mở rộng cho việc tái tạo môi trường khi kinh phí cho phép giúp các nhà đầu tư tiếp tục xây dựng các công trình phụ cho vấn đề môi trường. Bên cạnh việc bảo vệ môi trường và việc xác định kế hoạch khai thác tài nguyên luôn đi kèm với việc tái tạo môi trường cho kinh tê quốc dân ở những thế hệ tiếp theo.

Khi phát triển đô thị, chính phủ sẻ có nhiều khó khăn cho việc chọn lựa xây dựng khu dân cư mới có hệ thống xe điện ngầm hạng chế lưu lượng giao thông và nạn kẹt xe, lẩn khí thải ô nhiểm do các phương tiện xe máy gây ra. Các khu vực mới được chọn lựa cho việc phát triển đô thị, khu chế xuất, du lịch sinh thái sẻ có nhiều ảnh hưởng của việc cạnh tranh thu mua đất đai, giành các hợp đồng và giấy phép cho việc cung cấp dịch vụ và xây dựng cơ sở hạ tầng giữa các nhà thầu trên thị trường cùng với ích lợi của ban quản lý các dự án và sở qui hoạch. Những dự án này bao gồm phát triển cho khu vực nhà ở, siêu thị, trường học, trung tâm thương mại, xí nghiệp, nhà máy, và các thiết bị lọc nước thải và nhà máy phát điện, hệ thống giao thông công cộng và phương tiện giao thông công cộng. Sự quản lý tốt các dự án mới và cải tạo các môi trường sinh sống củ sẻ giúp xã hội có những thay đổi tích cực cho việc phát triển kinh tế. Tài nguyền có hai loại: tái tạo lại được và không tái tạo lại được. Dầu thô khai thác từ mỏ dầu không tái tạo lại được; nhưng gồ từ các khu rừng khai thác có thể được trồng lại với các kế hoạch cho việc xử dụng đúng theo thời gian đầu tư cho từng loại cây và chiều cao và chất lượng gổ của cây.

Những kinh doanh có liên quan đến các quyền lợi khai thác tài nguyên luôn là vấn đề tế nhị mà các daonh nghiệp luôn cạnh tranh với nhau để có được giấy phép hoạt động. Sự đấu thầu mang giá trị công bằng và công khai giữa các doanh nghiệp tham gia nhằm tạo ra các sản phẩm phụ vục có giá trị cạnh tranh cao cho thị trường trong và ngoài nước. Thị trường nguyên liệu, năng lượng và khai thác tài nguyên luôn là các lĩnh vực kinh tế thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Nếu giá trị kinh tế do mức hiệu xuất và công nghệ giúp một doanh nghiệp khai thác được nhiều hơn và đóng góp thuế cho chính phủ, tạo công ăn việc làm cho dân địa phương thì đó là doanh nghiệp cần được chọn trong các đấu thuần công khai. Môi trường tự nhiên mang nhiều giá trị kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng và sức khỏe, do đó những kế hoạch phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường luôn là điều phải thực thi đồng bộ. Các nguy hại của ô nhiểm môi trường khó loại bổ hoàn toàn, nhưng nếu biết ngăn ngừa việc ô nhiễm thì chính phủ và các cơ quan chức năng sẻ quản lý tốt hơn đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh tế tại Việt Nam.

Doanh nghiệp sẻ chọn việc khai thác kinh doanh của mình có sự phù hợp với các giá trị của tài nguyên môi trường. Như công ty Vedan đả thải ra chất độc hai gây tác hại cho môi trường xung quanh vì họ không đáng giá việc giảm chi phí lợi nhuận cho việc thiết lập công đoạn xử lý chất thải. Mà môi trường xung quanh mội doanh nghiệp là môi trường của người tiêu dùng sinh sống, thái độ của họ sẻ quyết định đến vận mạng của doanh nghiệp. Các quyền lợi của người tiêu dùng từ giá trị an toàn thực phẩm, sức khoẻ, giá trị của sản phẩm, tính năng của sản phẩm phù hợp với môi trường sống của người tiêu dùng, chất liệu chế tạo ra sản phẩm không gây nguy hiểm cho người tiêu dùng, nhà sản xuất có trách nhiệm thực hiện các giá trị qui định phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Mà xã hội càng phát triển, thì doanh nghiệp sẻ có nhiều trách nhiệm hơn khi phục vụ khách hàng của mình.

Môi trường tự nhiên, con người luôn là hai vấn đề chính yếu mà một doanh nghiệp luôn quan tâm không chỉ giữ uy tín mà còn là phương thức quảng cáo hiệu quả cho thương hiệu của mình về lâu dài. Khi khách hàng nghe đến thương hiệu của doanh nghiệp là họ có thể nghĩa đến các giá trị tích cực, ưu việc mà doanh nghiệp thực hiện và nâng cao trong suốt thời gian qua. Do đó chủ doanh nghiệp luôn luôn giáo dục nhân viên của mình có thái độ đúng đắn trong việc thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ đối với môi trường, khách hàng. Tiết kiệm điện, nước, xữ dụng vật tư cũng là một phương thức bảo vệ môi trường. Hạn chế xử dụng xe cơ quan cho công việc cá nhân tiết kiệm xăng, giảm khói thải ra môi trường, giảm kẹt xe củng là trách nhiệm của mọi nhân viên. Khuyến khích nhân viên dùng chung xe với nhau, giảm lượng khí thải, và nạn kẹt xe giờ cao điểm. Mua vật liệu số lượng phù hợp cho việc tiêu dùng trong cơ quan hợp lý.

Quản lý con người củng nằm trong việc quản lý tài nguyên. Nhật Bản là quốc gia ít tài nguyên, như do quản lý con người hiệu quả mà tạo ra sự phát triển thần kinh trong giai đoạn 1950 đến 1987. Singapore củng không có tài nguyên nhưng vẩn biết phát triển nền kinh tế có mức thu nhập đầu người khoảng 51000 USD, cao nhất Châu Á. Yếu tố con người đả khẳng định các giá trị trong lịch sử của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia từ thời xa xưa. Do đó ngày nay, cán bộ quản lý sẻ tiếp tực biết khai thác nguồn tài nguyên là con người một cách hợp lý để gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, tạo ra giá trị cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nếu các vùng nông thôn có các tài năng về xây dựng, ứng dụng khoa học kỷ thuật vào canh nông, xây dựng hệ thống tưới nước, cầu vượt cho giao thông, hiện đại hóa cuộc sống, biến ứng dụng các kiến thức cho việc cải thiện môi trường sinh hoạt và lao động, thì nguồn kinh tế là sản phẩm nông nghiệp sẻ tạo ra có giá trị cao hơn. Nâng cao mức sống người dân. Nếu chủ doanh nghiệp nhận ra giá trị kiến thức, tài năng của toàn bộ nhân viên theo giá trị tiền mặt, thì đó là vô giá. Do đó doanh nghiệp cần khai thác tiềm năng kiến thức, năng lực của nhân viên ở mức cao nhất. Không nên phí phạm nguồn tài nguyên con người trong việc phân bố nhân sự không hợp lý. Nhất là phòng nhân sự phải biết chọn lựa nhân tài cho việc đào tạo để đề bạc lên các chức vụ hợp lý trong tương lai. Ngoài ra trong các dự án cùng thực hiện một lúc, một nhân viên giỏi có thể tham gia vào nhiều dự án cùng một lúc, nếu nhân viên này có khả năng đóng góp cho sự thành công cao hơn.

Tại thành thị, người dân biết thực hiện việc ứng dụng các kiến thức vào việc cải tạo cuộc sống của họ. Sáng kiến ra nhiều loại sản phẩm, dịch vụ sẻ tăng số lượng hàng hóa trao đổi trên thị trường. Sức sáng tạo của con người do môi trường làm việc kích thích tạo nên. Họ nhận ra các sáng kiến sẻ tạo ra lợi nhuận mà doanh nghiệp có lợi nhuận thì nhân viên có lương cao, tiền thưởng và nhiều quyền lợi khác đi theo. Cán bộ lảnh đạo sẻ quản lý con người theo một phương thức mới. Con người là tài sản của doanh nghiệp, xã hội, do đó việc nuôi dưỡng, đạo tạo, nâng cao, huấn luyện, nhắc nhỏ sẻ giúp mọi thành viên làm việc có hiệu xuất cao hơn. Tinh thần làm việc củng có trách nhiệm hơn. Phân bổ nhân sự củng nằm trong việc quản lý tài nguyên. Người có tài sẻ tạo ra của cải cho doanh nghiệp và cho quốc gia. Họ biết tận dụng tài nguyên đúng cách. Họ biết tạo ra sản phẩm có giá trị cao phục vụ thị trường trong và ngoài nước. Do đó các vị trí quan trọng cần được giao cho cán bộ quản lý có khả năng để thực hiện các dự án có mức thành công cao nhân. Kiến thức ngày nay được áp dụng vào các ngành kinh tế, cơ quan chức năng không thể qua lao học cho có lể hay chỉ làm cầm chừng cho xong. Cán bộ phải phân tích và nhận định các giá trị thay đổi trong tương lai để đoán trước, nhằm hoạch định các kế hoạch dự phòng, hay cho tương lai.

Quản lý môi trường tự nhiên có lợi cho việc khai thác lâu dài. Sông, hồ, ao, lạch có giá trị sinh thái và tạo ra nhiều loại sản phẩm kinh tế liên quan khác nhau. Không thể coi nghẹ bất cứ giá trị nào. Quản lý con người là nguồn tài nguyên nội bộ của doanh nghiệp. Con người quyết định sự thành công của doanh nghiệp trong sự cạnh tranh tại thị trường. Dù doanh nghiệp có vốn mạnh, công nghệ tiên tiến mà thiếu nguồn nhân lực hiệu quả thị khó thành công tại thị trường trong và ngoài nước. Thị trường Việt Nam có nhiều nhu cầu để khai thác giá trị tài nguyên tự nhiên: dầu khí, quặn mỏ, thủy sản, nông sản, lâm sản, đất đai. Bên cạnh đó giá trị con người là vô giá, nếu doanh nghiệp biết thu hút nguồn chất xám thông qua việc tuyển dụng, đào tạo, nuôi dưỡng và khen thưởng thì về lâu dài doanh nghiệp sẻ là một cơ sơ vừa kinh doanh vừa đạo tạo nhân tài có chuyên môn cao. Đại học chỉ đào tạo sinh viên có kiến thức nhưng không có kinh nghiệm. Trong khi đó, doanh nghiệp vửa đào tạo con người có kiến thức thực tế và kinh nghiệp hoạt động trong môi trường tương tác đa chiều.
Phần Mười Một:  Phát Triển Kinh Tế Đa Dạng cho Tăng Trưởng Kinh Tế GDP
 “Thì trường bao gồm đủ loại người tiêu dùng, do đó nhu cầu củng khác nhau. Càng có nhiều nhà cung cấp và dịch vụ thì người tiêu dùng sẻ có nhiều cơ hội để chọn lựa loại sản phẩm mà họ thích.Doanh nghiệp củng khai thác được nhiều cơ hội cho thu nhập và tạo lợi nhuận.”
 *****
 Có những thị trường bị hạn chế về khả năng sản xuất trong một số loại sản phẩm đặc biệt, điển hình là các quốc gia Trung Đông thu về nguồn ngân sách và lợi nhuận thông qua việc xuất khẩu dầu thô. Nhưng các nhà kinh tế và chính phủ của các quốc gia này đả nhận ra trong tương lai không xa sẻ có hai viễn cảnh là thế giới sẻ giảm đi nhu cầu về sản phẩm có nguồn gốc từ dầu thô chuyển sang một loại nguyên liệu mới không gây ô nhiễm môi trường và giảm sự lệ thuộc vào nguồn nhập dầu thô; viễn cảnh thứ hai là nguồn dầu thô sẻ cạn kiệt. Do đó họ thành lập ra các quĩ gọi là quĩ đầu tư quốc gia “Sovereign Wealth Fund” nhắm vào việc củng cố thu nhập của các quốc gia bằng các dự án đầu tư trong nhiều lĩnh vực trên thế giới. Trung Quốc, Na Uy, Singapore, Brazil, và nhiều quốc gia có những khoản quỉ trực thuộc chính phủ cho việc tạo ra lợi nhuận từ các chính sách đầu tư trong và ngoài nước. Có nhiều ý kiến cho việc Nhật Bản cần có các loại quĩ tương tự giúp các khu vực kinh tế tỉnh của Nhật Bản phát triển.
Nhìn về khía cạnh an ninh quốc gia, thì một nên kinh tế năng động có nhiều ngành kinh doanh phục vụ người tiêu dùng lẩn các khách hàng lớn như chính phủ, doanh nghiệp sẻ tạo ra khả năng tự cung cao, hạn chế sự nhập khẩu vào các quốc gia. Đó củng là lý do mà nhiều chính phủ vẩn tiếp tục hổ trợ ngân sách cho các ngành kinh doanh trong nước mặc dù không tạo ra lợi nhuận. Sự đa dạng của nền kinh tế trong việc khuyến khích doanh nghiệp phát triển trên bề rộng của sản xuất và cung cấp dịch vụ giúp cho hệ thống giáo dục phát triển cân đối khi nguồn ra của các trường sẻ được tuyển dụng ở nguồn vào các ngành sản xuất và kinh doanh kinh tế. Trước những thử thách của thị trường cạnh tranh quốc tế, kinh tế ViệtNamsẻ cần nguồn ra đa dạng từ các trường trung học cấp 3 cho công nhân có chuyên môn căn bản.

Trường cao đẳng cho công nhân, chuyên viên có trình độ trung cấp trong các vị trí cần thiết cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đại học sẻ cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên mộn cao hơn và có khả năng tạo ra những sản phẩm có giá trị trí tuệ cao hơn. Hệ thống lương bổng và khen thưởng sẻ giúp thị trường lao động Việt Nam trở nên hấp dẩn đối với sự phát triển của sự đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh và sản xuất cho nhu cầu trong và ngoài nước.

Hiệu xuất, trình độ khoa học kỷ thuật, và khả năng nâng cấp của từng loại nghành nghề kinh doang sẻ giúp thị trường Việt Nam phát triển cả vệ số lượng và chất lượng. Làm sao thu hút vốn, kỷ thuật, và phương thức quản lý của nước ngoài và thay đổi cho phù hợp với môi trường làm việc tại Việt Nam. Bên cạnh đó là sự liên kết và thực hiện mục tiêu lâu dài là xây dựng nguồn vốn từ các nguồn xuất khẩu thặng dư, nhà đầu tư nước ngoài, gửi tiết kiệm và ủy thác của người tiêu dùng trong nước sẻ tăng khả năng phát triển các ngành nghệ kinh doanh xuất khẩu và tiêu dùng nội địa trong những năm sắp tới.

Chính phủ củng sẻ gia tốc sự tăng trường kinh tế bằng việc hỗ trợ cho các trung tâm tư vấn quốc gia có sự tham gia của chuyên gia trong và ngoài nước giúp các doanh nghiệp trẻ định hướng đúng cho việc đầu tư và kinh doanh hiệu quả. Mổi ngành nghề nên có một hiệp hội riêng để hội thảo và đưa ra các kiến nghị cho chính phủ xem xét trong các vấn để tạo ra khả năng cạh tranh cao hơn cho thương hiệu ViệtNamtại thị trường quốc tế. Chính phủ củng có thể thành lập các trang web tư vấn miễn phí cung cấp các thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham khảo cho việc phát triển kinh doanh và mở rộng đầu tư.

Các trường trung học phổ thông sẻ có những buổi nói chuyện giữa học sinh và các doanh nghiệp trong khu vực nhằm khuyến khích học sinh học tập và chọn lựa các chuyên môn cho tương lai. Các doanh nghiệp nên tăng cường đóng góp xây dựng quĩ học bổng và các chương trình thực tập cho sinh viên tạo ra mối quan hệ lâu dài và tốt đẹp hơn đối với cộng đồng trong khu vực. Các đại học sẻ có những buổi tranh luận giữa sinh viên và các chuyên gia trong nhiều lịnh vực khác nhau đang làm việc cho chính phủ, công ty trong nước, công ty liên doanh, công ty nước ngoài. Các quĩ học bổng là điều cần có cho việc phát triển khả năng cung cấp của thị trường lao động cho các ngành kinh tế tại Việt Nam.

Với sự đa dạng của nguồn nhân lực cung cấp cho các doanh nghiệp, thị trường Việt Nam sẻ có cơ hội phát triển cả chiều rộng và chiều sâu tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, hay nói cách khác là gia tăng tổng sản phẩm quốc dân. Bên cạnh đó khi thu nhập của người tiêu dùng được nâng cao hay cải thiện thì sẻ kích thích đến nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng trong việc mua sắm, giải trí, đi du lịch, và nâng cao khả năng tư duy và sáng tạo trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.

Chia nền kinh tế ra thành những khu vực chuyên môn khác nhau. Trước tiên là nói đến nông nghiệp. Có nghĩa chính quyền địa phương và chính phủ trung ương sẻ thiết lập sơ đồ địa lý của đất canh tác trên toàn quốc. Mỗi loại đất như vậy có thể trồng được loại hoa màu nào cho tiêu thụ trong nước và quốc tế ở mức lợi nhuận cao. Và các phương tiện cơ giới hóa, cấy ghép gen di truyền cho giống, phân bón, phương thức canh tác có hiệu xuất cao, chi phí thấp sẻ được tham khảo cho việc xây dựng các công ty nông nghiệp qui mô quốc gia hay quốc tế. Chăn nuôi gia xúc củng nằm trong hoạt động nông nghiệp. Số lượng kỷ sư nông lâm sẻ cần bao nhiêu cho từng vùng để hổ trợ phát triển kinh tế địa phương. Cần bao nhiêu lao động cho kinh tế nông nghiệp? Tìm đối tác nước ngoài có công nghệ, chuyên môn cao cho việc áp dụng các phương thức mới gia tăng giá trị kinh tế và thu nhập cho nông dân tại vùng này. Nếu lấy ví dụng hai quốc gia là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Nếu các công nghệ và trình độ khoa hóc kỷ thuật của họ đường dùng tại các vùng nông thôn của Việt Nam thì giá trị kinh tế có thể tăng lên 100 lần hay 1000 lần tùy theo loại hoa quả, chất lượng và chủng loại cho việc xuất khẩu ra nước ngoài.

Kinh tế xuất khẩu tiêu dùng. Bao gồm các loại sản phẩm tiêu dùng trong và ngoài nước. Có lẻ nó qua gồm từ may mặc quần áo, giầy dép, thực phẩm chế biến, thuốc men, đồ dùng điện tử (ti-vi, máy chạy DVD, máy vi tính, máy in, tủ lạnh, nồi cơm điện, máy giặc), xe gắn máy, xe hơi, nhà ở, các phương tiện giải trí trong cuộc sống, trường học, rạp chiếu phim. Nó chiếm hầu như hơn 70 thu nhập của người dân cho việc chi phí hàng ngày. Làm sao khai thác các giá trị này? Thường trong giai đoạn mới mở cửa thị trường, khả năng của các doanh nghiệp trong nước còn yếu không có đủ vốn, máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, chuyên gia, kỷ sư có tay nghề để thiết kế, chế tạo các sản phẩm căn bản cho cuộc sống hiện đại: nồi cơm điện, tivi màu, máy nghe nhạc, xe đạp, xe gắn máy, tủ lạnh, máy lạnh, máy giặc, lò viba, máy hút bụi. Do đó các sản phẩm này thường nhập từ nước ngoài. Nhưng dần dần các thiết bị này có thể được chế tạo trong nước với các nguyên vật liệu tự sản xuất. Khi thu nhập của người dân cao hơn nhu cầu của họ củng tăng lên cho các tiện nghi cao hơn là xe hơi, máy bay, du thuyền, xe điện và các phương tiện ích tốn nhiên liệu. Các giá trị này do sự đầu tư, nghiên cứu mà có được.

Các sản phẩm phần mềm máy vi tính phục vụ giải trí, thương mại, quảng cáo, khoa học thông tin và các mục tiêu khác đều năm trong hai loại – tiêu dùng và quốc phòng. Tiêu dùng bao gồm các hoạt động thương mại và giải trí hay giáo dục. Quốc phòng phục vụ cho các mục tiêu quốc phòng như phòng chống tội phạm, khai thác thông tin và quản lý thông tin ở qui mô cao hơn. Chính phủ sẻ khuyến khích tư nhân trong việc tham gia và sáng lập ra các doanh nghiệp tiên phong tròng từng loại ngành kinh tế như các công ty Hoa Kỳ trong việc sản xuất ra xe hơi là các hảng Ford, GMC, và Chrysler. Tiếp theo là các công ty hóa chất, khai thác dầu khí, dụng cụng điện tử như HP, IBM, General Electrics, và các công ty khác tại Hoa Kỳ. Việt Nam củng sẻ có các nhà sáng lập tương tự khi họ nhận ra cơ hội từ thị trường đang phái triển. Các sản phẩm như điện thoại di động, máy tính, dụng cụ y tế, thiết bị văn phòng luôn là sự thử thành mà các doanh nghiệp của Việt Nam có thể tham gia và đầu tư với các chiến lượng riêng nhằm gia tăng khả năng thành công trong tương lai.

Khai thác tài nguyên từ dầu khí, khoáng sản, nông sản, thủy sản đều mang giá trị hạn chế và thụ động. Có nghĩa giá trị khai thác bị giới hạn. Muốn có giá trị cao, thì phải có sự đống góp của công nghệ khoa học tiên tiến để gia tăng giá trị của sản phẩm thô thành sản phẩm có thể tiêu thụ ngay tức khắc. Như dầu thô được tinh lọc và chế biến thành nhiều loại sản phẩm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Nhưng cần vốn đầu tư nhà máy, thiết bị, nhân công cho việc khai thác các sản phẩm giá trị cao. Hải sản hay nông sản nếu qua sự chế biến sẻ có giá trị xuất khẩu cao tạo ra nhiều công việc và doanh thu cho quốc gia. Nông sản nếu được khai thác mang tính khoa học, qui mô công nghiệp sẻ cung cấp nguồn thực phẩm dinh dưởng, vệ sinh cho các thị trường quốc tế tạo ra công việc và doanh thu. Nhất là nhu cầu về lương thực thực phẩm đang gia tăng tại các quốc gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Phi, Nam Mỹ. Khả năng mà doanh nghiệp trong nông nghiệp là chọn sản phẩm có giá trị kinh tế cao để trồng trọt và khai thác sẻ gia tăng lợi nhuận cao hơn trong tương lai. Họ cần khảo sát thì trường quốc tế để lên kế hoạch canh tác, nghiên cưú co các dự án lâu dài với vốn tư có hay do nhà nước hổ trợ.

Thị trường nội địa gắn liền với thị trường quốc tế qua các giao dịch trao đổi mua bán, tạo ra những mối quan hệ lâu dài trong việc ảnh hưởng các quyết định và hành vị trong cuộc sống của người tiêu dùng trong nước đối với sự thay đổi của môi trường kinh tế thế giới. Sự kích thích cho thị trường nội địa phát triển đa dạng giúp cho nguồn thu chi ngân sách và thu nhập quốc dân được nâng cao. Bởi vì tất cả những thay đổi của khả năng sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước luôn tạo ra động lực phát triển theo cấp số nhân hay lũy tiến gia tăng theo từng năm hay kế hoạch phát triển.

Mổi thay đổi sẻ dẩn đến một thay đổi khác có tác dụng hiệu ứng thay đổi toàn diện. Ví dụ, người tiêu dùng đang có mức thu nhập của toàn bộ gia đình là 5 triệu đồng một tháng lên mức 10 triệu đồng một tháng sẻ thay đổi rất nhiều thứ trong sinh hoạt hằng ngày. Và sự thay đổi đó ảnh hưởng đến môi trường sống trong xả hội. Khái niệm vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh không khí, vệ sinh môi trường sẻ trở nên quan trọng hơn khi mức sống của người tiêu dùng được nâng cao. Chính lúc đó các doanh nghiệp sẻ đáp ứng những nhu cầu mới cho người tiêu dùng tạo ra sự chuyển đổi mới trong nền kinh tế của cung và cầu trên thị trường. Nhà đầu tư luôn mong muốn có nhiều sức mua của thị trường vì có lợi cho việc tiêu thụ tại chổ, nhưng bên cạnh đó các nhà đầu tư nước ngoài vẩn muốn trả mức lương vừa phải nhằm tạo ra sự cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới.Singaporecó sự lợi thế ở chổ biết biến đổi giá trị canh tranh của thị trường tính theo tỉ lệ mức đầu tư nước ngoài trên mổi đầu người dânSingapore. Đó là khái niệm tạo ra môi trường đầu tư đa dạng và cạnh tranh cao. Nếu thị trường ViệtNamcủng biến đổi khả năng tương tự có nghĩa vào năm 2005, các công ty Nhật Bản sẻ chọn các loại ngành kinh tế gia công cần sức lao động có giá rẻ như may mặc, gia công thiết bị điện, sản xuất bao bì, và linh kiện công nghiệp. Đến năm 2007, các công ty Nhật Bản sẻ chuyển sang việc chọn đầu tư vào các công ty phần mềm ứng dụng do các kỷ sự tin học Việt Nam có khả năng viết các chương trình ứng dụng cho các công ty lớn trên thế giới mà giá thành thấp hơn nhiều so với các công ty Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ, hay Nhật Bản. Có nghĩa các công ty Nhật Bản sẻ khai thác ở các lĩnh vực cần nhiều kiến thức, sức sáng tạo, khả năng tư duy nhưng vẩn giử mức chi phí tương đốt thấp tại Việt Nam. Hiện tại các loại sản phẩm về y tế, công nghệ thông tin, điện thoại di động có sự tương tác cao, máy vi tính mini, các loại thực phẩm chế biến có độ dinh dưởng cao, sản phẩm nông nghiệp, các công nghệ xanh bảo vệ môi trường, thiết bị dụng cụ y tế và sức khỏe cá nhân, thuốc men luôn là các nhu cầu luôn tăng lên theo sự gia tăng của dân số toàn cầu. Giáo dục ở Việt Nam củng là một loại sản phẩm tiêu dùng đặc biệt không có sự hổ trợ của chính phủ, do đó phần lớn người dân luôn gặp khó khăn khi phải chu cấp cho con cái trong việc theo đuổi các chương trình phổ thông cơ sở, trung học, hay đại học. Có nhiều loại hình đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài sẻ chọn lựa khi họ nhận ra giá trị so sánh trên lệch giữa thị trường Việt Nam và các thị trường khác trong khu vực. Nhưng khả năng cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng tay nghề cao mà giá thành hạ còn tùy thuộc vào đầu ra của các trường đại học trong nước, củng như số sinh viên du học nước ngoài quay về làm việc ở Việt Nam.

Những giá trị thuận tiện hay bất lợi cho việc xử dụng loại sản phẩm nào trên thị trường sẻ tác động đến mức tiêu thụ hay thói quen tiêu thụ của loại sản phẩm đó trong thị trường. Nếu chính phủSingaporekhông muốn người dân xử dụng xe hơi vì ô nhiểm môi trường và thất thoát nguồn tài nguyên, do đó tạo ra các chi phí cao cho việc người dân muốn mua một chiếc xe hơi. Ngoài ra giá nguyên liệu như xăng củng ảnh hưởng đến việc người tiêu dùng có mua xe hơi hay không. Nếu hệ thống xe điện ngầm, xe công cộng thuận tiện, an toàn và vệ sinh thì người dân sẻ chọn các phương tiện công cộng cho việc đi làm và đi lại trong các hoạt động hằng ngày. Như các thành phố lớn ở Nhật Bản, người dân xử dụng xe điện đi lại, ngoại trừ một số người có thu nhập cao xử dụng xe hơi riêng hay taxi khi đi lại. Taxi củng có thể tiện lợi khi đi các đoạn đưòng ngắn và có số người đông hơn 2. Nếu xe gắn máy chỉ trở được hai người, thì xe taxi có thể trở được từ 4 đến 7 người tuỳ theo loại xe. Củng như xe buýt có thể chở đến 40 người hay 50 người cho các tuyến đưòng trong nội thành, ngoại thành và liên tỉnh.

Đối với việc tạo ra nguồn lao động và phát triển kinh tế, sự đa dạng của nền kinh tế không chỉ giúp cho thị trường đó có nhiều cơ hội cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, củng như tạo ra nguồn lợi nhuận ít bị ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra. Nếu thị trường Việt Nam có nhiều loại mặt hàng xuất khẩu qua nhiều thị trường khác nhau, nếu một thì trường có giảm sức cầu, thì nền kinh tế của Việt Nam củng đở bị ảnh hưởng hơn là chỉ xuất khẩu một số ít chủng loại và chỉ một hay hai thị trường tiêu thụ. Như vậy các doanh nghiệp Việt sẻ lệ thuộc vào một hay hai thị trường này. Như trường hợp Nhật Bản lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc cho các loại đất hiếm cho việc chế tạo xe hơi chạy điện đả ảnh hưởng khi Trung Quốc hạn chế xuất khẩu đất hiếm và tăng mức thuế lên loại nguyên liệu này.

Nếu Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác, thì khả năng cung cấp sản phẩm của Nhật Bản củng tăng lên. Nhưng các nhà đầu tư của Nhật Bản củng sẻ tự hỏi sản phẩm làm ra sẻ tiêu thụ ở đâu và bằng cách nào. Nếu các cán bộ quản lý và nhân viên Việt Nam biết phát huy cả hai mặt là tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, và đồng thời biết đóng góp vào việc khai thác sự đa dang hóa của sản phẩm và dịch vụ thì các giá trị này sẻ trực tiếp tạo ra một động lực tăng trưởng kinh tế của thị trường Việt Nam. Đó là giá trị mà sự đa dạng hóa nền kinh tế có thể tạo ra. Sự đa dạng của sản phẩm tăng mức doanh thu cho doanh nghiệp; chẳn hạn doanh nghiệp sản xuất tivi màn hình phẳng, củng sản xuất máy DVD, và hệ thống nghe nhạc cao cấp vì khách hàng sẻ dể dàng mua toàn bộ hệ thống tiện cho việc nối kết và xử dụng. Ngoài ra doanh nghiệp còn liên kết với ngân hàng cho việc cung cấp tín dụng thanh toán và các chương trình khuyến mãi cho các dịch vụ khác nhằm chia sẻ lợi nhuận với các doanh nghiệp khác và được sự hổ trợ về mặt quản cáo từ các doanh nghiệp khác. Một công ty kinh doanh khách sạn vẫn có thể liên doan với các doanh nghiệp khác trong các ngành nghề có liên quan hay tự phát triển khả năng phục vụ bằng cách trực tiếp quản lý và phát triển các loại hình kinh doanh khác. Ví dụ, khách sạn sẻ cung cấp các loại hình kinh doanh về giải trí khi nguồn khách có những nhu cầu cần thiết lẩn khách hàng bên ngoài. Trong khi đó các doanh nghiệp xây dựng và chế tạo chuyên dùng sẻ xây dựng các khu vui chơi, mua sắm, ăn uống, du lịch sinh thái và chương trình giao lưu quốc tế trong các lĩnh vực khác nhau. Khách hàng là mục tiêu của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp luôn tìm ra mọi phương thức kinh doanh làm khách hàng hài lòng. Các hảng sản xuất điện tử có thể phát triển nhiều loại sản phẩm khác nhau như một hảng sản xuất computer có thể sản xuất ra máy nghe nhạc, điện thoại di động như hảng Apple, Sony, Panasonic, Toshiba. Sự thay đổi của nhu cầu tiêu dùng dưới nhiều tác động của xã hội củng làm cho người tiêu dùng có thể giảm đi các hoạt động tiêu thụ ở một loại sản phẩm nào đó. Chính vì vậy mà một công ty có thể đầu tư cho việc nghiên cứu chế tạo ra các loại sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước để thu hút mức tiêu thụ cho các sản phẩm mới. Khả năng này có lẻ tùy vào sự phân tích, quan sát và đánh giá giúp một công ty có thể chuyển mình từ thất bại sang thành công. Nhưng điều quan trọng là những nhà sáng lập tại Việt Nam có sự quan sát tốt cho cơ hội, đánh giá khả năng thành công, hạn chế rủi ro, thay đổi thích ứng theo hoàn cảnh, và chịu khó mở rộng thị trường cho việc phát huy thế mạnh của doanh nhiệp mà họ thành lập. Các công ty đó có thể là khai thác khoáng sản, hải sản, nông sản, thực phẩm chế biến, nước giải khác, hàng may mặc, thiết bị điện tử, vật dụng bằng gổ, linh kiện chi xe hơi, xe gắn máy, thiết bị điện trong sinh hoạt gia đình, đóng tàu thủy, dịch vụ du lịch, công ty tài chính, giải trí công nghệ thông tin, phát triển phần mềm ứng dụng.



Kinh Tế Du Lịch
“Du khách đến đem theo cả văn hóa, kiến thức, và quan niệm sống tác động đến người dân địa phương và nhân viên phục vụ trong các quá trình giao tiếp. Khi họ về, họ mang theo những giá trị họ vừa khám phá ra ở nơi họ viếng thăm. Kinh tế phát triển theo nhiều chiều kích thông qua các hoạt động kinh tế du lịch.”
*****

Chuyển đổi môi trường phù hợp cho kinh tế du lịch không chỉ đơn giản là xây dựng hệ thống đường xá, phương tiện giao thông như xe bus, xe điện và máy bay, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, hệ thống nhà hàng hay quán ăn, các loại tiệm bán hàng lưu niệm và đồ thủ công trong nước, các phưong thức cung cấp thông tin liên lạc, phưong thức thanh toán, và đảm bảo an toàn cho du khách trong và ngoài nơi họ cư trú, mà còn xây dựng môi trường văn hoá, con người văn minh và thân thiện giúp cho du khách có những ngày vui chơi giải trí, hay làm việc kinh doanh tốt đẹp ở Việt Nam. Hơi thế nửa là cầu nối giao lưu văn hoá tại những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử và các khu vực thiên nhiên như rừng sinh thái. Con người sẻ tận hưởng những cảm giác an toàn và tiện nghi dù đó là một quốc gia xa lạ. Kinh tế du lịch có thể biến đổi rất nhiều môi trường sống của người dân địa phương khi họ có dịp tiếp xúc với các du khách từ các quốc gia khác đến, nhất là ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Nhưng có lẻ cả hai vẫn hoàn toàn hài lòng khi sự trao đổi hay giao lưu tạo ra những giá trị tinh thần hoàn toàn tốt đẹp. Như là một phần thưởng tinh thần mà một du khách hy vọng có được trong chuyến du lịch.

Mức cầu kéo theo mức cung của các dịch vụ sẻ phát triển gần những nơi danh lam thắng cảnh, khu du lịch sinh thái, di tích lịch sử, khu mua sắm cho nhu cầu của khách du lịch hay khách địa phương. Điều dể nhận ra là giá cả ở những nơi này củng sẻ gia tăng nếu không có sự quản lý của chính phủ và chính quyền địa phương sẻ dẩn đến những khó khăn cho người dân có mức thu nhập thấp bởi vì họ không trực tiếp làm việc trong các ngành kinh tế du lịch có thu nhập cao. Có nghĩa lạm phát hay giá cả gia tăng sẻ làm giảm đi sức mua của người tiêu dùng, vì họ không có sự bù lổ hay thu nhập được điều chỉnh theo giá cả của thị trường mà họ đang cư ngụ. Điều này có thể nhận ra ở các nơi như Đà Lạt, Vũng Tàu, Nha Trang, Vịnh Hạ Long và Mũi Né. Các khu vực có khí hậu mát mẻ, điều kiện thiên nhiên lý tưởng do cảnh đẹp và thơ mộng củng tạo ra những nhu cầu du lịch, nghĩ ngơi, hay chửa bệnh cho thị trường trong và ngoài nước. Nhưng đôi lúc các khu vực này chỉ phát triển tự phát không có một qui mô phát triển theo chiều sâu lâu dài và thiếu các phương tiện quảng cáo quốc tế cho việc thu hút số lượng du khách đến từ khắp nơi trên thế giới tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho kinh tế địa phương. Hiện tại Việt Nam chưa thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trước, rồi phát triển đô thị sau. Có như vậy thì mới giải quyết các trường hợp kẹt xe trên các tuyến đường chính và hệ thống điện, thoát nước thải và xữ lý nước thải và hệ thống liên lạc cho toàn khu vực theo tiêu chuẩn quốc tế. Như vậy sẻ tạo ra một phong cách mỹ quan cho từng thành phố, quận, huyện, tĩnh trong cả nước. Mỗi một địa phương sẻ chọn cho mình một nét riêng cho việc phát triển văn hóa, kinh tế du lịch và quản lý môi trường và các di tích lịch sự đề thu hút du khách nước ngoài.

Chính quyền địa phương có thể nhận ra địa phương của mình có giá trị khai thác du lịch, nhưng lại không có nguồn vốn, đội ngủ quản lý giúp cho địa phương thành lập ra các chương trình phát triển kinh tế du lịch có giá trị cao và mang nét văn hoá dân tộc nhiều hơn. Sự thu hút du khách còn ở khả năng liên kết hay liên hệ với các văn phòng du lịch tại các thành phố, sân bay, trung tâm kinh doanh trong nước và các đối tác ở nước ngoài. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp còn biết khách hàng nào là khách hàng chính của mình. Ví dụ như Haiwaii là nơi du lịch quốc tế như do số lượng du khách Nhật Bản chiếm hơn 1/3 số lượng du khách, nên phần lớn các thông tin đều được viết bằng tiếng Anh và tiếng Nhật. Ngoài ra các khách sạn củng thuê mướn nhân viên là người Mỹ gốc Nhật hay người Nhật để dể dàng giao tiếp với khách hàng người Nhật. Đó là phương châm cho việc hiểu ai là khách hàng của mình nhằm tạo ra các nhu cầu cần thiết cho du khách đó.

Các du khách có nhiều lý do để chọn lựa nơi đi nghỉ mát, du lịch, hay tìm kiếm cơ hội kinh doanh và đầu tư. Chính vì vậy họ thường lựa chọn dựa trên các đặt tính có sự thu hút hay sự thích thú từ ý nghĩa khám phá văn hóa, lịch sử, truyền thống, con người, cơ hội mua sắm giá rẻ hàng tốt và nhiều. Người dân địa phương nếu được hướng dẩn trong các sinh hoạt hằng ngày nếu có tiếp xúc với du khách nước ngoài thì nên làm những gì. Giống như một gia đình chuẩn bị đón khách đến chơi, do đó các cánh thức giao tiếp nên trịnh trọng hay thân mật ở mức  độ nào và thái độ của người dân trong việc chỉ dẩn cách thức giao tiếp hay trò chuyện sẻ tạo những ấn tượng tốt cho du khách đối với từng địa phương và cho cả một quốc gia. Sự khác biệt về thu nhập và điều kiện sống đôi lúc củng làm cho người dân địa phương hiểu sai đi các giá trị của kinh tế du lịch tạo ra.

Du khách có thể đến một lần hay nhiều lần tùy theo các ấn tượng hay giá trị mà họ cảm nhận qua chuyến du lịch. Du khách luôn so sánh giá trị mà họ thu nhận được so với với các nơi du lịch mà họ đa từng đi qua để rút ra các bài học cho bản thân họ. Cho dù đó là những giá trị tinh thần hay cảm giác trong giao tiếp. Ngoài ra, nếu họ không quay trở lại và nhưng họ vẩn có thể thuật lại các kinh nghiệm thực tế mà học có được khi đi dụ lịch ở nước ngoài. Nếu khâu được chuẩn bị tốt cho việc chào đón du khách từ phi trường hay các cửa khẩu biên giới lẩn khi họ rời khỏi Việt Nam, có thể sẻ tạo ra một ấn tượng tốt đẹp vô giá hơn bất kỳ một phương thức quảng cáo nào. Làm sao chính phủ có thể làm việc với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường giá trị phục vụ về tinh thần và sự thoải mái cho du khách đến từ các quốc gia khác? Các cấp chính quyền địa phương củng linh động tạo ra vẻ đẹp của văn hóa, văn minh cho địa phuơng khi tạo ra ấn tượng tốt cho du khách. Bởi vì trong kinh doanh thì khách hàng là thượng đế. Nếu họ không đến thì có nhiều doanh nghiệp sẻ đóng cửa, người dân địa phương không có việc làm, chính quyền không có nguồn thu nhập từ thuế. Du khách luôn là người được đón tiếp như là người khách chưa bao giờ đến, để họ cảm nhận ra họ luôn là thượng đế ở những nơi họ đến.

Những trung tâm tư vấn, giáo dục thanh thiếu niên, các cơ quan an ninh chống tệ nạn, chống tội phạm, chống gián điệp có thể kết hợp cho việc hài hoà mọi sinh hoạt trong khu vực địa phương ở mức độ tự giác cao. Trong khi đó các hoạt động kinh doanh, kinh tế, văn hóa, giáo dục hoạt động nhịp nhàn và hiệu quả cao. Nguồn thuế sẻ cải thiện mức lương cho các nhân viên, cán bộ trong các cơ quan chức năng cùng với sự nghiêm ngặc của các biện pháp thi hành pháp luật giúp chính phủ ngăn ngừa các tệ nạn. Do đó chính phủ trung ương có quyết định các phân bổ nhân sự đả được đào tạo theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, nắm vững các nội qui pháp lý, có tinh thần trách nhiệm, có thần hy sinh và yêu nước, nắm giử các vai trò quan trọng tại các chính quyền địa phương. Người đại diện của nhân dân hay cán bộ quản lý có trình độ học vấn là cao đẳng hay đại học. Những công tác quản lý và phát triển kinh tế du lịch luôn cần các ứng cử viên có trình độ chuyên môn cao. Từ các kiến thức cơ bản đến văn hóa và lịch sử địa phương và thế giới đều giúp cho các ứng cử viên hoàn thành công việc ở mức hiệu quả và ứng dụng hợp lý.

Khi muốn phát triển cơ sở hạ tầng cho kinh tế du lịch, chính phủ luôn cần kết hợp giữa các đối tác nội địa và nước ngoài cho việc tham gia đấu thầu xây dựng củng như tạo điều kiện cho các dự án xây dựng khách sạn, khu nghỉ mát, khu vui chơi giải trí, và các phưong tiện tiện nghi khác. Luật pháp, đội ngũ nhân viên an ninh cho công tác phòng chống tội phạm hình sự và gián điệp luôn được coi trọng và hổ trợ về kinh phí lẩn các thiết bị khoa học kỷ thuật tiên tiến nhằm giúp cơ quan an ninh ngăn các tội phạm quốc tế chuyên nghiệp.

Các chương trình giáo dục người dân địa phương trong việc giữ gìn nét đẹp văn hoá địa phương và tạo ra môi trường thuần phong mỷ tục và an toànxã hội. Theo các ý kiến của du khách nước ngoài, thì chính quyền địa phương sẻ cùng hợp tác với doanh nghiệp trong và ngoài nước trong vì gìn giữ và phát triển các ngành nghệ thủ công mỹ nghệ và kinh tế địa phương ở các khía cạnh – hiện đại hóa theo trình độ cơ khi và hoàn thiện theo trình độ xử dụng thiết bị dù là thủ công hay cơ khí chuyên môn. Các cơ sơ thủ công mỷ nghệ địa phương nên có sự nâng cao chuyên môn quản lý về nhân sự, làm việc khoa học hiệu quả và chuyên môn hóa cao và sự vệ sinh gọn gàn nơi làm việc tại các cơ sở. Vì du khách nước ngoài sẻ ghé đến tham quan cho nhiều lý do. Khám phá giá trị văn hóa và thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Tìm hiểu các giá trị của thủ công mỹ nghệ và sẻ đặc hàng số lượng nhiều khi họ thấy hàng hóa có độ tinh xảo cao, chất lượng cao và giá thành cạnh tranh.

Làm sao chính phủ có thể hổ trợ các chương trình phúc lợi xã hội để giảm các loại tệ nạn xã hội? Lực lưọng công an củng góp phần tạo ra môi trường an toàn cho du khách trong khu vực. Nguồn ngân sách từ kinh tế du lịch có thể tăng cường cho việc gia tăng nguồn nhân lực an ninh ngầm bảo vệ du khách và dân cư địa phương. Sự liên kết với các doanh nghiệp kinh tế, vì các nhà hàng, khách sạn, công ty du lịch, công ty taxi, công ty hàng không, công ty mua bán sản phẩm tiêu dùng đều có lợi khi có nhiều khách đến mà các tệ nạn xả hội được kiểm soát và hạn chế. Nhưng vậy thì các doanh nghiệp này sẻ tự nguyện đóng góp tài chính cho các chương trình giáo dục và công tác xã hội. Sinh viên, học sinh, nhân viên được khuyến khích tham gia tình nguyện cho các chương trính này tạo ra làng sống ‘xây dựng xã hội tốt đẹp, con ngươì mới, cuộc sống mới.’ Các phim ảnh, báo chí, cần khuyến khích các mô hình sống lành mạnh có trách nhiệm và tính tôn trọng các giá trị, tài sản của xã hội và của người khác.

Các lãnh sự quán, đại sứ quán của ViệtNamtrên thế giới có thêm nhiệm vụ quảng cáo du lịch cho thị trường ViệtNam. Ngoài ra các môi trường quảng cáo trên mạng và hoạt động văn hóa có thể hổ trợ cho mục tiêu này. Các hảng hàng không Việt Nam cần có nhiều liên kết với các hảng máy bay quốc cho việc gia tăng các chuyến bay quá cảnh nhằm thu hút du khách nước ngoài đến Việt Nam; bên cạnh đó các phương thức quản cáo hiệu quản củng đóng góp tích cực kinh tế du lịch trong nước. Khi có nhiều du khách sang Việt Nam hay quá cảnh các phi trường Việt Nam, thì có nhiều cơ hội Việt Nam tạo ra công ăn việc làm và phát triển kinh tế du lịch trong tương lai. Tái tạo môi trường củng là nhiệm vụ cho các cấp chính quyền trong việc xây dựng kinh tế du lịch. Du khách sẻ nhận ra vẻ đẹp của môi trường tự nhiên và môi trường hiện đại hài hòa phục vụ cho sự nghỉ ngơi, giải trí, kinh doanh ở thị trường Việt Nam.

Ngoài các khu nghỉ mát ra, Việt Nam có thể phát triển các khu nghỉ mát cho những du khách có sở thích về du thuyền ở các khu nghĩ mát cao cấp có biển đẹp, nước trong sạch và điều kiện an ninh cao. Các loại kinh doanh này phụ thuộc vào nguồn thông tin tiếp thị ở các thị trường có lượng lớn người tiêu dùng có thu nhập hơn 1 triệu USD một năm. Thái Lan và các vùng đảo ở Ấn Độ Dương củng đả khai thác các loại kinh doanh này. Khi một du khách nước ngoài chưa bao giờ đến Việt Nam, họ luôn tìm hiểu các thông tin về Việt Nam trước khi họ đến. Một trong các vấn đề mà họ luôn quan tâm hàng đầu là an ninh, thủ tục visa, tiền tệ và các loại thanh toán, thức ăn và vệ sinh thực phẩm, giá cả khách sạn và các phương tiện. Nhu cầu du lịch có nhiều loại, do đó thường một khu vực được chọn làm nơi phát triển du lịch, sẻ có sự phát triển đồng bộ nhằm thu hút khách theo nhiều nhu cầu khác nhau.

Các trung tâm ngoại ngữ, du lich củng tạo ra những khóa học thực tế có sự tương tác hướng dẩn của khách mời là người nước ngoài để sinh viên hay nhân viên Việt Nam có dịp thực tập và ứng dụng tăng khả năng nghiệp vụ xử lý khi họ thật sự làm việc trong các lĩnh vực phục vụ cho du lịch. Các nghiệp vụ này không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ của các doanh nghiệp mà còn tăng gia tăng sự hài lòng của du khách trong thời gian họ nghỉ ngơi và tận hưởng những giây phút đáng nhớ tại Việt Nam.

Kinh tế du lịch có thể gắn liền với thời trang và quảng cáo, vì càng có nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam thì cơ hội tạo ta nguồn thu nhập từ thiết kế thời trang và quảng cáo. Ngôn ngữ của thời trang và quảng cáo là ngôn ngữ quốc tế do đó có thể các nhà thiết kế, công ty may mặc, và công ty thời trang cần tuyển dụng nhân tài có khả năng phát triển thẩm mỹ và sự phối hợp trong việc thiết kế thu hút được các khách hàng khó tính nước ngoài. Các tiệm may chuyên nghiệp có giá trị sáng tạo, chất lượng, kiểu dáng sẻ thu hút nhiều khách hàng khó tính. Họ có thể nhân tiện đi làm ăn và mua sắm các loại quần áo được cắt may bởi các thợ may khéo léo người Việt Nam. Giá trị kiến thức, lịch sử, mỹ thuật, văn hóa, sẻ giúp các tài năng trẻ tạo ra những sản phẩm có giá trị. Tại sao các nhà doanh nghiệp trẻ, thiết kế trẻ mong muốn học hỏi được từ các trường dạy ở nước ngoài? Có thể khả năng của họ sẻ được phát huy và có cơ hội phát triển, bởi vì giáo dục phương tây thiên về gợi ý, tôn trọng tự do cá nhân, và hướng dẩn nhằm khai thác năng khiếu của sinh viên. Giáo viên không áp đặt tư tưởng của họ lên sinh viên. Giáo viên hay giáo sư chỉ vẻ ra những con đường có thể đi về tưong lai cho sinh viên, còn phần còn laị là sinh viên dùng tài năng của mình mà chọn đúng con đường mình cần đi.

Du lịch luôn được khuyến khích thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giúp du khách hiểu về nơi mà họ muốn du lịch cho nhiều mục đích khác nhau. Giá trị cung cấp thông tin chính xác và các giá trị khác luôn là điều trung thực mà các doanh nghiệp du lịch luôn tôn trọng khách hàng. Không nên làm khách hàng hiểu lầm cho sự cung cấp thông tin không rỏ ràng và tạo ra sự khó chịu trong các khoảng chi phí thanh toán hay giá cả của các loại dịch vụ. Kinh tế du lịch nó mang nhiều giá trị văn hóa, truyền thống và sự thoải mái, tiện nghi và khả năng giao tiếp của nhân viên đối với du khách.


Kinh Tế Công Nghệ Kỷ Thuật Cao
“Tiềm năng của nền kinh tế luôn nằm tiềm ẩn bên trong yếu tố con người. Nếu có cơ hội phát triển, và học hỏi thì các tiềm năng sẻ chuyển thành tài sản thực sự. Đó là nguồn kinh tế cho việc phát triển kinh tế công nghệ  kỷ thuật cao.”
*****

Có nhiều ý tường xây dựng một khu kinh tế đặc biệt với các kiến trúc văn phòng hiện đại, hệ thống thông tin liên lạc hiện đại là có thể thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến mở hảng xưởng hay thuê văn phòng. Đó là khái niệm khởi đầu cho việc thu hút các công ty nước ngoài hay doanh nghiệp trong nước cho việc thành lập những hảng xường chuyên về sản xuất và cung cấp công nghệ kỷ thuật cao. Thị trường Việt Nam cần có một mô hình theo kiểu Bangalore ở Ấn Độ hay Silicon Valley ở Hoa Kỳ. Các công ty viết phần mềm ứng dụng có thể gia công nhiều sản phẩm theo đơn đặc hàng của các khách hàng nước ngoài, hay bắt chước các chương trình của các đối thủ khác nhưng được cải tiến và dùng phương pháp ‘back-engineering’ viết lại chương trình đó với những cải tiến và bán ra với giá cạnh tranh. Có rất nhiều loại dịch vụ và lĩnh vực trong công nghệ thông tin và các loại sản phẩm công nghệ cao mà thị trường Việt Nam có thể phát triển và cung cấp cho khách hàng quốc tế. Điều chủ yếu là ở khâu phục vụ khách hàng, tìm đối tác, tiếp thị cho công ty tại thị trường nước ngoài.

Các công nghệ kỷ thuật cao liên quan đến các thiệt bị vi tính, thiết bị mạng, quản lý thông tin, hàng rào lửa chống xâm nhập mạng thông tin và bảo vệ các hệ thống tài chính, máy quét, máy copy đa năng, thiết bị y tế, và các trung tâm nghiên cứu sản phẩm. Đó là những khía cạnh có thể giúp cho thị trường Việt Nam thu hút vốn nước ngoài và tìm đối tác cho việc phát triển thị trường. Cho sự gia tăng khả năng quản lý, khả năng sản xuất, khả năng cung cấp, các doanh nghiệp Việt Nam sẻ chú tâm vào các bước đào tạo nhân viên, chọn phương thức kinh doanh, chọn sản phẩm kinh doanh cho việc đầu tư lâu dài. Chính phủ có thể giúp phát triển các trung tâm nghiên cứu nhằm phát triển khả năng kinh tế quốc phòng. Bởi vì nền kinh tế hiện đại đòi hỏi một quốc gia phát triển trên nhiều khía cạnh khác nhau. Thiết bị cho phòng nghiên cứu, các máy móc sản xuất cho các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh luôn cần có sự hổ trợ về vốn từ chính phủ trung ương hay nước ngoài. Mổi thị trường nước ngoài có sự khác biệt về giá cả, do đó các doanh nghiệp Việt Nam có thể phân tích lợi thế cho việc thiết kể sản phẩm với giá rẻ hơn như viết phầm mềm cho các công ty Nhật Bản. Nhưng các chuyên viên hay kỷ sư tin học Viêt Nam cần các tiêu chuẩn: tiếng Nhật, văn hóa Nhật, sự nhiệt tình, trách nhiệm cao, yêu cầu cao, và tôn trọng bí mật kinh tế của các công ty Nhật Bản. Tốt nhất là có sự liên doanh với một đối tác Nhật Bản giúp cho việc tạo niềm tin ở khách hàng Nhật Bản, củng như  khách hàng Hoa Kỳ và Châu Âu. Các kỷ sư tin học và thiết kế sẻ nắm bắc các giá trị văn hóa, xã hội, con người và các thói quen của người tiêu dùng tại một thị trường như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Úc, Nga để viết chương trình ứng dụng và thiết kế sản phẩm ở mức hài long cao nhất.


Kinh Tế Nông, Ngư, Lâm Nghiệp
“Nguồn tài nguyên không bao giờ vô hạn. Nguồn tài nguyên có giá trị gia tăng nếu được khai thác đúng và có trách nhiệm. Làm sao biến những tài nguyên này thành sản phẩm kinh tế có già trị tái tạo, kích thích các ngành kinh tế khác phát triển.”
*****

Nguồn tài nguyên nếu xuất khẩu ở dạng thô sẻ đem ít lợi nhuận cho doanh nghiệp củng như cho nền kinh tế quốc gia. Do đó càng tạo thêm giá trị gia tăng vào các tài nguyên thì doanh nghiệp sẻ không chỉ tăng thêm nguồn thu nhập mà còn tạo ra nhiều công việc hay giá trị kinh tế cho doanh nghiệp và cho xã hội. Nhưng muốn tăng giá trị cho các tài nguyên hay vật liệu nhập khẩu, doanh nghiệp cần vốn, thiết bị máy móc, nhân lực, khả năng quản lý, khả năng sáng tạo để đưa các sảm phẩm hay dịch vụ vào thị trường.

Hải sản cần có sự bảo quản để giữ độ tương cho việc xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức. Có nhiều loại hải sản cần được chế biến cho giá trị tiện lợi, ăn nhanh, hợp vệ sinh và bảo quản được lâu như các loại đồ ăn đóng hợp hay xáy khô. Lâm nghiệp cung cấp nhiều loại nguyên liệu thô cho việc gia công chế biến các loại sản phẩm tiêu dùng như bàn ghế, tủ, giường, kệ, tranh ảnh, vật dụng bằng gỗ. Nông nghiệp mang giá trị cổ truyền và công nghệ hiện đại ở nhiều khía cạnh công nghiệp và gia công sản xuất. Dân số gia tăng sẻ làm cho giá sản phẩm nông nghiệp sẻ gia tăng vì nguồn đất đai xử dụng trong canh tác bị giới hạn. Nếu các nhà nông Việt Nam có điều kiện phát triển các phòng nghiên cứu cấy ghép giống và phát triển các loại phân bón tự nhiên sẻ gia tăng năng xuất của mùa màn và tăng thu nhập của các nông trại hay gia đình nông dân. Điều tư nhiên là khả năng cơ giới hóa cao sẻ tăng mức sản xuất của sản phẩm nông nghiệp toàn quốc gia, đồng thời giảm các thất thoát do sự canh tác không đồng nhất và do từng hộ quản lý. Sự cơ giới hóa các công đoạn sản xuất trong nông nghiệp sẻ gia tăng giá trị kinh tế cho nền kinh tế Việt Nam. Nhất là nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm, thịt, tôm cá và các loại thủy sản khác.

Muốn khai thác nông-lâm-ngư nghiệp một cách hiệu quả, doanh nghiệp tư nhân lẩn cơ quan chức năng cần nguồn nhân lực có tài năng để nhận ra đâu là giá trị thô và đâu là giá trị gia tăng để lên kế hoạch cụ thể cho việc huy động vốn, mua sắm thiết bị máy móc, và tìm khách hàng cho việc mua vật liệu và bán sản phẩm.Singaporevà Nhật Bản ít có tài nguyên khoán sản nhưng họ vẩn có khả năng khai thác giá trị gia tăng từ các nguyên liệu thô nhập từ các quốc gia khác. Do đó tiềm năng của thị trường ViệtNamcòn phụ thuộc vào thị trường lao động có khả năng cung cấp nhiều loại nhân viên có trình độ nghiệp vụ khác nhau theo các loại hình kinh doanh đa dạng ở thị trường ViệtNam. Sự hợp tác giữa chính phủ và tư nhân trong việc đào tào nhân lực và chọn hướng đầu tư là một sự kết hợp bắt buộc cho sự phát triển của các loại sản phẩm có nguốn gốc tư thiên nhiên và nông nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân sẻ làm việc với cơ quan chức năng cho việc hợp tác trong việc khai thác các sản phẩm giá trị cao trong nông lâm ngư nghiệp. Cho giá trị an ninh quốc gia, và gia tăng kinh tế lâu dài, chính phủ có thể giúp vốn hay cho vay lải xuất thấp trong các ngành nghề cần có sự đầu tư về vốn, thiết bị, nhân lực, đồng thời củng tạo ra điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh sản xuất của nông lâm ngư nghiệp. Các loại tư vấn chuyên môn cao sẻ giúp cho các cá nhân và doanh nghiệp tại Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn trong việc khác thác các loại hình kinh tế này. Nhất là các hoạt động sẻ mang giá trị đồng bộ, hiệu quả cao hơn. Doanh nghiệp củng tôn trọng luật pháp và bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên quốc gia.

Khi phát triển kinh tế thông qua chọn lựa thị trường để phát triển, doanh nghiệp Việt Nam sẻ cần hiểu các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Muốn được như vậy, doanh nghiệp cần có những cuộc khảo sát thực tế để phân tích chất lượng, giá cả, mẫu mã, nguyên liệu của các sản phẩm đang bày bán trong các chợ, siêu thị ở thị trường trong nước và ngoài nước. Nhất là thị trường nước ngoài, vì mức tiêu thụ lớn hơn, củng như giá trị lợi nhuận cao hơn do đó chi phí cho quá trình sản xuất củng cao hơn. Do khả năng ngân sách chi phí cho các chuyến thị sát thị trướng có thể tốn kém mà chưa biết hiệu quả thế nào, doanh nghiệp cần chọn ra nhân viên có chuyên môn trong việc phân tích thị trường hay thuê công ty chuyên nghiệp cho việc phân tích theo yêu cầu chi tiết cụ thể. Có rất nhiều sản phẩm các doanh nghiệp ViệtNamcó thể sản xuất tương đương hay có chất lượng cao hơn các đối tác như Thái Lan,Singapore,Mã Lai,NamTriều Tiên, Đài Loan. Danh sác của những sản phẩm này có thể nhận ra bằng việc tham quan một chợ Á Đông ở Hoa Kỳ, Nhật, Châu Âu, Châu Á trong thời gian tới. Có những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp ViệtNamthâm nhập vào thị trường nước ngoài. Yếu tố thứ nhất là tìm đối tác là các công ty mậu dịch giúp phân phối hàng hóa của ViệtNamtại thị trường nước ngoài. Yếu tố thứ hai là bao bì, đóng gói ngoài việc thu hút người tiêu thụ cho giá trị của sảm phẩm, còn cung cấp các thông tin về sản phẩm như các vật liệu sử dụng, giá trị dinh dưỡng, sức khỏe cho người tiêu dùng, có giá tái xử dụng hay không. Yếu tố thứ ba là chất lượng của sản phẩm bên trong có bảo đảm đạt tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, sử dụng các nguyên liệu đạt tiêu chuẩn của các quốc gia tiên tiến qui định hay không. Các sản phẩm chế biến như đồ hộp, thức ăn chín, và những loại thức uống là những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao và tạo nguồn doanh thu cho các doanh nghiệp ViệtNam. Gạo, cà-phê, gia vị, tôm, cá, rau quả tươi và các loại thức uống cổ truyền như trà là những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao. Tuỳ theo từng thị trường mà chiến lượng sản xuất cho sản phẩm củng thay đổi nhằm thu hút khách hàng với các giá trị thõa mãn nhu cầu cao cho từng loại khách hàng trên thế giới. Công nghệ, nghiên cứu và đảm bảo chất lượng luôn đi kèm với các giá trị thời đại có thể giúp cho sản phẩm tiêu thụ được tại thị trường nội địa và nước ngoài.


Kinh Tế Công Nghiệp Mủi Nhọn
“Sự phồn thịnh và an ninh quốc gia luôn dựa trên sự phát triển của nền kinh tế mủi nhọn. Kinh tế mủi nhọn tạo ra những thế mạnh cho nền kinh té nội địa trước sự cạnh tranh và thử thách của các nền kinh tế nước ngoài.”
*****

Công nghiệp mủi nhọn có giá trị kinh tế lâu dài hơn là các giá trị ngắn hạn. Chẳn hạn đóng tàu thủy cho mục tiêu vận tải hay chuyên chở, sản xuất xe hơi và xe công nghiệp, chế tạo máy công nghiệp, công nghiệp năng lượng, hóa chất, dược phẩm, dụng cụ y tế, sản xuất thực phẩm chế biến, công nghiệp sản xuất vũ khí, công nghiệp chế tạo máy tính và các thiết bị viễn thông. Tùy theo nguồn vốn, nguồn nhân lực nội địa mà chính phủ cùng tư nhân tham gia vào việc phát triển các loại công nghiệp này. Nhằm gia tăng mức độ phát triển của trình độ khoa học kỷ thuật, lợi nhuận xuất khẩu, các doanh nghiệp sẻ được khuyến khích mở cửa cho đầu tư nước ngoài tham gia.

Các công ty nước ngoài chỉ đầu tư vào thị trường Việt Nam trong các ngành công nghệ kỷ thuật cao khi họ có thể khai thác những giá trị sau: (1) trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nguồn lao động, (2) cơ sở hạ tầng ở mức phát triển hiện đại, (3) khả năng trao đổi thông tin và liên lạc cá nhân và doanh nghiệp, (4) sự hiệu quả của hệ thống pháp luật, tôn trọng luật bản quyền, phương thức quản lý hành chính hiệu quả, (5) hệ thống tài chính, linh động cho cổ phần hóa và huy động vốn và chuyển vốn. Năm yêu cầu này muốn đạt được cần có sự hổ trợ của chính phủ các cấp nhất là bộ giáo dục đào tạo cho các chương trình giáp dục đại học chuyên môn; vốn hổ trợ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng cho những khu công nghiệp chuyên môn cao; tư nhân và chính phủ thành lập các quĩ học bồng giúp sinh viên du học và về giảng dạy tại Việt Nam.

Những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn giúp cho kinh tế ViệtNamgia tăng theo nghĩa chất lượng hơn là số lượng. Như việc thiết kế một hệ thống xử lý chất thải từ khói nhà máy, nước thải, dầu khí, hóa chất sẻ cần nhiều vốn đầu tư cho thiết bị, nhân viên nghiên cứu lành nghề, nhưng giá trị sản phẩm xuất xưởng là rất lớn cho khách hàng ở nhiều thị trường trên thế giới. Nếu một nhà máy loại này thuê khoảng 1000 nhân viên, trong đó hơn một nửa số nhân viên có trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ tạo ra tồng số doanh thu cho doanh nghiệp là 2 tỉ USD một năm. Tính theo đầu người thì mổi một thành viên tạo ra giá trị là 2 triệu USD. So với một doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm bình thường cho người tiêu dùng có 10000 nhân viên nhưng tạo ra mức doanh thu là 500 triệu USD, như vậy mổi nhân viên chỉ tạo ra giá trị kinh tế là 50000 USD. Ví dụ này giải thích ý nghĩa của giá trị kinh tế cho sự đầu tư vào các ngành công nghệ kinh tế mủi nhọn trong tương lai. Nếu mức lương của kỷ sư Việt Nam là 600 USD một tháng vẩn thấp hơn là 4000 USD một tháng cho một kỷ sư ở Hoa Kỳ, do đó những giá trị cạnh tranh giữa thị trường Việt Nam và các thị trường công nghiệp phát triển là rất lớn và thuận lợi cho Việt Nam thu hút vốn nước ngoài. Giá trị của thành phẩm luôn mang ba giá trị cộng lại: sức lao động căn bản, giá trị sáng tạo, giá trị công nghệ đầu tư dài hạn (thiết bị máy móc và các điều kiện làm việc hiệu quả cao.)


Phát Triển Khu Kinh Tế Đặc Biệt
“Khả năng thu hút vốn, kỷ thuật, và quản lý từ nhà đầu tư nước ngoài là một sự cạnh tranh giữa các thị trường luôn dựa trên giá trị so sánh tương đối của thị trường. Muốn tạo ra sự gia tốc phát triển kinh tế trong những khu vực nhất định mà không ảnh hưởng đến giá trị của cơ bản của xã hội và an ninh quốc gia, thì chính phủ có thể chọn lựa việc xây dựng khu kinh tế đặc biệc.”
*****

Nhằm tạo ra những trung tâm kinh tế hay các khu vực đặc biệc thu hút tài năng trong và ngoài nước cho các sản phẩm kinh tế có giá trị cao cho việc phát triển kinh tế một quốc gia trong việc cạnh tranh với các quốc gia khác, nhất là tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và có thể xuất khẩu ra các thị trương trên thế giới. Những khu vục kinh tế đặc biệc có thể thay đổi cuộc sống của người dân địa phương. Sự ưu đải về kinh tế của chính phủ trung ương và địa phương của tạo ra sự thuận lợi khác nhau giữa các khu vực hành chính địa phương. Ví dụ tỉnh Bình Dương có thể áp dụng các biện pháp kinh tế và giảm thuế cho việc thu hút nguồn đầu tư từ nước ngoài, như vậy giữa tỉnh Bình Dương có sự cạnh tranh với các tỉnh Cẩn Thơ, Biên Hòa và các tỉnh khác. Mỗi một địa phương tạo ra giá trị thu hút đầu tư khác nhau và củng tạo ra nguồn thu nhập khác nhau cho người dân lao động. Bởi vì nguồn hàng sản phẩm dịch vụ được tạo ra phục vụ cho thị trường nước ngoài. Chính phủ sẻ quyết định làm sao thiết lập cơ cấu hoạt động cho khu kinh tế đặc biệt này. Nó có nhiều dạng, nhưng hiện chưa có quốc già nào dám đi tiên phong trong việc xây dựng khu kinh tế có tên gọi ‘Thành Phố Cho Thuê’. Theo đúng nghỉa của nó, toàn bộ đất đai trong khu vực này sẻ được cho các công ty đa quốc gia thuê theo hợp đồng với mục đích xử dụng như đả qui định và thỏa thuận. Còn các qui định, luật pháp, quyền thuê nhân công, và các thủ tục sở hữu khác đều được xem xét kỷ trước khi cho phép các đối tác nước ngoài xử dụng mặt bằng  đất đai cho việc kinh doanh sản xuất. Điều lợi thế cho ‘Thành Phố cho Thuê’ là chính phủ sẻ thu hút các nhà thầu quốc tế đến thiết kế hệ thống cơ sở hạ tầng với các khu vực kinh doanh sản xuất đả được quản cáo cho các hạng mục kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Hệ thống an ninh và cảnh sát vẩn do chính phủ quản lý theo các qui định đả thỏa thuận. Điều kiện mà loại thành phố cho thuê này thu hút nhà đầu tư nước ngoài là không có sự ràng buộc hay quản lý hành chính của chính phủ trong các cơ cấu quản lý kinh doanh.

Các nhà đầu tư nước ngoài có thể yên tâm đầu tư và vận hành kinh doanh sản xuất của họ vói mục tiêu lợi nhuận. Còn chính phủ sẻ tạo điều kiện cho nhân công địa phưong và các quốc gia khác đến làm việc theo ích lợi cho quốc gia. Quản lý môi trường và hệ thống năng lượng và nước thải, cung cấp các dịch vụ đều vận hành như một thị trường nhỏ. Doanh nghiệp trong nước có thể tham gia nếu họ hội đủ các điều kiện cho chất lượng, vốn, kỷ thuật, nghiệp vụ. Loại hình khu kinh tế đặc biệt này sẻ tạo ra một vùng kinh tế phát triển xung quanh cho kinh tế nội đia. Nó thu hút nguồn lao đồng từ các vùng lân cận cho các doanh nghiệp hoạt động tại thành phố cho thuê. Việt Nam có thể phân tích giá trị kinh tế, an ninh quốc phòng và sự ổn định chính trị từ mối quan hệ giữa Hồng Kông và Trung Quốc, hay Ma Cao và Trung Quốc. Sự lớn mạnh của nền kinh tế của Việt Nam cần có nhiều tác nhân tích chực đóng góp vào. Muốn có ngân sách chi cho quốc phòng bảo vệ vùng biển Đông, thì Việt Nam cần có nguồn thu nhập kinh tế mạnh từ xuất khẩu và tiêu dùng. Những sòng bạc hoạt động ngầm hay ở nước ngoài, hằng năm đả thu hút không dưới 1 tỉ USD từ các khách hàng người Việt Nam, đo đó có nhiều chính sách quản lý các loại hình văn hóa và dịch vụ đặc biệc mà chính phủ có thể làm một công được hai chuyện: hạn chế các hoạt động phi pháp, gia tăng nguồn thu ngân sách hợp pháp. Thành phố cho thuê giống như một khu chế xuất, nhưng được đầu tư có chiều sâu và quản lý kinh tế theo tiêu chuẩn quốc tế. Chính phủ Việt Nam có thể khai thác ba giá trị lâu dài: (a) ngân sách từ thuế và tiền thuế, (b) tạo công ăn việc làm, (c) nâng cao nền công nghệ và dịch vụ trong nước theo trình độ quốc tế. Sự đảm bảo về an ninh quốc gia là vấn đề tế nhị mà các bộ trong chính phủ sẻ soạn thảo đi kèm với các dự án phát triển kinh tế tại các thành phố cho thuê. Lý tưởng nhất là con đường siêu tốc Bắc Nam sẻ nối liền ít nhất là ba thành phố cho thuê tại ba miền Bắc, Trung và Nam. Sau gần hai thập niên của chính sách đổi mới trong việc phát triển kinh tế thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn bị hạn chế ở trong các chỉ số tài chính và kinh tế: mức lạm phát cao giảm đi sức mua của người tiêu dùng và suy yếu giá trị tài chính của đồng tiền Việt Nam, mức tăng trưởng kinh tế chưa vượt qua con số 10% một năm, mức tiết kiệm của người tiêu dùng còn thấp, mức nhập siêu cao, mức xuất khẩu vào các thị trường mạnh chưa vượt qua con số 30% GDP trong giai đoạn tăng trưởng. Do đó nguồn thu nhập của nền kinh tế Việt Nam cần phụ thuộc vào một trong các trung tâm kinh tế và tài chính mới được sự kích thích và hổ trợ của chính phủ.

Các doanh nghiệp sẻ tham gia các loại hình kinh doanh, dịch vụ cung cấp nhân công, nhà ở cho nhân viên hay nguồn thực phẩm, và các loại vật liệu, linh kiện cho các đối tác nước ngoài trong thành phố thuê. Có nghĩa chính phủ tạo ra một thị trường quốc tế chuyển tiếp ngay tại thị trường nội địa của mình giúp tạo ra nguồn thu nhập cho chính phủ, công việc cho nhân dân, kích thích kinh tế nội địa phát triển, tạo ra môi trường mới cho các doanh nghiệp trong nước phát triển trong việc cung cấp nguyên liệu và linh kiện. Đó là một phần nhỏ lợi ích của thành phố cho thuê. Vị trí của loại thành phố này do chính phủ chọn lựa nhằm khai thác nguồn tài nguyên trong nước, cân bằng làng sóng di dân vào các thành phố lớn.

Tuỳ theo quyết định của chính phủ muốn thu hút đầu tư ra sao, sẻ chọn mô hình phát triển những loại thành phố cho thuê theo nhiều mức độ quản lý hành chính, luật pháp phù hợp cho ViệtNamnhằm gia tăng sự đầu tư từ các công ty nước ngoài. Trong các khu chế xuất đang hoạt động trong nước, thì khả năng thu hút vốn của các khu chế xuất không cao bằng loại mô hình thành phố cho thuê nhưng có những thế mạnh về kinh tế và an ninh quốc phòng trong tương lai. An ninh quốc gia luôn là vấn đề tế nhị của cho chính phủ chọn mô hình nào phát triển kinh tế lâu dài với các đối tác nước ngoài cùng khai thác lợi nhuận với nhau. Khái niệm này có thể hiểu như là hai khu Ma Cao và Hồng Kông của Trung Quốc, nó có vai trò rất lớn trong việc gia tăng nền kinh tế Trung Quốc phát triển. Do các đặt tính của từng địa phương như vùng miền bắc, miền trung, miền nam, chính phủ trung ương, địa phương sẻ chọn ra những giải pháp gia tăng nền kinh tế theo những mô hình mang tính hiệu quả cao nhất. Ngoài nguồn nhân công dồi giàu, các khu đặc khu kinh tế còn gia tăng sự cải cách hệ thống giáo dục nhằm nâng cao trình độ của học sinh, sinh viên. Bên cạnh các khu đặc khu là những khu vực kinh tế nội địa có tốc độ tăng trưởng cao, trung tâm nghiên cứu khoa học, hệ thống mậy dịch quốc tế, sự hiện đại hóa hệ thống hành chính của các cơ quan chức năng nhằm nâng cao khả năng xử lý hồ sơ, quản lý nhân khẩu, hoạt động kinh doanh, an ninh quốc gia trong khu vực. Mô hình thành phố cho thuê còn phụ thuộc vào khả năng quản lý kinh tế vi mô và vĩ mô, lẩn giá trị học hỏi và tích luỹ cho nền kinh tế của Việt Nam. Khi giao dịch với đối tác nước ngoài, các chuyên gia đàm phán và làm luật sẻ luôn phân tích kỷ càng cho từng khía cạnh trước khi đi đến các quyết định cho việc hợp tác lâu dài từ 50 năm hay 100 năm. Nó giống như có nhiều vùng đất bổ trống không có giá trị kinh tế, nhưng sẻ trở thành các trung tâm kinh tế tạo ra mức cung cầu của một thị trường thu nhỏ từ 10 tỉ USD lên hơn 100 tỉ USD trong các thập niên tới.


Kinh Tế Quảng Cáo và Dịch Vụ
“Toàn cầu được nối kết qua mạng internet giúp các doanh nghiệp cung cấp nhiếu loại dịch vụ vượt ra ngoài biên giới một quốc gia, làm việc 24 giờ một ngày, và 7 ngày một tuần cho bất cứ khách hàng nào. Ngôn ngữ và phương thức liên lạc lẩn phương thức thanh toán luôn bảo đảm giá trị an toàn, bảo mật, nhanh lẹ sẻ tạo ra những giá trị cạnh tranh cao, và lợi nhuận vô tận.”
*****

Kinh tế thị trường tập trung vào việc phát triển sản phẩm, dịch vụ cho nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước. Nhu cầu mua bán, trao đổi, mậu dịch quốc tế cần một thị trường quảng cáo hiện đại và tiên tiến theo nghĩa của chuyên môn cao, áp dụng các phương thức khoa học kỷ thuật cao, ngôn ngử quốc gia và quốc tế theo tiêu chuẩn cao, giá trị khai thác củng vươt ra khỏi biên giới quốc gia. Doanh nghiệp ViệtNamcó thể phục vụ khách hàng trong và ngoài nước. Google, Yahoo, Twitter, Face Book sẻ là hình mẫu cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển quảng cáo qua mạng. Kế đến là phát triển quảng cáo qua điện thoại di động và các phương tiện truyền thông khác như phim ảnh, báo chí, chương trình giao lưu văn hóa.

Nguồn nhân lực cho thị trường quảng cáo có thể phân ra là cao cấp và chất lượng toàn cầu hóa, nên cần nhiều đóng góp của chính phủ và tư nhân cho việc gia tăng lượng sinh viên du học trong các ngành công nghệ thông tin, thiết kế điện tử, ngôn ngử quốc tế, và quay phim và xử lý thông tin, tiếp thị. Doanh thu của thị trường quảng cáo không biên giới sẻ tạo ra nguồn ngân sách rất lớn cho ViệtNam. Đội ngủ nhân viên của thị trường quản cáo có thể gia công sản phẩm cho cả khách hàng trong và ngoài nước. Do sự cạnh tranh về giá cả giống như các sản phẩm may mặc và lấp ráp linh kiện điện tử. Tư duy và sự sáng tạo của đội ngũ nhân viên của các công ty quản cáo sẻ thỏa mản nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Các loại phim trường có thể được đầu tư và cho thuê nhằm tạo công ăn việc làm và hợp tác quốc tế.

Việc mở rộng thị trường nội địa ra thị trường quốc tế, sẻ tạo ra khả năng khai thác khách hàng được đa dạng hơn, có nghĩa các tài năng trẻ của Việt Nam có thể đóng góp nhiều hơn vào các kinh doanh quảng cáo phục vụ khách hàng nước ngoài nếu họ có đủ khả năng thỏa mản những nhu cầu của khách nước ngoài. Như khách hàng ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, và các nước khác. Ngoại ngữ là phương tiện đầu tiên cho các doanh nghiệp trẻ phát triển công với kỷ thuật cộng nghệ mới giúp các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh với những công ty lớn đang hoạt động trên những thị trường này. Thị trường Nhật Bản sẻ cần nhiều nhân lực có trình độ cao về viết phần mềm ứng dụng cho các công ty Nhật Bản, các kỷ sự thiết kế và chế tạo trong nhiều loại ngành kinh tế từ sản phẩm điện tử, hóa chất, mỹ phẩm, đến các loại sản phẩm tài chính và giải trí. Nếu Việt Nam có thể gia tăng số lượng đội ngủ giáo viên giảng dạy tại các đại học có tiêu chuẩn quốc tế sẻ có thể tăng cường số lượng và chất lượng đào tạo hàng năm  ở các đại học cho các ngành kinh tế có giá trị xuất khẩu cao.

Hệ thống mạng tạo ra cầu nối thông tin, kinh doanh hữu hiệu giữa những quốc gia với nhau. Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh với các công ty đang có mặt trên thị trường cần phân tích những thế mạnh của đối phương trước tiên: kỷ thuật cho quảng cáo như phim, hình ảnh, nhạc, trang web, blogger, thư điện tử, tạp chí, .. Kế tiếp là giá cả cho những dịch vụ này như thế nào. Chất lương và thời gian xử lý các hợp đồng như thế nào. Cuối cùng là khai thác các điểm yếu để có thể cải thiện cho doanh nghiệp của mình. Khả năng có thể điều chỉnh giá cả và các dịch vụ khách hàng sẻ giúp các doanh nghiệp mới thành lập có thể cạnh tranh mở rộng ra nước ngoài. Ý tưởng, khả năng sáng tạo đóng vai trò rất lớn cho thị trường quảng cáo trong các thập niên sắp đến. Ngoài ra các phương thức như quảng cáo qua mạng, các blogger, điện thoại di động, môi trường công nghệ thông tin hiện đại sẻ được khai thác nhiều hơn nhằm gia tăng giá trị của quảng cáo. Quảng cáo là cầu nối giúp các doanh nghiệp Việt Nam bán hàng ra toàn cầu, củng như trao đổi thông tin cần thiết cho sự cải thiện và phát triển sản phẩm, dịch vụ phù hợp với ngườ tiêu dùng tại mỗi thị trường riêng biệt. Chỉ cần bán được một phần ở ba thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, và Châu Âu là nền kinh tế của Việt Nam sẻ tăng trường từ 90 tỉ USD lên 900 tỉ trong thời gian không xa. Những phương thức tiếp thị quảng cáo sẻ được áp dụng một cách rộng lớn, hiệu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tăng khả năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ đi khắp 5 châu.

Chọn từng loại thị trường để đầu tư là nhiệm vụ mà các cơ quan chức năng của chính phủ, thành phố cần nên đầu tư và phát triển trong thời gian tới. Điều cần thiết là thành lập các loại quĩ xây dựng, kinh doanh phát triển và đầu tư trong và ngoài nước. Lý tưởng nhất là chính phủ trung ương và thành phố nên có hai loại quĩ đầu tư: (a) đầu tư hợp tác và (b) đầu tư vì lợi nhuận. Đầu tư hợp tác là thiết lập các mối quan hệ quốc tế nhằm thu hút nguồn đầu tư nước ngoài. Đầu tư lợi nhuận là đầu tư vào các dự án và công ty nước ngoài cho giá trị lợi nhuận. Hai loại đầu tư này có thể huy động vốn từ các bộ trong chính phủ hay nhân viên trong chính phủ tạo ra quĩ hưu trí và thu nhập phụ trội cho cán bộ và nhân viên trong chính phủ. Để khuyến khích sự đóng góp về tài chính, chính phủ sẻ tạm thời miễn thuế cho tiền lời và thu nhập trong hai loại quĩ đầu tư này từ 5 năm đến 10.

Phần Ba:  Thị Trường Tài Chính và Hạn Chế Lạm Phát
 “Nguồn tài chính hay vốn luôn tạo ra nguồn năng lượng lưu chuyển giửa các phần tử tham gia trong thị trường. Nó có thể điều phối tốc độ, lưu lượng của hoạt động kinh doanh, sản xuất không lệ thuộc vào nhu cầu thật của con người.”
 *****
 Kinh tế thị trường có sự vận hành trên lý thuyết do mối quan hệ giữa cung và cầu tạo ra. Do đ ó thị trường tài chính hay vốn có ảnh hưởng to lớn đến vận mạng của một quốc gia trên bình diện tốc độ phát triển của chiều sâu và chiều rộng các các chủng loại hàng hóa, dịch vụ tồn tại trên thị trường. Nhà doanh nghiệp có ý tưởng hay và phương thức kinh doanh không thể biến ý tưởng của mình thành sản phẩm tiêu thụ trên thị trường nếu không có vốn. Như vậy các hoạt động kinh tế trên thị trường đều liên quan đến thị trường tài chính trong và ngoài nước.
Các doanh nghiệp muốn xuất khẩu hay trao đổi mậu dịch với các đối tác nước ngoài sẻ thông qua sự liên hệ cầu nối giữa thị trường tài chính trong nước với thị trường tài chính nước ngoài, bởi vì các phương thức thanh toán sẻ cần qua một hay nhiều trung gian là ngân hàng trong nước và nước ngoài. Thị trường tài chính đả tồn tại từ thời ban sơ của lịch sử con người. Như thị trường tín dụng đả được xử dụng trong trao đổi nông nghiệp ởMesopotamiavào 3000 năm trước công nguyên. Ngân hàng hình thành trể hơn, đầu tiên xuất hiện ở Ai Cập khoảng 200 năm trước công nguyên. Các loại đơn đặc hàng mua trước đả được giao dịch tại Hoà Lan từ thế kỷ 17. Con người đả nhận ra ba khái niệm của tài chính là mượn, cho vay, và đầu tư từ rất lâu. Ngay cả nhà văn Anh quốc Shakespears trong tác phẩm Hamlet đả mô ta nhân vật Polonius khuyên con trai mình ‘đừng nên là kẻ đi mượn hay kẻ cho vay.’Nhưng nếu xả hội không có kẻ cho vay và người vay thì sẻ không có thị trường tài chính.

Sự phát triển của về kinh tế của xã hội nhất thiết cần có thị trường trao đổi hàng hóa, và nhu cầu trao đổi hàng hóa, xã hội lại có thêm một thị trường mới là thị trường tài chính. Nó vận hành song song cùng lúc với thị trường trao đổi hàng hóa, dịch vụ, hay nguyên vật liệu. Sự gia tăng hay lưu chuyển của thị trường trao đổi hàng hóa lệ thuộc nhiều vào thị trường tài chính. Đồng thời rủi ro đi kèm với hệ thống tài chính trong một quốc gia có thể làm phá sản cả nền kinh tế đang phát triển thuận lợi nếu nguồn vốn lưu động do của các tài khoản tiết kiệm, đầu tư, hay tiền ký thác bị xử dụng không đúng chổ hay quá dể dãi cho việc vay vốn đối với khách hàng có rủi ro cao. Nhất là các công ty lớn làm ăn không có lời đưa đến hậu quả là các khoảng cho vay không thu hồi được. Chính vì vậy chính phủ phải can thiệp nhằm bảo vệ tiền gửi ủy thác của các chủ nợ hay người tiêu dùng. Ngoài ra nếu tính toán sai đi thì ngân hàng có thể thu tiền lời của người vay thấp hơn là tiền lời cho người gửi tiền trong trường hợp có sự thay đổi về mức lải xuất biến động theo thị trường. Như vậy ngân hàng của sẻ lâm vào cảnh thiếu nợ cho các khoảng tiền tiết kiệm và tiền ký thác của khách hàng.

Ngoài ra thị trường còn do những chính sách của ngân hàng trung ương ảnh hưởng như mức lải xuất cho vay, tỉ giá hối đoái với các đồng tiền ngoại tệ mạnh. Ngân hàng trung ương có thể hoạt động độc lập với chính phủ vì có như vậy nền kinh tế sẻ phát triển ít lệ thuộc vào các chính sách của chính phủ. Nhưng đó là lý thuyết của việc tách rời ngân hàng trung ương và chính quyền trung ương tạo ra sự hoạt động hiệu quả của nền kinh tế. Nhưng Trung Quốc đả phá triển kinh tế với sự ảnh hưởng của chính phủ đối với ngân hàng trung ương cho các chính sách lải xuất, đầu tư tín dụng, mua ngoại tệ của các quốc gia nước ngoài như đô-la của Hoa Kỳ, yen của Nhật Bản, bảng của Anh Quốc, france của Pháp, Mác của Đức. Ngân hàng trung ương có thể tác động đến nhiều khía cạnh trong nền kinh tế của quốc gia khi giao dịch với các nền kinh tế nước ngoài. Trên thế giới Hoa Kỳ, Đức, và Thụy Sĩ là có ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, còn các quốc gia khác thường chịu ảnh hưởng của bộ tài chính. Khi nhìn qua các quốc gia có dự trử nguồn ngoại tệ cao là Nhật Bản khoảng 1000 tỉ USD, Singapore là khoảng 174 tỉ USD, Nam Triều Tiên khoảng 201 tỉ USD, Ấn Độ là 254 tỉ USD, Trung Quốc gần 3 ngàn tỉ USD. So với Arập Saudi giử mức dự trử ngoaị tệ thấp khoảng 30 tỉ Mỹ kim, nhưng nguồn ngoại tệ của Arập Saudi được chuyển sang các quĩ phát triển đầu tư của chính phủ nhằm mở rộng nguồn thu nhập cho chính phủ khi nguồn dự trử dầu thô sẻ giảm dần. Ngân hàng trung ương có thể dùng dự trử ngoại tế cho nhiều mục đích khác nhau. Chẳn hạn như mua bán ngoại tệ nhằm tạo ra tỉ giá ngoại hối có lợi cho kinh tế xuất khẩu, hay tạo áp lực chính trị đối với một quốc gia nào đó. Các quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc vào kinh tế xuất khẩu như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản đều áp dụng chính sách dự trử ngoài tệ lớn nhằm quản lý tỉ giá hối đoái có lợi cho hàng xuất khẩu trong nước sang các thị trường tiêu thụ mạnh ở nước ngoài.

Nếu chính phủ muốn giảm tỉ giá đồng tiền nội địa so với một đồng ngoại tệ nào đó như Mỹ kim, Yen Nhật, hay Euro của Châu Âu thì ngân hàng trung ương sẻ bán ngoại tế đó ra thị trường, còn ngược lại muốn tăng giá đồng tiền nội địa thì ngân hàng trung ương sẻ mua ngoại tệ đó. Do đó Trung Quốc đả luôn dự tữ số lượng lớn ngoại tệ lến gần 3000 tỉ USD trong đầu năm 2011 để thực hiện nhiều chính sách có lợi cho mậu dịch quốc tế, đầu tư nước ngoài, tạo ảnh hưởng chính trị, áp lực các chính sách ngoại giao có lợi cho nền kinh tế xuất khẩu của nước này. Hầu hết các quốc gia phụ thuộc vào kinh tế xuất khẩu luôn tích trử nguồn ngoại tế rất lớn.

Nếu có nhiều nhà nhập khẩu nước ngoài muốn mua hàng hóa của ViệtNamhọ sẻ cần xử dụng lượng tiền đồng ViệtNam, do đó họ sẻ có nhu cầu mua số lượng tiền ViệtNam. Do đó giá trị của đồng ViệtNamsẻ có chiều tăng lên. Nhưng chính phủ muốn hàng Việt Nam rẻ hơn ở thị trường nước ngoài, thì ngân hàng Việt Nam có thể sẻ tác động đến lượng tiền mặt của đồng Việt Nam trên thị trường cho việc giảm tỉ giá so với các đồng ngoại tệ mạnh như đô-la Mỹ, Euro, Yen Nhật, và Nhân Dân Tệ Trung Quốc. Sự thay đổi tỉ giá của đồng tiền nội địa và các loại tiền tệ giao dịch nước ngoài do mối quan hệ cung cầu của mậu dịch quốc tế được áp dụng có lợi cho thanh toán quốc tế. Ngoài việc du khách đến ViệtNamhay các nhóm buôn bán phi pháp là cần xử dụng số lượng tiền mặt, bởi vì hầu như các giao dịch thông qua hệ thống thanh toán ở các ngân hàng không có sự chuyển dịch vật lý của các loại tiền mặt. Nó chỉ tồn tại bằng các con số ở chương mục các của các ngân hàng dưới tên khác nhau của khách hàng. Có nghĩa tiền tệ không lưu chuyển vật lý như hàng hóa từ nước này sang nước khác, sự thay đổi chỉ ở hình thức các giá trị trong các chương mục của các ngân hàng theo sự thay đổi quyền sở hữu của các tài khoảng trong ngân hàng. Các hoạt động giao dịch thương mại quốc tế luôn thông qua việc thanh toán dựa trên một loại tiền tệ nào đó, mà phần lớn các đối tác luôn chọn loại tiền tệ có giá trị hoán đổi cao, tỉ giá lạm phát thấp. Nếu đồng đô-la của Hoa Kỳ có mức lạm phát trên 5% một năm, mà lải xuất ngân hàng chỉ có 1%, thì vốn cho vay hầu như mang giá trị âm 4%, hay có nghĩa là nhà đầu tư mất đi 4% giá trị của vốn sau một năm.

Nếu một đồng tiền có sự thay đổi giá trị quá lớn so với các loại tiền tệ khác trong các giao dịch trong tương lai như khách hàng mua gạo của Việt Nam vào tháng 9 năm 2008, nhưng theo hợp đồng doanh nghiệp Việt Nam sẻ giao số gạo này vào tháng 5 năm 2009, như vậy sẻ có sự trênh lệch thật sự về giá cả của một tấn gạo trong hai thời điểm này. Do đó trong giao dịch này, người mua và người bán sẻ xử dụng các phương thức thanh toán trước hay sau với sự chênh lệch về giá trị giữa tiền Việt Nam và một ngoại tệ hoán đổi ghi trong hợp đồng. Thường các ngân hàng có nhiều loại thanh toán ngoại tệ theo từng loại tỉ giá trong các thời điểm khác nhau trong tương lai. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư thường mua bảo hiểm cho giá trị ngoại tệ chuyển đổi trong tương lai nhằm hạn chế rủi ro khi bị mất giá của đồng tiền giao dịch tại một thời điểm nào đó trong tương lai. Ngoài ra các chi phí điện, nhiên liệu, vận tải, đóng bao bì củng có sự thay đổi về giá khi có sự hiệu chỉnh của sự lạm phát và tỉ giá ngoại tệ. Do đó các đối tác luôn có các biện pháp bảo đảm là giá cả thay đổi không làm thiệt hại cho lợi nhuận của họ.

Nếu doanh nghiệp Nhật Bản đồng ý mua dầu thô của Việt Nam theo thời điểm mua và thời điểm giao hàng là khoảng 6 tháng, thì sẻ có giá cả thay đổi tính theo tỉ giá ngoại hối, còn không thì đối tác Nhật Bản trả trước với giá là 60 đô-la một thùng dùng thô, nhưng khi Việt Nam chuyển số dầu thô cho Nhật Bản, giá dầu chỉ còn là 55 đô-la, như vậy, phía Nhật Bản sẻ bị thiệt hại nhiều. Còn ngược lại nếu khi giao hàng, giá dầu thô vọt lên với giá mới là 80 đô-la một thùng, thì phía Nhật Bản lợi 20 đô một thùng. Đó là một trong các rủi rỏ khi mua hàng hóa trả trước theo các hợp đồng. Do vậy nhiều doanh nghiệp áp dụng mua bảo hiểm cho các loại hàng hóa mua trả trước, để hạn chế ruỉ ro khi giá cả thay đổi quá lớn. Ngoài ra, sự gia tăng giao dịch giữa hai quốc gia còn kích thích nhu cầu mua hay bán lượng tiền của một quốc gia thông qua việc thanh toán quốc tế tại các ngân hàng. Nếu công ty chuyên bán xe hơi nhập khẩu từ Nhật Bản vào thì trường Việt Nam, doanh nghiệp này sẻ dùng tiền Việt Nam hay tiền ngoại tệ khác mua tiền Yen Nhật và thanh toán cho các đối tác xuất khẩu xe tại thị trường Nhật Bản. Hay ngược lại một công ty nhập hàng thuỷ sản của Việt Nam, sẻ dùng Yen Nhật mua tiền Việt Nam và trả cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

Hiện tại Nhật Bản có mức giao dịch thương mại với Trung Quốc cao hơn là mức giao dịch với Hoa Kỳ. Nhật Bản nhập khẩu và xuất khẩu sang Trung Quốc trong năm 2008 là 142.3 tỉ USD và 124 tỉ USD. So với Hoa Kỳ, Nhật Bản nhập khẩu 77 tỉ USD, và xuất khẩu là 136.2 tỉ USD. Sự gia tăng mậu dịch giữa hai thị trường sẻ ảnh hưởng đến việc ngân hàng trung ương quyết định các chính sách tỉ giá hối đoái và các chính sách đầu tư lâu dài. Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, phía Trung Quốc đưa ra đề nghị với IMF cho việc tìm ra một loại tiền tệ trung gian thay thế đồng đô-la Hoa Kỳ, nhưng các ý tưởng này khó mà thực hiện được, do các lý do chính trị và lý do tác động của con người trong việc kích thích sự liên kết giữa hai thị trường với nhau. Sự lệ thuộc về tâm lý và sự dự đoán của một thị trường tăng hay giảm sẻ tác động đến việc các nhà đầu tư chọn một thị trường. Nếu các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng Đồng Chung Châu Âu, Trung Đông, Ấn Độ, Nga, Bra-xin chọn ra được một đồng tiền thay thế đồng đô-la Mỹ, như vậy khi đó các giao dịch có thể được chọn loại đồng tiền trung gian này làm giá trị căn bản cho một dự án đầu tư. Nhưng đồng tiền trung gian này phải có một giá trị chính trị và kinh tế nhằm tạo ra sự hiệu quả của việc thay toán hay tích lũy cho việc ổn định các phương thức đầu tư ngắn và dài hạn. Ai là người đảm bảo giá trị của đồng tiền trung gian này? Đó là chỉ là một ý kiến nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của đồng đô-la Hoa Kỳ vào nền kinh tế toàn cầu.

Do các lập trình vi tính và hệ thống máy tính giúp giảm đi các chi phí cho mổi cuộc trao đổi tài chính, chính vì vậy làm gia tăng khả năng lưu thông và sử dụng vốn trên thị trường tài chính toàn cầu. Các quốc gia có thể mượn tiền, cho vay, hay đầu tư nhanh hơn, và an toàn hơn thông qua các chuyển khoảng điện tử thông qua hệ thống internet giữa các công ty tài chính, ngân hàng. Giá trị của toàn bộ cổ phiếu, tiền ký gửi, tiền mặt trên thị trường tài chính toàn cầu tăng lên từ 12000 tỷ USD trong năm 1980 lên 80000 tỷ USD trong năm 1999. Cho thấy giá trị GDP của nền kinh tế toàn cầu tăng trường chậm hơn là mức trao đổi tiền tệ trên thị trường thế giới hơn 6 lần trong vòng hai thập niên.

Sự linh động của cơ chế cung cấp vốn hay trao đổi giá trị tài sản trong một thị trường phát triển đầy đủ cần có sự lưu thông và hổ trợ giữa thị trường tài chính là ngân hàng và thị trường cổ phiếu. Nếu ngân hàng không có đủ vốn cho doanh nghiệp vay để hoạt động, thì doanh nghiệp sẻ xử dụng việc phát hành cổ phiếu để tăng mức vốn lưu động trên thị trường. Ngược lại, nếu thị trường cổ phiếu có những xáo trộn thị ngân hàng sẻ hổ trợ trong việc cho vay vốn cho các doanh nghiệp. ViệtNamcó thể cải thiện mức độ quản lý tốt trong việc hạn chế các phương thức đầu cơ gây ra những cuộc khủng hoảng, nhưng lại có khả năng thu hút vốn đầu tư và vay vốn ở thị trường tài chính và cổ phiếu. Sự an toàn và hiệu quả là hai yếu tố đầu tiên giúp ViệtNamphát triển hai loại thị trường này. Tiếp theo là quản lý mức lạm phát thấp dưới 3% so với mức tăng trưởng trên 8% một năm, bởi vì ít ra thì tiền lời của công trái luôn có giá trị dương khi đáo hạn. Có như vậy nhà đầu tư mới mua công trái và cổ phiếu phát hành mang giá trị của tiền Việt Nam. Ví dụ sau có thể giải thích điều này. Nếu công trái của chính phủ phát hành có mức lời là 10% trong vòng 10 năm. Trong khi đó mức làm phát là 12% một năm, thì giá trị tiền lời của công trái coi như là âm, không tạo ra lợi nhuận. Điểm thứ hai là khi mức lạm phát hơn 10% một năm, và mức tăng trưởng kinh tế là 8% một năm, có thể cho thấy giá trị thu nhập của người dân bị giảm đi đến 2%. Có nghĩa trước đây họ thu nhập 10 triệu, thì bây giời họ chỉ còn thu nhập là 98 triệu. Nếu tính về sức mua của mức thu nhập bình quân. Do đó nhà đầu tư sẻ chọn phương thức đầu tư khác có lợi cao hơn và an toàn hơn. Chẳn hạn như mua vàng, nhà, đất đai và quí kim. Do đó chính phủ vẩn tính toán làm sao để tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư mua công trái của mình. Riêng trường hợp công trái của Hoa Kỳ mang giá trị chính trị và mậu dịch lâu dài, do đó Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia nắm giữ phần lớn công trái phát hành bởi bộ công khố của Hoa Kỳ, tiếp theo là các quốc gia Trung Đông, Nam Triều Tiên, Singapore, và Đài Loan.

Thị trường tài chính cần vốn cho hoạt động vay mượn giữa khách hàng với nhau. Ngân hàng chỉ kiếm lợi nhuận thông qua các loại sản phẩm, dịch vụ tài chính giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Ngân hàng có những vai trò thật sự hữu ích cho nền kinh tế: (1) thu hút vốn từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, (2) cho vay vốn đến các doanh nghiệp, người tiêu dùng, (3) làm trung gian cho các giao dịch thanh toán giữa các ngân hàng và quốc gia, (4) tạo ra phương thức hay khái niệm thanh toán hiện đại cho các doanh nghiệp gia tăng mức tiêu thụ trong thị trường, (5) tư vấn và hổ trợ khách hàng trong các chọn lựa đầu tư ngắn và dài hạn, (5) làm các thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu, và hợp đồng xát nhập và chuyển nhượng cho các doanh nghiệp. Do đó nhân cách của các giám đốc, nhân viên cao cấp tại các ngân hàng và công ty tài chính cần có sự xem xét và chọn lựa kỷ càng. Đó là điểm then chốt cho sự tuyển dụng các nhà quản lý, nhân viên cao cấp trong các ngân hàng và công ty tài chính có chức năng xét duyệt vốn vay, quản lý vốn đầu tư, nhằm hạn chế các tiêu cực cho vay không thế chấp, hay doanh nghiệp không sinh lời, và đầu tư do có giá trị huê hồng cao hay mua bán cổ phiếu nội bộ.

Nhìn các quốc gia phát triển, thị trường tài chính như ngân hàng có mức thu hút vốn cao nhờ mức tiết kiệm cao từ thị trường nội địa. Giá trị vốn và trao đổi cổ phiếu luôn cao hơn tổng thu nhập quốc dân. Có nghĩa nếu GDP của ViệtNamlà 104 tỉ USD, thì giá trị cổ phiếu giao dịch hay trên thị trường chứng khoán ít nhất củng là trong khoảng 120 tỉ USD đến 170 tỉ USD. Có như vậy thì tốc độ gia tăng kinh tế của Việt Nam sẻ cao hơn. Nhưng bên cạnh đó các nguyên tắc và pháp luật về vốn đầu tư hay nguồn gốc của vốn đầu tư của các nhà đầu tư hay công ty đầu tư cần có nguồn gốc rỏ ràng. Ngoài ra muốn đầu tư tại thị trường ViệtNam, thì các nhà đầu tư cần mở tài khoảng ở các ngân hàng có giấy phép hoạt động ở ViệtNam. Nguồn vốn lưu động tại thị trường chứng khoán xác định khả năng thanh toán và đầu tư vốn tài chính cho các giao dịch và dịch vụ theo các yêu cầu của đối tác trong và ngoài nước. Việt Nam còn mang nhiều giá trị văn hóa làm cho nhiều người vẩn thích giữ tiền mặt, vàng, ngoại tệ và quí kim tại nhà. Do đó số lượng vốn vẩn không được khai thác cho lợi nhuận thông qua việc hổ trợ vốn cho các thương vụ đầu tư và kinh doanh. Các công ty hay doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoáng chưa có thực hiện các phương thức kế toán và chi thu một cách rỏ ràng, minh bạch và tiêu chuẩn hóa, như vậy nhà đầu tư sẻ không dám mạo hiểm mua cổ phiếu hay bỏ tiền đầu tư vào. Làm sao có thể khai thác nguồn vốn vẩn cất giử ở nhà của người dân Việt Nam là một câu hỏi cần có hướng giải quyết.

Vốn cần nên được đầu tư đúng chổ và có các biện pháp hữu hiệu cho việc quản lý vốn đầu tư tránh các trường hợp lạm dụng công quĩ hay cho vay bừa bải làm thất thoát vốn vay. Chính phủ sẻ khuyến khích thành lập các quĩ đầu tư từ 10 triệu USD đến 300 triệu USD và sẻ tăng từ từ lên hơn 1 tỉ USD. Các loại quĩ đầu tư này sẻ có nhiều chiến lược đầu tư trong và ngoài nước có lợi cho nền kinh tế của Việt Nam phát triển. Do đó cần có sự quản lý hiệu quả và trao đổi giữa chính phủ và các ban quản lý các quĩ đầu tư này. Ngoài ra các loại quĩ đầu tư phải có tránh nhiệp cho việc tham gia đầu tư các dự án mang giá trị kinh tế tích cực và lâu dài như cung cấp vốn cho các ngành kinh tế tạo ra của cải trực tiếp, hạng chế các quĩ đầu tư vào thị trường địa ốc, vì nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam hiện này cần sự phát triển trong các lĩnh vực sau: (a) xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn điện ổn định, hệ thống cung cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, hàng không; (b) xây dựng các ngành kinh tế gia công chế biến, sản xuất tiêu dùng cho xuất khẩu, cho công nghiệp, cho quốc phòng; (c) phát triển phần mềm, công nghệ khoa học thông tin, quản lý dữ liệu, xử lý thông tin, kế toán thống kê, phân tích kết quả y tế, thuế, mậu dịch, phân phốn sản phẩm, cùng các loại dịch vụ dử liệu cho tài chính. Du lịch của Việt Nam củng là tiềm năng to lớn khi gia tăng số lượng du khách nước ngoài lên con số vài chục triệu trong thời gian tới. Nếu có 10 triệu du khách đến Việt Nam, và mỗi du khách tiêu xài ngoại tệ khoảng 2000 USD thì họ tạo ra giá trị GDP hơn 20 tỉ USD. Vì các chi phí và mua sắm mà họ thực hiện sẻ tạo ra dây chuyên kích cầu và cung tạo ra các loại hình kinh tế khác có lien quan đến ngành du lịch phát triển. Có nghĩa số tiền 20 tỉ USD sẻ luôn hành trong nền kinh tế Việt Nam tạo ra đủ loại giá trị kinh tế có lợi cho Việt Nam.

Vốn vay càng xoay vòng mau bao nhiêu thì giá trị ảo của nó tạo ra nhanh bấy nhiêu. Nó củng là lý do tại sao có những cơn sốt về thị trường địa ốc, thị trường chứng khoán, trong khi đó tổng sản phẩm quốc dân tạo ra không tăng là bao nhiêu. Vậy lý do tại sao con người lại bị cuốn hút vào trò chơi rủi rỏ và cơ hội liên quan đến ba loại thì trường: tài chính, địa ốc, và cổ phiếu? Vì họ có cơ hội làm giàu mau hơn là chờ lợi nhuận của việc buôn bán các sản phẩm hay cung cấp dịch vụ tạo ra. Tâm lý đầu tư và kiếm lợi nhuận chênh lệnh tạo ra các tâm lý mua bán tại cả ba thị trường đầu tư. Có thể dể hiểu như việc một nhà đầu tư bỏ tiền vào xây một khách sạn nhằm phục vụ khách du lịch và khách kinh doanh với số tiền ban đầu là 50 triệu USD. Nếu may mắn kinh doanh có lời sau khi trả mọi chi phí, hằng năm thu được là 500.000 USD. Trong khi đó, một người khác củng có 50 triệu USD, nhưng muốn làm giàu lẹ hơn, nên nhắm vào mua nhà và cổ phiếu. Anh ta chọn mua một căn nhà với giá là 10 triệu USD và có giá trị gia tăng là 20% trong vào 6 tháng. Còn 30 triệu USD mua cổ phiếu của các công ty đang lên giá với mức là tăng trưởng là 30% một năm. Như vậy chỉ sau một năm người đầu tư vào nhà và cổ phiếu kiếm được: (10 triệu USD x40% + 30 triệu USD x30%) = 13 triệu USD. Nhưng giá nhà gia tăng theo tỉ lệ 20% cho 6 tháng và giá cổ phiếu tăng 30% một năm không mang sát xuất 100%, do đó có thể giá nhà rớt xuống chỉ còn 70% giá mua, hay giá cổ phiếu chỉ còn 50% giá mua thì lúc đó nhà đầu tư sẻ thua lổ rất lớn, khoảng 15 triệu USD. Đây là loại cơ bạc mang tính sát xuất của sự phân tích và rủi ro mang nhiều tác động bên ngoài.

Thường ngân hàng cho vay dể dàng khi lải xuất thấp và vòng vốn xoay mau. Khách hàng có thể do quen biết muốn mượn tiền không thế chấp để mua đất hay nhà rồi bán kiếm lời. Ngân hàng cho vay với hy vọng là thu lải và vốn, cùng với khoảng tiền thưởng riêng không ghi trong hợp đồng cho vay. Đó là nguy cơ dẩn đến các cuộc khủng hoảng tài chính ở nhiều quốc gia. Thị trường Việt Nam nên hạn chế việc cho vay vốn để mua đất và nhà để bán kiếm lời. Chính phủ nên khuyến khích dùng vốn cho hoạt động đầu tư vào các công nghệ gia công chế biến cho xuất khẩu và tiêu dùng. Việt Nam cần các nguồn thu từ nưóc ngoài: (a) doanh thu xuất khẩu, (b) doanh thu từ du lịch, (c) doanh thu từ lợi nhuận đầu tư ở thị trường nước ngoài, (d) vốn đầu tư từ doanh nghiệp nước ngoài, (e) vốn vay hay viện trợ từ chính phủ nước ngoài. Thị trường tài chính sẻ quản lý nguồn vào và ra các loại vốn, doanh thu, và lợi nhuận trong các hoạt động kinh tế tại thị trường trong và ngoài nước.

Tại sao thị trường cổ phiếu và địa ốc đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích nền kinh tế phát triển thông qua việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt, hay tiền mặt thành cổ phiếu và địa ốc. Vì nó giúp cho việc thanh toán hay chi tra các khoản kinh doanh một cách hiệu quả và mau chónh. Một doanh nghiệp có thể thế chấp tài sản để vay vốn. Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho kinh doanh. Một nhà đầu tư có thể mua bất động sản hay cổ phiếu cho lợi nhuận tương lai. Do đó sự trao đổi của giá trị nhà, đất, cổ phiếu qua trung gian là tiền mặt tạo ra sự thuận lợi cho các hoạt động đầu tư và mua bán và trao đổi. Đó là một trong các lý do mà một nền kinh tế có thể phát triển do nguồn vốn huy động được khai thác thông qua ba loại thị trường – tài chính (vay và cho vay), địa ốc (thế chấp, mua và bán), và cổ phiếu (phát hành trái phiếu, vay vốn bằng thế chấp cổ phiếu). Sự quản lý và kích thích các loại thị trường này phát triển có thể tạo ra sức mạnh của nền kinh tế nội địa. Nhà đầu tư sẻ dùng tiền mua cổ phiếu tạo nguồn vốn kinh doanh cho một doanh nghiệp. Người dân Việt Nam cần hiểu các khái niệm cơ bản về giá trị trao đổi và rủi rỏ khi đầu tư vào nhà, đất, cổ phiếu, trái phiếu. Có thể nhà đầu tư Việt Nam mở rộng việc đầu tư sang các thị trường quốc tế như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Thái Lan, Úc, Hoa Kỳ và Châu Âu.

Điều nguy hiểm của thị trường tài chính là nó không tạo sản phẩm mang giá trị kinh tế như các doanh nghiệp bình thường khác tạo ra như việc một công ty sản xuất tivi màng hình phẳng, xe hơi, quần áo, thực phẩm, thuốc men. Ngân hàng đại diện của thị trường tài chính sống dựa trên tiền lời kiếm được của các doanh nghiệp và tác nhân kinh tế trong thị trường. Ngân hàng không tạo ra giá trị nào hết, nó chỉ hoạt động nhờ thu lệ phí trên lợi nhuận hay nghĩa vụ tài chính từ các khoản vay nợ mà doanh nghiệp hay con nợ trả cho. Thị trường tài chính thể hiện sự di chuyển trung gian của một loại hàng hóa là tiền tệ. Người đi vay sẻ mượn tiền từ tay ngân hàng, trong khí đó tiền vốn của ngân hàng do các nhà đầu tư hay người tiết kiệm, uỷ thác tiền vào ngân hàng cất giử và quản lý giùm. Tùy theo tài khoản mà ngân hàng có bổn phận trả lải xuất cố định hay thay đổi theo tỉ giá lạm phát và tỉ giá do ngân hàng trung ương niêm yết. Nhưng yếu tố con người lại là yêu tố nguy hiểm cho người quản lý các vốn vay hay tài khoản lưu động đầu tư. Nếu do bất cứ ly do gì, một quản lý trẻ do động cơ đầu tư kiếm lợi hay khoản huê hồng cao nên vô trách nhiệm trong việc làm thất thoát vốn của ngân hàng có thể làm phá sản cả một nền kinh tế hay một bộ phân kinh doanh cho một nhóm công nghiệp. Chính vì vậy, vào năm 1988 các ngân hàng trung ương của các quốc gia giàu có đồng ý cho việc áp đặc tỉ lệ 8% tiền mặt trên tổng số tiền vốn cho vay ở trong két của các ngân hàng có hoạt động quốc tế. Sự gia tăng mức tiền mặt trong két của một ngân hàng có thể giảm rủi rỏ khi không thu hồi vốn đươc vẩn còn đủ tiền mặt để thanh toán cho các khách hàng gửi vốn tại ngân hàng.

Nhìn lại chức năng của hệ thống tài chính là: (1) hoàn tất các cuộc mua bán chi trả bằng chứng phiếu, thẻ tín dụng, (2) thu hút nguồn tiết kiệm từ người lao động, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, (3) chuyển khoảng cho khách hàng (người vay và nhà đầu tư) trong nước và ngoài nước, (4) giảm rủi ro bằng việc đa dạng các khoản đầu tư củng như mua bảo hiểm cho khoản đầu tư, (5) luôn giữ thông tin chính xác về khách hàng giúp giảm chi phí trong việc quyết định có liên quan đến rủi ro và uy tín. Nhìn qua năm điểm ích lợi của hệ thống tài chính, ViệtNamsẻ phát triển một thị trường tài chính mang nét riêng cho ViệtNam. Nhất là hạng chế các nguy cơ bị trục lợi trong việc làm dụng công quĩ hay vô trách nhiệm trong việc quản lý vốn ở các ngân hàng và công ty tài chính. Đồng thời khuyến khích người tiêu dùng và doanh nghiệp gửi tiết kiệm. Bên cạnh đó cung cấp các dịch vụ tín dụng, vốn vay cần thiết cho sinh viên theo học các chương trình đại học, người tiêu dùng mua nhà và các vật dùng cần thiết dực trên hồ sơ uy tín, khả năng tài chính của họ. Khi ViệtNamnhìn lại các quốc gia có mức sống cao, kinh tế phát triển, thì điều đầu tiên nhận ra là các quốc gia này đả phát triển hệ thống tài chính tốt hơn các quốc gia khác. ViệtNammuốn đạt được sự phát triển kinh tế cân đối thì điều cần thiết là tạo ra một thị trường tài chính hiệu quả hơn và năng động hơn. Mà thị trường tín dụng gắn liền với hệ thống pháp luật chặc chẻ, hệ thông tin cá nhân toàn quốc gia, và hệ thống tính điểm tín dụng của từng công dân trên tuổi 21. Mà các công dân này cần có công ăn việc làm để có thể chi trả các khoảng thu chi trong tháng của mình.

Nhất là các nghiên cứu của hai nhà kinh tế Ross Levine và Sara Zervos, đả phân tích 47 nền kinh  tế khác nhau trong giai đoạn từ 1976 đến 1993 nhận ra mối quan hệ của khả năng mua bán thị trường cổ phiếu cho giá trị giao dịch cổ phiếu có tương ứng với tồng giá trị của thị trường cổ phiếu và độ lớn của số lượng ngân hàng cung cấp vốn vay cho cac doanh nghiệp tư nhân tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng sản phẩm quốc dân GDP. Các chỉ số này giúp dự đoán được mức độ tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế đó trong tương lai. Đương nhiên là phải tính đến các khía cạnh khác về thu nhập quốc dân, trình độ giáo dục, và sự ồn định của môi trường chính trị. Trong các quốc gia giàu có, thì giá trị của thị trường tài chính và chứng khoán thường lớn hơn rất nhiều so với tổng sản phẩm quốc dân GDP. Ngoài ra thị trường tài chính và thị trường chứng khoán có mối liên hệ hổ trợ cho nhau trong việc kích thích nền kinh tế hoạt động. Alan Greenpan nhận xét về sự khủng hoảng kinh tế ở Đông Á  trong cuối thập niên 1990s, với nhiều nguyên nhân, mà một trong các nguyên đó là: Nam Triều Tiên và các quốc gia Đông Á bị hạn chế bởi hoạt động trên thị trường cổ phiếu, và không có đủ các chọn lựa thay thế cho việc vay vốn ở ngân hàng càng tạo ra sự suy thoái trầm trọng hơn. Có nghĩa khi gặp khó khăn về vốn vay, các doanh nghiệp của Nam Triều Tiên không có phương thức linh hoạt cho việc vay vốn hay huy động vốn hiệu quả hơn ngoài việc cứ vay mượn trực tiếp từ ngân hàng và các công ty tài chính. Và khi các công ty tài chính này không cho vay thêm, buộc các công ty Nam Triều Tiên tuyên bố phá sản. Nam Triều Tiên có một phương thức hoạt động kinh doanh vay vốn có rủi ro rất cao là vốn vay của doanh nghiệp vượt ra ngoài khả năng thanh toán dựa trên tài sản của doanh nghiệp. Mà các ngân hàng của Nam Triều Tiên thường cho vay vốn do mối quan hệ tình cảm hay có sự giới thiệu của người quen.

Thị trường tài chính là môi trường vận hành theo nguyên tắc và pháp lý nhằm đảm bảo các quyền lợi, sở hữu và trách nhiệm trong mối quan hệ tài chính giửa các bên liên quan. Ngân hàng hay công ty tài chính là người trung gian cho việc thiết lập mối quan hệ của chuyển đổi vốn tạo ra lợi nhuận từ người cho vay sang người vay. Với khả năng nghiệp vụ chuyên môn cao, và tư duy sáng tạo, các ngân hàng và công ty tài chính sẻ không ngừng cải thiện và tạo ra sự đa dạng của các loại sản phẩm và dịch vụ về tài chính nhằm thu hút người gửi tiền, nhà đầu tư, và các tiềm năng của người vay theo những điều khoản thỏa thuận giửa các bên. Với sự đảm bảo của chính phủ hay sự bảo hiểm của một công ty tài chính thứ ba, công ty tài chính hay ngân hàng dể dàng huy động vốn cho việc tạo ra các loại hình vốn vay, đầu tư, và tín dụng thích hợp với lợi nhuận mong đợi. Những khái niệm sản phẩm chồng chéo của thị trường tài chính củng là con dao hai lưỡi. Nó hạn chế ruỉ rỏ cho ngân hàng hay nhà đầu tư trong viêc xử dụng vốn cho các khoảng đầu tư hay vay, nhưng nếu một công ty tài chính bị phá sản do không có khả năng thanh toán các trách nhiệm tài chính như vốn lưu động của khách hàng, kết quả là kéo theo các ngân hàng hay công ty tài chính khác củng bị ành hưởng hay phá sản theo.

Khoản vây từ ngân hàng là các thỏa thuận pháp lý giữa ngân hàng và người vay với các trách nhiệm về trả lải xuất, vốn vay theo định kỳ. Ngân hàng sẻ có trách nhiệm thu hồi vốn cho người tiết kiệm và sở hửu các tài khoản ủy thát tại ngân hàng. Những kế hoạch thu hút số người ký thác tiền gửi, hay gửi tiền tiết kiệm, tư vấn và giải quyết các hồ sơ vay vốn cho các doanh nghiệp, tư nhân. Sự quản lý hai đầu thu và chi của ngân hàng sẻ giúp ngân hàng có được nguồn doanh thu từ lệ phí cho vay, các dịch vụ khác, cùng như tạo các loại sản phẩm tài chính đa dạng phục vụ nhu cầu của thị trường. Chẳn hạn vốn cho sinh viên học sinh để theo đuổi các chương trình học. Theo mức thống kê, nếu trình độ của sinh viên tốt nghiệp đại học hay trung học sẻ có tay nghề cho các công việc đòi hỏi công việc có chiều sâu của kiến thức, nhưng ngược lại sẻ được trả mức lương cao hơn. Và các doanh nghiệp nước ngoài củng có những yêu cầu về trình độ kiến thức và tay nghề cho việc thuê mướn nhân viên. Do đó ngành giáo dục của Việt Nam cần có sự quan tâm cho việc đào tạo đội ngủ giáo viên có khả năng chuyển tải các kiến thức cần thiết về tài chính, kế toán, đầu tư, mậu dịch, thống kế, sát xuất cho sinh viên trong các ngành tài chính kế toán, và quản lý vốn và đầu tư với hạn chế rủi ro.

Mỗi quốc gia thiết lập một cơ quan giám sát và quản lý hoạt động của các ngân hàng hoạt động trên thị trường nội địa. Các điểm chính cho việc giám sát bao gồm: Điều kiện cho việc gia nhập của một ngân hàng, tỉ lệ vốn, luật vốn lưu động, luật rủi ro lớn, quản lý ngoại tệ, quyền hạn cho việc thanh tra. Bên cạnh đó là các loại hình hoạt động của ngân hàng bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, ngân hàng giao thương và đầu tư, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng thế chấp, ngân hàng tiết kiệm quốc gia và hiệp hội và quĩ tín dụng. Mổi loại ngân hàng sẻ có hoạt động kinh doanh vào một ngành nghề kinh tế để phục vụ khách hàng như khách hàng là người tiêu dùng, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vốn kinh doanh lớn, các cơ sở chính phủ, các công ty quốc tế.

Ngân hàng sẻ quản lý hoạt động tài chính thông qua mối quan hệ thu chi tài chính gọi là bảng thanh toán gồm hai phần của một công thức thu chi cân bằng. Nó mang giá trị cơ bản cho việc quản lý các thu chi của một ngân hàng ở qui nhỏ hay lớn. Khi đó một ngân có thể chọn ra một phương thức kinh doanh mang giá trị cho doanh nghiệp, tinh thần quốc gia giúp gia tăng GDP của quốc gia, và bảo đảm lợi nhuận cho khách hàng.

Tài sản                                                    Nợ
Tiền mặt                                                 Quỉ của cổ đông
Quĩ thị trường tiền tệ                              Quỉ uỷ thát
Các loại bảo đảm                                    Tiền mượn
Tiền cho vay

Tài sản và Nợ phải bằng nhau. Ngoài ra, doanh nghiệp củng có những thước đo về tài chính vả thu chi để giám sát tất cả những hoạt động có thể gây ra những khó khăn sau này. Tỉ giá P/E là tỉ giá giữa giá cổ phiếu và tổng giá trị thu nhập của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chia lợi nhuận cho cổ đông thì giá trị của D/P là tiền lời chi cho cổ động trên giá cổ phiếu giúp cho người đầu tư có hứng thú cho việt đầu tư trong tương lai. Nhật Bản có phương thức kinh doanh khác với Hoa Kỳ, nên thường các công ty không áp dụng tỉ giá D/P. Doanh nghiệp nào củng muốn giá cổ phiểu của họ có khuynh hướng tăng lên để thu hút nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu.

Thị trường tài chính của ViệtNamcó tỉ lệ là 25% đến 46% so với GDP của ViệtNam. Với mức GDP là 104 tỳ USD, thì thu nhập của người dân ViệtNamvào khoảng 2800 USD đến 3100 USD đầu người một năm. Nhưng sự hạn chế về nguồn vốn vay và sự an toàn của vốn ủy thác đả kềm tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam có thể áp dụng các giá trị mà nền kinh tế Nhật Bản đạt được trong giai đoạn 1945-1973. Khi ngân hàng trung ương và các công ty quốc doanh có lượng vốn lớn để điều phối cho hoạt động tài chính tại thị trường nội địa, thì những chính sách về tài chính và mua bán cổ phiếu có những dấu hiệu đáng kể hơn. Trong tình hình hiện tại chính phủ và các cơ quan chức năng có thể áp dụng các chính sách tài chính, luật pháp, qui tắc kinh doanh, trao đổi cổ phiếu, và nguồn gốc vốn đầu tư để quản lý cả hai thị trường tài chính và chứng khoán.

Cho khái niệm khả năng thanh toán của quốc gia trong quản lý kinh tế vĩ mô, chính phủ sẻ chú ý đến công thức thu chi tài chính căn bản.

S + T + IM = I + G + X
S: Tổng số vốn tiền tiét kiệm ở thị trường nội địa
T: ngân sách thu từ thuế
IM: giá trị hàng nhập khẩu
I: Tổng giá trị vốn đầu tư
G: ngân sách của chính phủ
X: tống giá trị xuất khẩu

Theo lý thuyến mức tổng số lượng của hàng hóa sản xuất ra phải bằng với mức cầu của thị trường. Kế tiếp là lượng tiền cung cấp cho thị trường bằng với số tiền vốn vay của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Sau cùng là cán cân thay toán phải cân đối bởi tài khoảng thâm thụt hiện tại và tài khoàng thặng dư về vốn.

Khi chính phủ có thể quản lý hiệu quả nguồn thu chi của ngân sách theo ý nghỉa thặng dư hay thăm hụt nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, đó là điều kiện đầu tiên. Bởi vì không nhất thiết lúc nào chính phủ củng có một ngân sách thặng dư sau những khoảng chi cho kinh tế, xã hội, quốc phòng, và đối ngoại. Nếu những thăm hụt ngân sách có thể giúp ích cho nền kinh tế hay an ninh xả hội tạo ra các giá trị tức thời kích thích nến kinh tế thị trường năng động có khả năng tạo ra giá trị mậu dịch thặng dư trong tương lai thì những chính sách của chính phủ vẩn coi là hợp lý. Có nghĩa chính phủ phải bù lổ khoảng thâm hụt bằng việc phát hành trái phiếu hay tăng thuế để có đủ ngân sách chi tiêu cho các chương trình an sinh xã hội hay an ninh quốc phòng.

Khi nguồn vốn nước ngoài vẩn tiếp tục đổ vào một thị trường có nghĩa giá trị lợi nhuận của thị trường đó vẩn còn được khai thác. Cho dù đó là giá trị ngắn hạn hay dài hạn. Sự khác nhau của chính phủ là biết chuyển đổi các chính sách kinh tế, mậu dịch quốc tế, lải xuất ngân hàng, tỉ giá hối đoái, lượng vốn lưu động trên thị trường tài chính, chứng khoán, và tín dụng có thể hiện được mối quan hệ giữa mức cung và cầu cho nhu cầu phát triển kinh tế của thị trường đó hay không. Nếu người dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng hay thị trường cổ phiếu và tín dụng, họ sẻ chọn giải pháp là giử tiền mặt bằng ngoại tệ mạnh hay quí kim hay tài sản địa ốc hơn. Do đó chính phủ luôn là nhân tố chấn an và bảo vệ pháp lý cho người tiêu dùng khi hy vọng họ sẻ gia tăng mức tiết kiệm, mua cổ phiếu, đầu tư vào các công ty tín dụng hay các công ty tài chính đầu tư. Nền kinh tế Việt Nam cần rất nhiều tác nhân để gia tăng tốc độ phát triển kinh tế ở mức trên 10% một năm. Nhưng các yếu tố mà chính phủ cần hổ trợ là giúp một số lượng lớn sinh viên, chuyên gia tu nghiệp nước ngoài về các ngành sau: tài chính, kế toán, phân tích thống kế, kiểm toán, toán cho bảo hiểm, quản lý đầu tư, hạn chế rủi ro kinh doanh, phân tích hạch toán cho các thi công công trình lớn. Số lượng sinh viên và chuyên gia phải đủ để làm việc cho các cơ quan của chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân.


Sản Xuất, Kinh Doanh, Dịch Vụ và Nhu Cầu Tài Chính

“Các hoạt động xã hội đều cần nguồn vốn hay tài chính để duy trì các mối quan hệ giá trị khác bên trong nội bộ hay bên ngoài của tổ chức. Không có nguồn tài chính, xã hội sẻ quay lại thời kỳ trao đổi hàng hoá không qua các hình thức trung gian là tiền tệ. Như vậy xã hội sẻ không phát triển với qui mô lớn hơn và giá trị lưu trử lâu hơn.”
*****

Tạo ra một nền kinh tế phát triển cân đối và ổn định, chính phủ thường hổ trợ trong các chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển, hoạt động kinh doanh trong các nghành nghề có lợi thế cạnh tranh hoạc đảm bảo thị trường nội địa có khả năng sản xuất và kinh doanh trong các ngành kinh tế mủi nhọn để hạn chế sự độc quyền của công ty nước ngoài. Sản xuất nhắm vào thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước với những cạnh tranh khốc liệc về giá cả, mẫu mã, chất lượng, tính năng, và kích thước; do vậy nhà sản xuất có những phương thức cho việc tồn tại trên thị trường.

Trong khi kinh doanh dựa trên các mối quan hệ trung gian và dịch vụ phục vụ khách hàng, ngoài ra kinh doanh hay thương mại mậu dịch là cầu nối giữa các thương hiệu với người tiêu dùng hay nhà phân phối sỉ lẻ và nhà tiêu thụ lớn. Các mối làm ăn trong sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ đều cần phương thức thanh toán và vốn đầu tư duy trì các yêu cầu mối trọng điểm trong các đối tác tham gia như lương trả cho nhân viên, lợi tức trả cho thuế, tiền lời trả cho nhân hàng, các chi phí khác. Mỗi doanh nghiệp sẻ phát triển tất cả những tác nhân tạo ra môi trường thuận lợi cho họ phát triển.

Có những ngành kinh tế sản xuất không có lợi nhưng chính phủ phải bù lổ nhằm duy trì khả năng tự túc trong các trường hợp có sự mâu thuẩn về chính trị và ngoại giao với các quốc gia nước ngoài vẩn có thể tự sản xuất ra được sản phẩm cho người tiêu thụ nội địa. Sự bảo vệ thị trường nội địa của chính phủ được thực hiện qua nhiều biện pháp tài chính, chính sánh kinh doanh, thuế, sở hữu tài sản, cách thức kế toán thu chi, và sự hiệu quả của cơ quan chính phủ kiểm soát các hoạt động này trên cả hai thị trường – tài chính và cổ phiếu.

Thị trường tài chính có thể do công ty hay ngân hàng quốc doanh, tư nhân, hay liên doanh tham gia để cạnh tranh thu hút khách hàng. Các doanh nghiệp tài chính có thể khai thác nhiều khía cạnh có tiềm năng lợi nhuận như dịch vụ tín dụng cho người tiêu dùng, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp lớn, giúp thanh toán giao dịch, ký thác và ủy thác, và tiến kiệm. Ngoài ra thành lập quỉ đầu tư cho khách hàng trong nước trong việc đầu tư quốc tế. Sự lỏng lẻo của các bộ phận quản lý thuộc chính phủ có thể dẩn đến các tác động tiêu cực gây nguy hại cho thị trường trong lâu dài. Sự phức tạp của nguyên tắc quản lý rủi ro, và những đầu tư vốn và cho vay dể tạo ra những mối cho vay không thế chấp, dể dải, và vi phạm luật pháp với số lượng vốn vay cao có thể sẻ gây ra hiệu ứng domino khi ngân hàng không thu hồi vốn lại cho số tiền ủy thác, ký gửi, đầu của khách hàng.

Tùy theo ngân hàng trung ương qui định tỉ lệ của tiền mặt và tổng số vốn cho vay, tỉ sổ này khoảng 8% tiền mặt cho tổng số giá trị tài sản của ngân hàng. Ngoài ra có hai khái niệm kế toán theo giá trị thị trường hiện thời hay giá trị khi tiếp nhận tài sản. Chẳn hạn ngân hàng sở hữu 100 căn nhà trị giá lá 1 tỉ USD vào cuối tháng 12 năm 2008. Do đó khi làm sổ sách tính toán cho tài khoá 2008 sẻ dùng giá trị 1 tỉ USD cho giá trị của 100 ngôi nhà. Nhưng cuối tháng 12 năm 2009, giá của 100 ngôi nhà chỉ còn là 800 triệu USD, do đó ngân hàng sẻ ghi nhận là đả thất thu 200 triệu cho tài khoá 2009. Còn nếu ngân hàng vẩn ghi là 1 tỉ USD sẻ làm nhà đầu tư hiểu sai đi giá trị thật của ngân hàng theo giá trị thị trường hiện thời. Điều này nó củng giúp ngân hàng thay đổi chính sách đầu tư theo giá trị thị trường hơn là giá trị ban đầu khi ghi nhận tài sản vào ngân hàng. Các vốn vay thế chấp đều nên hiệu chỉnh theo giá trị thị trường nhằm cung cấp giá trị thật của lợi nhuận hay thua lổ. Nhiều ngân hàng vẩn giử giá trị tài sản theo giá gốc lúc mới nhập vào, và hiện tại nhiều tài sản chỉ còn 1/10 giá trị ban đầu, nhưng ngân hàng vẩn giử nguyên giá trị củ, chỉ khi nào ngân hàng bán bất động sản đó thì lúc này ngân hàng mới ghi nhận sự thất thu hay thua lổ của giá trị bất động sản đả mua trước đó.

Vốn luôn là yếu tố quan trọng cho doanh nghiệp trong kinh doanh sản xuất. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu dùng hay dịch vụ cần những khai thác thị trường mới hay gia tăng số lượng, chất lượng, chủng loại củng cần vốn để mở rộng khả năng của mình. Họ không thể áp dụng tích lủy vốn tự có để gia tăng mức độ phát triển, bởi trên lý thuyết lợi nhuận của họ có hạn chế sau khi khấu trừ các loại chi phí trong quá trình sản xuất và dịch vụ. Ngân hàng là một trung gian có hiệu quả và an toàn cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh nếu lợi nhuận cao hơn lải xuất trả cho vốn vay của ngân hàng. Phát hành cổ phiếu là giải pháp thứ hai cho doanh nghiệp huy động vốn. Bán đi các tài sản không sinh lời là giải pháp thứ ba. Và giải pháp cuối cùng là cắt giảm nhân công và dùng tiền mặt trong quĩ để chi tiêu cho các hạng mục cần đầu tư.

Nếu một doanh nghiệp nhận ra hàng hoá hay dịch vụ của mình thành công trên thị trường, thì đều tiếp theo là kế hoạch phát triển thị trường theo sự dự đoán của thị trường trong tương lai. Sự chính xác của các dự đoán này bao gồm ý thích, nhu cầu của người tiêu dùng giúp nhà doanh nghiệp chọn đúng phương thức kinh doanh và sản xuất đúng loại sản phẩm người tiêu dùng thích. Do đó doanh nghiệp thường cần vốn để mở rộng qui mô kinh doanh hay thu mua các xí nghiệp nhỏ khác có cùng chủng loại sản phẩm và dịch vụ. Vốn có giá trị tương đối cho những kế hoạch kinh doanh lâu dài, nhưng khó khăn ở chổ là chọn đúng loại sản phẩm có giá trị cao cho thị trường tương lai mới là điều quan trọng. Thị trường tài chính tạo ra các giá trị phù hợp theo hoàn cảnh của từng thị trường với sự hổ trợ của công nghệ thông tin và các phương thức vận hành hiện đại giúp gia tăng việc trao đổi mậu dịch hay mua bán cổ phiếu ở tốc độ cao. Hay các phương thức thanh toán an toàn và tiện lợi cho các giao dịch từ nhỏ đến lớn. Công ty Paypal đả giúp cho nhiều công ty mua bán trên mạng có doanh thu tăng lên như amazon.com và eBay. Trong việc giao dịch tiền tệ các loại thẻ tín dụng và thẻ nạp tiền củng có thể giúp khách hàng thực hiện nhiều giao dịch ở tốc độ cao và tính an toàn bảo đảm.

Doanh nghiệp luôn đứng trước những bài toán cho việc xử dụng vốn cho lợi nhuận: (1) vốn cho hoạt động kinh doanh (giống như nhà doanh nghiệp có máy sản xuất, mặt bằng sản xuất, nhân công sàn xuất, thị trường tiêu, nhưng cần vốn để mua vật liệu, trả lương, tiền quảng cáo, vận chuyển, điện nước), (2) vốn cho mua thêm thiết bị máy móc để tăng số lượng, chất lượng của sản phẩm tạo ra nhiều lợi nhuận khi bán ra nhiều sản phẩm tại nhiều thị trường, (3) vốn để mua các xí nghiệp khác giúp doanh nghiệp mở rộng kinh doanh ra nhiều lĩnh vực tạo ra nhiều nguồn doanh thu hơn, (4) vốn để liên doanh hay xây dựng các hảng xưởng ở các thị trường có khả năng tiêu thụ mạnh hay giá nhân công rẻ. Do đó doanh nghiệp sẻ tìm những khả năng khai thác thị trường cho việc xử dụng vốn có hiệu quả và lợi nhuận cao.

Những giá trị đạo đức nghề nghiệp luôn cần hướng dẩn và theo dỏi trong những cá nhân có trách nhiệm, trực tiếp quản lý vốn vay, đầu tư. Vì nếu họ không biết đặt lợi ích doanh nghiệp, quốc gia lên trên lợi ích cá nhân, các hiện tượng tiêu cực dể dàng xảy ra. Mà nếu có như vậy, thì những gì một tập thể hy sinh, cống hiến sẻ trở nên vô nghĩa. Giống như một công trình xây dựng một khu trung cư đả lên kết hoạch cho việc thi công sau khi các nhân viên hoàn thành bản thiết kế, chọn nhà thầu, điều phối các cảnh quan, quảng cáo trên các hệ thống thông tin đại chúng, nhưng do nhà quản lý vốn công trình đả dùng vốn vào mục đích riêng như mua số lượng lớn cổ phiếu nhằm kiếm tiền lời trênh lệch. Nhưng kết quả cổ phiếu rớt giá làm mất đi số vốn cần thiết cho công trình, làm trì hoản đi việc thi công hay công trình bị đình hoản lại. Do đó không nên để một người hay một nhóm nhỏ người khai thác những khe hở về nguồn vốn cho những mục đích riêng không có sự đồng ý của toàn thể hội đồng quản trị.


Giá Trị Trao Đổi Tiền Tệ cho Xuất Khẩu

“Khả năng thanh toán cho mậu dịch xuất nhập khẩu thông qua các quá trình trao đổi tiền tệ trước khi các hàng hóa hay dịch vụ được chuyển giao.”

*****

Khi một nền kinh tế có giao tiếp với các nền kinh tế khác, có nghĩa sẻ có mối quan hệ trao đổi tiền tệ giửa các doanh nghiệp nội địa và quốc tế. Các doanh nghiệp sẻ quan tâm đến giá trị trao đổi tiền tệ vì sự cạnh tranh còn quyết định trên giá thành tính ra bằng ngoại tệ tại thị trường sản phẩm được xuất sang cho việc thiêu thụ. Nếu chính phủ có thể duy trì tỉ giá của đồng tiền nội địa thấp so với các đồng tiền ngoại tệ của thị trường nhập khẩu hàng hóa được sản xuất trong nội địa, thì các nhà doanh nghiệp xuất khấu sẻ có lợi thế về mặt cạnh tranh giá cả. Nhưng nếu vật liệu hay các phụ kiện nhập từ nước ngoài sẻ tạo ra chi phí cao khi đổi ra giá trị của đồng tiền nội địa. Ngoài ra, chính phủ còn dùng các quĩ ngoại tệ do thu nhập từ thặng dư mậu dịch để tạo ra những lợi thế cho xuất khẩu sang các thị trường khác.

Chính phủ vẩn có những biện pháp về chi phí bù lổ trong ngành kinh tế nội địa về vốn và giảm giá bán các loại sản phẩm trên thị trường trong nước nếu hàng nhập khẩu có khuynh hướng rẻ hơn hàng nội địa, hay ở thị trường nước ngoài cho việc giảm giá để tăng múc cạnh tranh. Chính phủ dùng tỉ giá hối đoán để ảnh hưởng đến nhà nhập khẩu và xuất khẩu trong việc định ra giá bán hàng của họ trên thị trường. Nếu tổng số xuất khẩu tăng lên so với chi phi hổ trợ của chính phủ trong vấn đề tỉ giá hối đoái, thì chính phủ sẻ tiếp tục áp dụng việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái. Trung Quốc đả áp dụng chính sách tiền tệ và tỉ giá hối đoái có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu.Bên cạnh tỉ giá hối đoái, chính phủ còn hổ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu bằng vốn vây lải xuất thấp giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm tạo ra sức mạnh cạnh tranh với các đối tác khác.

Ngoài ra, nếu chính phủ để cho thị trường bị các nguồn tài chính từ nước ngoài tham gia vào việc khống chế các nguồn cung và cầu của tài chính, thì không chánh khỏi việc lạm phát và sự không ổn định trong tất cả các chỉ số tiêu dùng vược ngoài khả năng thanh toán của hệ thồng ngân hàng trung ương, và ngân hàng tư nhân nội địa. Thường hiệu quả của việc quản lý các nguồn vốn trôi nổi tại thị trường nội địa nhất định thông qua ngân hàng trung ương theo nghỉa là kiểm soát nguồn vốn luôn động. Ngân hàng trung ương sẻ yêu cầu các ngân hàng tư nhân hay nước ngoài ký thác tiền vốn bằng ngoại tệ tại ngân hàng trung ương, rồi ngân hàng trung ương sẻ mở tài khoảng bảo đảm của chính phủ cho khách hàng. Khi ngân hàng khách hàng yêu cầu sử dụng ngoại tệ với số lượng cao, họ sẻ chuyển lệnh đến ngân hàng trung ương cho việc rút tiền mặt nhanh gọn và hợp lý cho các nhu cầu trong ngày hay tuần.

Chính sách quản lý tiền tệ về mặt hợp pháp và linh động sẻ gặp nhiều yếu tố tiêu cực như hối lộ hay tham ô khi các nhân viên quản lý có thể lợi dụng cho việc yêu cầu khách hàng chi trả tiền cước phí hay lệ phí miệng cho việc thanh toán ngoại tệ. Sự linh động về mặt kinh tế là tạo thuận tiện cho các ngân hàng và tư nhân hoạt động trên các phương thức chuyển khoảng, tín dụng, và bảo chứng vì giá trị tài chính chuyển đổi từ tay người này sang người khác trên hình thức, nhưng thực sự lượng tiền mặt vẩn nằm trong các két bảo mật của ngân hàng trung ương. Các ngân hàng tư nhân và nước ngoài sẻ sử dụng các các tài khoảng và giá trị điện tử để giao dịch và thực hiện các việc mua bán của minh.

Chính sách tiền tệ, tài chính mới sẻ tăng cường lượng tiền mặt và ngoại tệ vào tay ngân hàng trung ương tạo ra khả năng thanh toán và các phương thức hiệu quả của chính phủ trên thị trường tài chính của quốc gia. Bởi vì nguồn vốn đều là những con số điện tử nằm trong hệ thống ngân hàng quốc gia, giúp hạn chế sự đầu cơ, tích lủy trong các hoạt động đầu cơ ngắn hạn. Mô hình này sẻ đòi hỏi sự an toàn, hiệu quả, và sử lý chuyên nghiệp của mạnh lưới thông tin và dử liệu của hệ thống ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương sẻ mở ra các tài khoản cho các ngân hàng trong nước bao gồm ngân hàng tư nhân và nước ngoài. Các ngân hàng tư nhân và nước ngoài sẻ tạo ra tài khoảng cho khách hàng. Ngân hàng sẻ yêu cầu những lượng tiền mặt thích hợp cho việc chi trà cho khách hàng. Ngân hàng trung ương chỉ quản lý nguồn gốc của nguồn vốn của các ngân hàng tư nhân, và giám sát những chuyển đổi tài khoản với số lượng lớn. Dựa trên hệ thống mới, chính phủ dể dàng đóng thuế thu nhập và kinh doanh của cá nhân và doanh nghiệp. Những ví dụ hay gợi ý về khả năng và cách thức quản lý vốn ngoại tệ mạnh ở ngân hàng trung ương và các ngân hàng tư ngân hay quốc doanh luôn nhằm tạo ra sự an toàn cho khả năng thanh toán, trao đổi tiền tệ có lợi cho nền kinh tế quốc dân. Nhất là hạn chế những công ty tài chính có xử dụng vốn nước ngoài hay tiền của các tổ chức tội phạm quốc tể dùng lủng đoạn thị trường tài chính trong nước.

Sự quản lý tài chính sẻ hạn chế việc xử dụng nguồn vốn không rỏ ràng của các công ty đầu tư và tài chính có những hành vi lũng đoạn thị trường địa ốc, cổ phiếu và tài chính. Hiệu quả mà ngân hàng trung ương có thể hoàn thành là hạn chế nguồn vốn lưu thông phi pháp hay không có lợi cho nền kinh tế quốc gia. Nhưng củng đồng thời đảm bảo là không ảnh hưởng đến hoạt động hiệu quả của các ngân hàng trong thị trường nội địa. Các thủ tục quan liêu, giấy tờ sẻ bị hạn chế và thay thế bằng các phương pháp điện toán có độ bảo mật cao, có tính truy cập theo các thời điểm khác nhau của các tài khoản này. Ngân hàng trung ương chỉ giám sát theo phương thức khách quan, không gây ra các rào cảng làm thiệt hại giá trị kinh tế cho quốc gia tính theo doanh thu của các ngân hàng tư nhân và doanh nghiệp kinh doanh, Nhưng củng hạn chế các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra khi các sự ảnh hưởng của hối lộ và tham nhủng.

Tỉ giá tiền tệ thanh toán giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài sẻ có lợi khi doanh nghiệp trong nước muốn bán sản phẩm ra nước ngoài có giá thành thấp.Trong khi đó doanh nghiệp trong nước muốn nhập hàng hóa, vật liệu từ nước ngoài muốn bán ra với giá thành rẻ thì phải mong là đồng tiền nội địa có giá trị cao. Nhưng cả hai trường hợp luôn bị chi phối bởi cán cân thanh toán quốc tế. Có nghĩa nếu Việt Nam nhập khẩu 50 tỉ USD một năm và xuất khẩu 60 tỉ USD một năm, chính phủ trung ương và ngân hàng nhà nước sẻ tính ra từng loại hàng xuất và nhập từ quốc gia nào, và phương thức thanh toán bằng ngoại tệ nào, để giúp ngân hàng nhà nước có thể điều chỉnh tỉ giá hối đoái cho có lợi. Có nghĩa mức xuất khẩu lớn hơn mức nhập khẩu tạo ra cán cân thanh toán dương, duy trì nguồn vốn trong nước và sự giàu có của nền kinh tế nội địa. Các nhà nhập khẩu nguyên liệu cho việc chế biến và lấp ráp cho xuất khẩu sẻ quan tâm đến giá trị thành phẩm sau này. Nhưng hàng hoá và dịch vụ cho xuất khẩu sẻ chịu ảnh hưởng của tì giá hối đoái mà định giá bán tại thị trường nước ngoài.

Trung Quốc luôn áp dụng mức dự trữ ngoại tệ lớn, gần 3 ngàn tỉ USD, để kềm tỉ giá hốit đoái của đồng Nhân Dân tệ với đồng USD có lợi cho hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ và các quốc gia dùng đồng USD trong thanh toán quốc tế. Nhưng muốn kềm tỉ giá hối đoái của đồng tiền nội địa so với đồng tiền nước ngoài, ngân hàng trung ương phải thu mua đủ lượng tiền ngoại tệ để điều chỉnh tỉ giá theo từng giờ, ngày có lợi cho việc thanh toán quốc tế. Các doanh nghiệp củng phải có trách nhiệm ủng họ chính phủ trong việc quản lý số lượng lớn ngoại tệ dùng cho việc hiệu chỉnh tỉ giá hối đoái có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu. Các nhà doanh nghiệp thành công thường có thói quen mua sắm các món hàng mắc tiền có giá trị vài triệu USD như xe hơi, máy bay, du thuyền và nhà nghĩ mát. Nhưng có lẻ Nền kinh tế của Việt Nam vẩn cần nhiều sự hy sinh về sức người, tiền bạc và trí tuệ cho các thành quả lâu dài. Nó là một trong các yếu tố giúp Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đức, Singapore có thể vực dậy sau những khó khăn ban đầu cho việc phát triển nền kinh tế thịnh vượn. Khi chính phủ hoạch định bảng đồ phát triển kinh tế của các tỉnh và vùng từ bắc vào nam, thì bộ phát triển và đầu tư sẻ dể dàng tạo ra môi trường hoạt động kinh tế hiệu quả cho sự tăng trưởng GDP của Việt Nam. Có thể nói đơn giản là bộ kế hoạt và đầu tư sẻ lên kế hoạch cho mục tiêu GDP đạt được của từng tỉnh,vùng trong giai đoạn 2011-2030. Bên cạnh đó, củng nên chọn vị trí, địa đểm cho việc xây dựng ba thành phố kinh tế đặc biệc với việc thu hút vốn từ nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Nếu số vốn cần cho mỗi thành phố mới này là 60 tỉ USD, thì dần dần sự tăng trưởng GDP của mỗi thành phố sẻ tự động đóng góp và việc hoàn thiện việc xây dựng và mở rộng của từng thành phố riêng biệc. Đó củng là cách thu hút vốn và quản lý vốn có hiệu quả cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế lâu dài.


Kinh Doanh Tiền Tệ và Khả Năng Thanh Toán

“Giá trị trênh lệch, hay mối quan hệ giữa mức cung và cầu của một loại tiền tệ sẻ quyết định giá trị trao đổi của đồng tiền đó. Nhưng do sự khác biệt về thông tin mà tỉ giá hối đoái của một loại tiền tệ có thể khác nhau giữa hai thị trường giao dịch. Ngoài ra giá trị vay mượn luôn tồn tại trong thị trường tiền tệ cho các phương thức thanh toán.”
*****

Giá trị tiền tệ thay đổi dưới ảnh hưởng của khả năng tiêu thụ và thanh toán mậu dịch quốc tế trên thị trường quốc tế của quốc gia đó. Tại sao đồng đô la của Hoa Kỳ có giá trị thanh toán cao trên các hệ thốnh tiền tệ quốc tế? Bởi vì chính phủ Hoa Kỳ bảo đảm cho việc thanh toán với các quốc gia sở hữu đồng đô la Mỹ. Tỉ giá của đồng tiền nội địa với các ngoại tệ mạnh luôn thay đổi tạo ra điều kiện cho các nhà đầu tư kiếm lời. Ngoài ra, các nhầu đầu tư vào tiền tệ luôn tính toán sự thay đổi tỉ giá theo nhiều thông số phân tích khách nhau: (a) tình hình chính trị của một quốc gia, (b) các thay đổi trong chính sách của chính phủ đề ra, (c) khả năng thanh toán của nợ đáo hạn như công trái, trái phiếu tại thị trường đó, (d) cán cân mậu dịch quốc tế, (e) chỉ số tiêu dùng, và (f) dự trử ngoại tệ của quốc gia đó.

Khả năng thanh toán quốc tế do yêu cầu người mua và người bán theo các điều khoảng ghi trong hợp đồng và trong văn bảng giao dịch. Có những trường hợp khách hàng chỉ mượn chứng phiếu về giá trị ngoại tệ trong việc thanh toán. Ngân hàng và công ty tài chính giúp sự giao dịch giữa các bên được thuận lợi. Tiền mặt hay thanh toán tài chính dựa trên quí kim luôn có điểm yếu và mạnh của nó. Sự hoán chuyển từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác trong các hoạt động tài chính đều dựa vào tỉ giá ngoại tệ giữa hai đồng tiền trong giao dịch. Chẳn hạn nhà xuất khẩu Nhật Bản và nhà nhập khẩu Việt Nam sẻ xử dụng tỉ giá giữa đồng Việt Nam và Yên Nhật. Còn nhà xuất khẩu Việt Nam và nhà nhập khẩu Châu Âu sẻ xử dụng tỉ giá giữa đồng Việt Nam và đồng Euro cho các thanh toán. Khi các hoạt động thanh toán thông qua ngân hàng thường được xem như là sự vận chuyển, sự cất giử mang tính an toàn và tiện lợi cao tạo ra sự tin tưởng cho hai bên đối tác hay nhiều đối tác cùng tham gia trong các giao dịch thương mại và đầu tư.

Nhà đầu tư sẻ làm gì cho sự khai thác lợi nhuận thông qua việc kinh doanh, đầu tư tiền tệ nhất là khi tỉ giá ít có sự khác biệt giữa các thị trường tài chính nhằm tạo ra sự quân bình của giá trị trao đổi của các loại tiền tệ. Ngoài giá trị tỉ giá ngoại tệ hay tỉ giá giữa đồng tiền trong nước và các đồng tiền mạnh, nhà đầu tư còn quan tâm đến hai chỉ số khác là sự lạm phát của vật giá trong thị trường của loại tiền tệ đó, tỉ lệ lải xuất tiền vay và tiền gửi của tiền tệ đó. Nếu cả ba chỉ số này được phân tích và khai thác sẻ tạo ra những loại bom vô hình trong các cuộc khủng hoản kinh tế tài chính. Điển hình là khủng hoản tài chính ở Nam Triều Tiên, Thái Lan và các quốc gia Đông Nam Á. Có nghĩa, nhà đầu tư sẻ áp dụng các biện pháp như vay mượn bằng đồng tiền này, rồi gửi vào một ngân hàng, sau đó dùng tiền này để mượn một ngoại tệ khác, rồi lại gửi vào ngân hàng khác kiếm lợi thông qua sự chênh lệ về tỉ giá và mức tiền lời thay đổi từng ngày dưới sự ảnh hưởng của lạm phát và tỉ giá ngoại hối. Trong khi đó Trung Quốc nắm quá nhiều dự trử ngoại tệ lên gần 3,000 tỉ USD thông qua các thặng dư mậu dịch quốc tế, đã giúp ngân hàng Trung Quốc có thể khống chế tỉ giá ngoại hối với đồng đô-la của Hoa Kỳ. Ngoài ra Trung Quốc còn áp dụng với các loại ngoại tệ khác như đồng Yên Nhật Bản, đồng Euro của Châu Âu có lợi cho cả hai mặt là mua bán ngoại tệ và tăng mức xuất khẩu cho hàng hóa Trung Quốc sang các quốc gia này. Mỗi chính phủ tự nhận ra thăng dư mậu dịch hay sự không bình thường của cơ chế quản lý thị trường nội địa sẻ dẩn đến những nguy cơ về lâu về dài sẻ có những tác dụng ngược lại. Nhất là qui mô của thị trường nội địa bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế thế giới. Khi chính phủ Việt Nam có sự quan sát về tình hình phát triển tại Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Ấn Độ, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, sẻ có nhiều quan điểm khác nhau để hoà hợp với các giá trị chính trị, kinh tế và xã hội của Việt Nam.

Sự lớn mạnh của Trung Quốc do nhiều lý do sâu xa hơn là bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc tạo ra. Không thể không bỏ qua của ba giá trị, giá trị thức nhất là ‘Toàn Cầu Hoá’ cao trong thập niên 1990s và 2000s; giá trị thức hai là khai thác vô tận của internet trên các lĩnh vực kinh tế, xả hội, chính trị, văn hóa và thương mãi tại các thị trường trên thế giới. Khó ai hình dung ra nền kinh tế thế giới sẻ thế nào khi không có hệ thống internet và các dịch vụ điện thoại di động. Sự phát triển kinh tế không biên giới thông qua hai môi trường này tạo ra một khái niệm mới là giá trị siêu lợi nhuận của ‘Chủ Nghĩa Kinh Tế Đế Quốc’ tạo ra cơn sống ‘cung cấp sản phẩm giá rẻ, vốn vay rẻ’ cho các tập đoàn đa quốc gia, và xí nghiệp gia công và sản xuất. Đó là lý do mà Trung Quốc đả thành công trong việc biết quản lý nền kinh tế theo ba chiều không gian – con người, quyền lợi và khả năng. Hộ khẩu là một đặc ân thứ nhất cho một người có thể làm việc tại một thành phố. Quyền lời là phạm trù khi một người có nhiệm vụ giữ một chức vụ quan trọng cho các hoạt động kinh tế và an ninh xã hội. Khả năng là các ưu đải có được giúp cho một cá nhân, tập thể, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tại thị trường trong và ngoài nước. Cả ba giá trị này cùng lúc tạo ra nguồn lợi tức cho chính phủ, và giúp chính phủ phân bố tài nguyên cho từng vùng hay khu vực dân cư theo các ưu tiên cần thiết của nền kinh tế quốc gia. Qui mô lợi nhuận mà Việt Nam có thể gặc hái được sẻ tùy vào qui mô phát triển của ba giá trị vừa nêu nhằm tạo ra các giá trị liên đới theo hiệu ứng domino giúp Việt Nam có được các nguồn thu tài chính, tiền tệ như sau: xuất khẩu, tiền gửi về của thân nhân và nhân viên ở nước ngoài, đầu tư nước ngoài, du khách nước ngoài đến Việt Nam, lợi nhuận từ các quĩ đầu tư tại nước ngoài.

Khi mậu dịch quốc tế gia tăng ở con số hơn 10000 tỉ USD hay mức giao dịch tiền tệ hàng ngày ở con số hơn 1000 tỉ USD cho nhiều loại tiền tệ khác nhau. Nhất là giá trị xuất nhập khẩu dựa trên một loại tiền tệ trao đổi nào đó, sẻ tạo ra những giá trị khai thác cho ngân hàng, nhà đâu tư tiền tệ trong việc tạo ra lợi nhuận. Trong năm 2001, mức độ lệ thuộc vào việc trao đổi tiền tệ quốc tể ở các quốc gia trên thế giới vào đồng đô-la Hoa Kỳ là 68.3%, Bảng Anh là 4%, Yen Nhật là 4.9%, Euro là 13%. So với các quốc gia công nghiệp thì tỉ lệ này là 74.5% cho đồng đô-la Hoa Kỳ, 1.8% cho Bảng Anh, 5.5% cho Yen Nhật, 9.7% cho Euro. Trong khi giao dịch tiền tệ ở các quốc gia đang phát triển là 64.1% cho đồng đô-la Hoa Kỳ, 5.5% cho Bảng Anh, 4.5% cho Yen Nhật, 15.3% cho Euro. Nhìn vào tỉ lệ này, có thể nhận ra sự giao dịch hàng hóa, tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới có liên quan đến các đồng tiền mạnh của Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản và Anh Quốc. Nhất là nhìn qua mức độ trao đổi tiền tệ hằng ngày ở các thị trường tài chính trên thế giới như thị trường tài chính Luân Đôn lên đến 504 tỉ USD (tháng 19 năm 2001), Nữu Ước là 254 tỉ USD, Nhật là 147 tỉ USD, Singapore là 101 tỉ USD, Đức là 88 tỉ USD, Thụy Sĩ là 71 tỉ USD, Hồng Kông là 67 tỉ USD, Australia là 52 tỉ USD. Thị trường Luân Đôn chiếm đến 31% thị trường tài chính thế giới, so với Hoa Kỳ là 16%, Nhật là 9%, Singapore là 6%, Singapore là một quốc gia Đông Nam Á nhưng đả biết cánh phát triển thị trường tài chính một cách hiệu quả và lớn mạnh phục vụ cho khách hàng trong khu vực và trên thế giới. Như vậy khi nền kinh tế có nhỏ như Singapore vẩn có một lượng lớn giao dịch tiền tệ lên đến con số 6% của thị trường thế giới cho thấy khả năng xây dựng một thị trường tài chính cần có nhiều tác nhân như hệ thống hành chính, tỉ lệ tham nhủng thấp, hiệu quả quản lý của các chuyên viên làm việc trên thị truờng giúp cho nhà đầu tư có thể gia tăng hoạt động kinh doanh của họ trong các thị trường mậu dịch trung gian.

Nhà nhập khẩu và xuất khẩu cần lượng ngoại tệ để mua hàng hoá hay trao đổi. do đó mức cầu của các loại tiền tệ luôn thanh đổi theo từng các giai đoạn phát triển của các thị trường nối kết với nhau. Nhà đầu tư vào thị trường tiền tệ luôn quan sát và dự đoán nhu cầu mua hay bán của từng loại tiền tệ mà có hành động thu mua hay bán ra. Nền kinh tế của một quốc gia củng ảnh hưởng đến giá trị của đồng tiền quốc gia đi kèm với sự ổn định của cơ cấu chính trị và mức lạm pháp thấp. Tỉ lệ lạm phát cao sẻ làm giảm đi giá trị đầu cơ của một loại tiền tệ. Singapore đả biết khai thác giá trị vận hành của một thị trường tài chính phục vụ các khách hàng nước ngoài. Giá trị của Singapore có thể giúp Việt Nam hình thành một loại thị trường độc lập về dịch vụ tài chính và cổ phiếu tạo ra các giá trị sau cho kinh tế Việt Nam: (a) công ăn việc làm, (b) cạnh tranh sức đầu tư từ nước ngoài, (c) khai thác vốn vay trong và ngoài nước, (d) thu hút khách hàng cho việc mua bán cổ phiếu và giao dịch tài chính, (e) tạo ra ngân sách thuế cho chính phủ và lợi nhuận cho các quĩ đầu tư có vốn của chính phủ khi được cho vay và đầu tư tại các quốc gia nước ngoài.

ViệtNammuốn có nhiều nhà đầu tư Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Ấn Độ tham gia vào các ngành kinh tế như công nghệ sản xuất, gia công sản phẩm, nghiên cứu sản phẩm, đến các công ty tài chính và bảo hiểm tài chính, thì môi trường kinh doanh tại Việt Nam cần có các yếu tố lợi nhuận, yếu tố chuyển đổi vốn, yếu tố sở hữu tài sản và pháp luận thống nhất. Điều quan trọng mà thị trường ViệtNamvẩn cần làm là xây dựng một nền tản ổn định của hệ thống thanh toán quốc tế và hệ thống tài chính có mức chuyên nghiệp cao và tỉ lệ tiết kiệm cao trong thời gian tới. Mức đầu tư của chính phủ, tư nhân và mức tiết kiệm của người dân phải cao. Mà đầu ra cho lợi nhuận thu được là xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sang các thị trường trong khu vực và quốc tế. Việt Nam có thể gia tăng cạnh tranh các sản phẩm của Trung Quốc tại thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, Nga, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á. Nguồn tài chính mà Việt Nam có thể thu về sẻ có nguồn từ các thị trường tài chính lớn trong khu vực và thế giới. Chính phủ cần đào tạo ít nhất là các nhóm kinh tế, đầu tư người Việt Nam hay chuyên gia nước ngoài làm việc cho Việt Nam có văn phòng hoạt động tại các quốc gia có nguồn vốn mạnh. Những hoạt động về tiền tệ và trao đổi mậu dịch luôn đi liền với nhau, do đó chính phủ Việt Nam sẻ cần nguồn thông tin chính xác cho các hoạt động mua bán, giao dịch tài chính giữa thị trường Việt Nam và các thị trường quốc tế. Sự tin tưởng và khả năng quản lý nguồn thông tin và thao tác chuyên nghiệp cho các giao dịch này sẻ là lợi thế cho thị trường Việt Nam thu hút nhiều hơn các nguồn tài chính quốc tế. Việt Nam sẻ có một thị trường tài chính lớn mạnh và hoạt động hiệu quả trong vòng 20 năm, có lẻ sẻ lớn hơn cả thị trường Singapore, Hồng Kông gộp lại trong năm 2030. Nhưng chính phủ phải có sự hổ trợ về kinh phí cho việc đào tạo đội ngủ chuyên viên có trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ này.

Các Thông Số của Thị Trường Tài Chính

“Công thức giúp sự dự đoán lợi nhuận và rủi ro trong khung cho phép, trước khi các quyết định của bản năng, kinh nghiệm, và trao đổi được áp dụng.”

******

Những chính sách của kinh tế vĩ mô tạo ra nền tản cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả khi các doanh nghiệp có được sự hổ trợ của chính phủ và hệ thống tài chính mạnh giúp họ có được sự linh hoạt trong việc vay vốn, phát hành cổ phiếu, thanh toán quốc tế, thuế, tỉ giá ngoại tệ cho xuất nhập khẩu, và các an toàn trong việc chuyển dịch tài sản trong và ngoài nước. Cán cân thu chi nội địa là sự hiệu quả của các chính sách giúp chính phủ luôn ổn định mức lạm phát thấp và tỉ lệ thất nghiệp thấp. Trong khi đó cán cân thanh toán quốc tế luôn ở mức ổn định trong việc thu hút vốn nước ngoài và mức thặng dư mậu dịch quốc tế. Ngoài ra mức tăng trưởng kinh tế GDP và tỉ giá trao đổi đồng tiền nội địa và ngoại tệ mạnh như USD, Yen, Bảng Anh, Đức Mã.

Một trong các chỉ số thay đổi của một nền kinh tế ổn định và hiệu quả khi phương trình của biến số lượng tiến (MS), lượng hàng hóa (GS), và lượng thanh toán (PB) sẻ thay đổi khi tỉ giá lải xuất ngân hàng thay đổi và mức thu nhập thay đổi. Điểm giao nhau của ba phương trình này khi ở mức tiền lời là bao nhiêu và thu nhập là bao nhiêu thì có một đáp số chung. Hay đối chiếu với sự cân bằng của lượng hàng sản xuất bằng lượng hàng yêu cầu, số tiền cung cấp bằng số tiền nhu cầu, cán cân thu chi phải cân bằng. Trong đó sự cân bằng hoàn hảo lý tưởng theo phương trình sao:
S +T + IM = I +G + X  (1)
Trong đó, S là mức tiết kiệm nội địa, T là giá trị ngân sách từ thuế, IM là mức thu nhập do nhập khẩu, I là tổng số tiền đầu tư, G là ngân sách mà chính phủ chi tiêu, X là thu nhập từ xuất khẩu. Với những chỉ số cần thiết chính phủ sẻ áp dụng các chính sách nhằm bổ xung biến số nào theo sự thay đổi của các biến số khác trong phương trình trên để ổn định cán cân căng bằng của thanh toán quốc tế và nội địa giúp giá trị của đồng tiền nội địa ổn định và tạo ra sự thu hút đầu tư nước ngoài của thị trường nội địa.

Ngoài ra nếu có sự khác biệc của mức lải xuất ngân hàng ở thị trường nội địa cao hơn các thị trường khác, sẻ thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, nhất là khi tỉ giá ngoại hối được thả nổi theo giá thị trường. Các ngân hàng của Thái Lan đả tạo ra lổ hỏng cho việc tạo ra sự khủng hoản của tiền tệ khi các nhà đầu tư nước ngoài biết khai thác sự trên lệch giữa việc vay vốn bằng tiền Bath, sau đó mua tiền đô-la Hoa Kỳ và ký gửi lại ngân hàng Thái Lan tạo ra lợi nhuận trên lệch giữa tài khoản ngoại tệ và tài khoản tiền nội địa khi có mức lạm phát cao. Trong khi đó nếu chính phủ phát hành lượng tiền lớn sẻ làm cho giá trị tỉ giá đồng tiền nội địa mất giá so với các ngoại tệ khác. Ngân hàng trung ương sẻ bán ngoại tệ ra thị trường, nhằm mua lại tiền nội địa giúp tạo sự ổn định giá trị của đồng tiền nội địa. Sự chuyển dịch này tạo ra những tác động đến nền kinh tế của quốc gia.

Tuỳ theo chính sách kinh tế mà chính phủ sẻ chọn điều chỉnh toàn bộ các biến số của phương trình (1) hay cố định một biến số và thay đổi các biến số khác trong việc kích thích nền kinh tế phát triển. Phương trình (1) còn thể hiện cho việc chính phủ chọn tăng mức tiết kiệm S, giảm thuế để tác động đến mức gia tăng mức đầu tư I (như trường hợp chính phủ Hoa Kỳ giảm thuế cho các doanh nghiệp và tầng lớp trung lưu), gia tăng thu nhập của xuất khẩu X khi các doanh nghiệp lợi thế về giá thành do đóng thuế thấp, và giảm chi tiêu ngân sách của chính phủ G đển giảm lượng phát hành công phiếu hay trái phiếu. Do nền kinh tế của một quốc gia càng có nhiều liên hệ và giao dịch với các quốc gia khác, do đó phương trình (1) chỉ áp dụng cho mô hình đơn giản khi quản lý nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô theo các thanh toán nội địa, quốc tế và các nguồn thu chi khác.

Ở cấp vi mô, các bước kế tiếp là phân tích các hoạt động của một doanh nghiệp và thói quen của người tiêu dùng trong việc tác động đến nền kinh tế quốc gia. Thêm vào đó là sự so sánh với một quốc gia khác có quan hệ mậu dịch với thị trường nội địa. Trong sự phân tích có tính phức tạp hơn là mức thu nhập, giá tiêu dùng, sức mua của người tiêu dùng, và ti giá ngoại tệ. Sự khác nhau về giá cả trong một quốc gia do nhiều lý do. Giá cả trong một quốc gia sẻ chênh lệch với các quốc gia khác khi hoán đổi ra đồng ngoại tệ như đô-la Hoa Kỳ. Chẳn hạn trong năm 2002, giá trung bình một chai nước giải khác 2 lít bán ở Chicago là 1.45 USD, ở Tokyo là 3.55 USD, và Sydney là 1.27 USD. Những sự khác biệt này không thể tạo ra sự chuyển đổi mậu dịch từ nơi này sang nơi khác, nhưng nó giải thích giá sinh hoạt tiêu dùng giữa các quốc gia hay thành phố với nhau. Trong cùng một thị trường Việt Nam, người tiêu dùng dể dàng nhận ra giá cả sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh sẻ cao hơn các thành phổ ở các tĩnh trong cả nước, nhưng ngược lại các thành phố du lịch như Vũng Tàu, Nha Trang, Phan Thiết, Huế, Hội An, Vịnh Hạ Long, Đà Lạc, Phú Quốc sẻ có giá cả sinh hoạt cao hơn vì nhu cầu của khách du lịch làm tăng giá cả sinh hoạt lên. Do đó có sự hiệu chỉnh về mức sinh hoạt hay mức lương giữa các thành phố, tỉnh và vùng với nhau.
Do các chính sách về quản lý tài chính, mà ngân hàng sẻ áp dụng các mức chi phí khác nhau tạo ra sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong cùng một thị trường hay giữa các thị trường. Các nhà đầu tư có vốn lớn sẻ tìm ngân hàng tại các quốc gia có mức đóng thuế thấp hay chi phí thấp mà ký gửi. Các ngân hàng Châu Ấu có lợi thế là không bị ràng buộc bởi những nguyên tắc và hạn chế giống như các ngân hàng tại Hoa Kỳ cho nên có thể cạnh tranh với các ngân hàng Hoa Kỳ trong việc thu hút khách hàng cho mức lời của tiền gửi cao hơn các ngân hàng Hoa Kỳ, và mức tiền lời cho các vốn vay thấp hơn các ngân hàng Hoa Kỳ. Theo viễn tường đó, các ngân hàng Châu Âu cạnh tranh trong việc thu hút vốn gửi bằng đô-la Hoa Kỳ theo hai trường hợp: (1) mức tiền lời cho người gửi luôn cao hơn ngân hàng Hoa Kỳ, (2) mức tiền lời cho người vay vốn theo đô-la Hoa Kỳ sẻ thấp hơn ngân hàng Hoa Kỳ. Hay nói cách khác khoảng rộng của tỉ giá vay vốn và tiền lời của ngân hàng Hoa Kỳ lớn hơn khoảng rộng của tiền lời vay vốn và tiền lời cho người gửi của ngân hàng Châu Âu. Hay các ngân hàng Châu Âu giảm lợi nhuận của họ nhằm thu hút nhà đầu tư và khách hàng từ khắp nơi trên thế giới. Có thể ví dụ sau để minh họa. Một ngân hàng ở Hoa Kỳ có mức tiền lời cho người gửi là 1% một năm và mức tiền lời cho người vay là 5% một năm. So với ngân hàng ở Châu Âu là mức tiền lời cho người gửi là 1.5%, và tiền lời cho người vay là 4.5%. Khoảng rộng của ngân hàng Hoa Kỳ là 5% – 1% = 4%, so với khoảng rộng của ngân hàng Châu Âu là 4.5% – 1.5% = 3%. Như vậy ngân hàng Châu Âu phải làm việc hiệu quả hơn để giảm chi phí hành chính và giảm tiền thưởng cho các nhân viên của họ.

Rủi ro của việc cho vay vốn các khách hàng nước ngoài hay trong nước đều mang tính rủi ro cao. Như trường hợp các cuộc khủng hoản tài chính trên thế giới, đả tạo ra những khoản thiệt hại cho các ngân hàng quốc tế, trong đó có các ngân hàng Hoa Kỳ. Sự thiệt hại hay rủi ro này ở tỉ lệ vốn vay so với vốn lưu động của ngân hàng. Như trường hợp khủng hoảng trong năm 1982 ở Argentina, vốn vay chiếm đến 12% vốn ngân hàng của Hoa Kỳ; ở Brazil chiếm đến 26%, Mexico chiếm đến 37%; khủng hoảng tại Châu Á năm 1997, Indonesia chiếm 2%, Korea chiếm 3%, và Thái Lan chiếm 1%. Điều này củng thể hiện sự nối kết của hệ thống tài chính quốc tế gắn liền với nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. So với Nhật Bản, thị trường cổ phiểu, tài chính, và đầu tư nước ngoài do các nhà đầu tư Nhật Bản quản lý, do đó các món nợ thường do các chủ nợ là người Nhật hơn là các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ thường áp dụng các khoảng cho vay lải xuất thấp hay không hoàn lại cho các quốc gia Châu Á theo một phương thức khác với các quốc gia công nghiệp Phát triển như Hoa Kỳ và Châu Âu. Tạo ra các hoạt động kinh tế hiệu quả cho các công ty Nhật Bản tham gia vào các thị trường trong khu vực này.

Sự đầu tư về vốn sẳn có mang nhiều rủi ro và lợi nhuận tạo ra sự cạnh tranh của các công ty tài chính có chuyên môn cao trong việc quản lý tài sản và nguồn vốn ký gửi từ khách hàng. Thị trường Việt Nam vẩn còn chưa khai thác hết các giá trị về thị trường tài chính theo nghĩa – hạn chế giữ tiền mặt trong các doanh nghiệp ở một mức là bao nhiêu và hạn chế việc các doanh nghiệp dùng việc thế chấp cho việc kinh doanh ở mức không an toàn. Cả hai trường hợp có thể tạo ra hai kết quả – không khai thác hết khả năng vận dụng vốn lưu động và tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư, hay tạo ra nguy cơ phá sản kéo theo sự khủng hoản kinh tế về tài chính và địa ốc tại các quốc gia. Nam Triều Tiên gặp sự khủng hoản khi các doanh nghiệp lệ thuộc vào vốn vay của ngân hàng, vì các doanh nghiệp Nam Triều Tiên không thể huy động vốn từ thị trường chứng khoán hay tín dụng. Nhật Bản và Hoa Kỳ gặp cơn khủng do tỉ lệ đầu tư cao vào thị trường địa ốc mà phần lớn các công ty lớn đều có các tài khoản đầu tư này tạo ra sự thiệt hại khi các ngân hàng không thu hồi vốn vay từ các dự án địa ốc.

Sự khác biệt giữa một nhà đầu tư và người sở hữu vốn là hoạt động tái xử dụng vốn theo thời gian và không gian. Trong giai đoạn phong kiến, các nhà đầu tư Châu Âu đả thông qua các triều đại vua hay hoàng hậu để mở rộng thị trường khai thác lợi nhuận. Một trong số này là công ty Đông Ấn với cổ phần của nhiều quí tộc thành lập cầu nối cho việc khai thác lợi nhuận từ vùng Châu Á Thái Bình Dương sang Ấn Độ, Trung Đông, Châu Phi và Bắc Mỹ. Khái niệm này có thể lý giải việc các nhà đầu tư phương tây đả biết mở rộng thị trường sang các quốc khác hay châu lục khác cho lợi nhuận cao hơn. Từ khái niệm đó các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam củng có thể khai thác trên qui mô toàn cầu ở nhiều phương thức khác nhau. Không có một công thức nào là hoàn hảo, nhưng nó có thể được biến đổi phù hợp với hoàn cảnh của thị trường Việt Nam. Khi cán bộ Việt Nam biết áp dụng các phương thức thành lập quĩ đầu tư vào thị trường trong và ngoài nước, thì bản thân họ sẻ nhận ra giá trị kinh tế luôn gắn liền với giá trị liên kết giữa các thị trường. Điều này có lợi cho nền kinh tế Việt Nam, bởi vì các quĩ đầu tư không chỉ mở rộng khả năng khai thác lợi nhuận ở nhiều thị trường khác nhau mà nó còn kích thích sự liên kết hay giao lưu văn hóa và mậu dịch giữa các quốc gia khác nhau. Nếu cán bộ Việt Nam thành lập khoảng 10 quĩ đầu tư có số vốn hơn 100 triệu USD, và chọn các dự án đầu tư tại các quốc gia như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Bra-xin, Nga, Đức, Anh, Pháp, Ý thì giá trị kinh tế và ngoại giao của 10 quĩ đầu tư này vô cùng to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cần khuyến khích các quĩ đầu tư này hoạt động ở nước ngoài vì nó là cầu nối cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển trong tương lai.

Khái niệm thứ hai là tiền vốn không bao giờ nằm một chổ, vì nó phải được lưu chuyển tạo ra lợi nhuận theo các phương thức đầu tư khác nhau. Nhưng hệ thống luật pháp và khả năng chuyên môn quản lý vốn của các ngân hàng sẻ tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư. Nếu không có niềm tin thì không nhà đầu tư nào giám bỏ tiền vào ngân hàng hay các công ty tài chính. Sự hiệu quả của hệ thống luận pháp, sự quản lý của các cơ quan giám sát kinh tế sẻ giúp ngăn ngừa các tội phạm kinh tế lừa gạt tiền gửi của nhà đầu tư. Sự khác nhau mà Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Úc, Tân Tây Lan, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore có thể làm được là sự uy tín và chuyên môn hóa cao trong môi trường luật pháp chặc chẻ để đảm bảo các mối quan hệ kinh tế luôn hoạt động minh bạch, hiệu quả, tôn trọng và tuân thủ theo pháp luật. Khả năng vận chuyển vốn cho lợi nhuận cao chỉ có thể tồn tại khi hệ thống luật pháp hoạt động hiệu quả cùng với sự giám sát có tính chuyên nghiệp và khách quan của các cơ quan kinh tế và tài chính của chính phủ. Khi đó nhà đầu tư Việt Nam sẻ yên tâm đầu tư vào nhiều hạn mục kinh doanh và tài chính nhiều hơn.

Các khái niệm tài chính sẻ được phổ cập từ lớp 6 giúp học sinh có một cái nhìn mới và tích cực cho các hoạt động kinh tế từ các loại thị trường – tài chính, địa ốc và cổ phiếu. Học sinh lớp 11, 12 và đại học củng nên mở rộng các khái niệm đầu tư, hoạt động tài chính, tín dụng và mậu dịch quốc tế. Nó sẻ giúp rất nhiều cho sinh viên và học sinh và khi nhận biết các giá trị cơ bản của ba loại thị trường. Củng có nghĩa thái độ của họ sẻ thay đổi trong việc mua sắm, tiết kiệm và đầu tư, và sẻ tạo ra một khái niệm mới cho thế hệ trẻ biết xử dụng tiền một cách hiệu quả, kinh tế và tránh nhiệm và mang tích khoa học cao. Khái niệm tiết kiệm, tiền lời, tiền lời tích lũy, quỉ an sinh xã hội, tiền bảo hiểm nhân thọ và các loại đầu tư so sách ngắn hạn và dài hạn nên được phổ biến càng rộng lớn bao nhiêu càng có lợi cho nền kinh tế của Việt Nam. Chỉ cần có sự chuyển đổi về mức tiết kiệm và mức chi tiêu và mức đầu tư của người dân Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030 sẻ tác động tích cực cho việc giúp Việt Nam gia tăng mức tăng trưởng GDP từ 104 tỉ USD lên hơn 900 tỉ USD.

Bên cạnh việc tham gia vào thị trường tiền tệ, cán bộ và quản lý doanh nghiệp nên chú ý các phân tích cho giá trị rủi ro liên quan đế tỉ giá hối đoái của tiền tệ: (a) sự khác nhau giữa tài sản tính theo giá trị của một tiền tệ và nợ tính theo giá trị của một tiền tệ khác, (b) sự không chắc chắn của giá trị trao đổi của đồng tiền nội địa và đồng tiền nước ngoài vào thời điểm thanh toán trong tương lai, (c) giá trị tài sản của doanh nghiệp hay vốn đầu tư tính theo tỉ giá trao đổi của đồng tiền địa phương và đồng tiền nước ngoài có sự thay đổi khi tỉ giá này không cố định. Đó là ba loại rủi ro khi nhà đầu tư tính giá trị của các khoảng giao dịch và tài sản dựa trên các tỉ giá trao đổi giữa các tiền tệ khác nhau trong một thời điểm nào đó. Các nhà xuất khẩu luôn muốn có lợi thế về việc mua bán ngoại tệ trong các thanh toán thông qua ngân hàng trong và ngoài nước. Tỉ giá ngoại tệ luôn thay đổi, do đó sẻ ảnh hưởng đến sự cạnh tranh về giá bán và giá mua cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Các hợp đồng mua bán thường có bảo hiểm khi tỉ giá thay đổi.


Các Khái Niệm Giả và Thật Trong Hoạt Động Kinh Tế
“Có nhiều loại thông tin là đúnh, hay các lập luận có vẻ mang tính lo-gic, nhưng nó chỉ phục vụ tác động tâm lý cho các chính sách kinh tế. Do đó chính phủ luôn biết chọn lựa các chính sách có lợi cho nền kinh tế về lâu dài hơn là ích lợi ngắn hạn.”

*****
Khi chính phủ áp dụng các chính sách kinh tế vĩ mô, thì có các giá trị mà chính phủ hy vọng sẻ đạt được, nhưng bên cạnh đó có những giá trị vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính phủ. Vì vậy sự phân tích của mổi chính sách mới luôn mang giá trị lâu dài chẳn hạn như mức thuế tiêu dùng, thuế thu nhập, thuế nhập khẩu, thuế môi trường, thuế sử dụng đất đai, và thuế sang nhượng hay mua bán. Sự thay đổi của các loại thuế này sẻ kéo theo các kết quả kinh tế khác nhau. Ví dụ, chính phủ muốn hạn chế nhà đầu tư mua bán bất động sản trong thời gian ngắn, nên ra chính sách là không được chuyển nhượng tài sản trong vòng 3 tháng hay 6 tháng sau khi sở hữu tài sản đó. Và đóng mức thuế mua bán là 30% giá trị tiền lời giửa giá mua và giá bán, sẻ làm giảm hoạt động mua bán bất động sản. Đồng thời chính phủ tăng mức tiền lời cho các khoảng vay mua bất động sản, và giảm mức tiền lời cho các hoạt động vay vốn trong kinh doanh sản xuất. Đó là các giá trị thật khi một chính sách kinh tế mà chính phủ muốn thực hiện để quản lý các hoạt động kinh doanh trong thị trường.

Thị trường tài chính về tiền tệ mang hai giá trị – hiệu quả và không hiệu quả. Nếu gọi là hiệu quả thì những thông tin liên quan đến mức cung và cầu của lượng tiền trong và ngoài nước sẻ dẩn đến sự thay đổi về tỉ giá ngoại hối, lẩn giá cả các sản phẩm tiêu dùng trong nước. Mức lạm phát củng một phần do lượng tiền lưu thông nhiều, mà khả năng thay toán của chính phủ thấp. Mà chính phủ thường có sức mua thông qua ngân sách từ thuế, tiền lời đầu tư từ các nguồn vốn của chính phủ trong các hoạt động kinh tế, doanh thu từ các doanh nghiệp thuộc chính phủ, tiền thuê đất đất đai của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đó là lý do mà chính phủ phải quản lý số lượng tiền lưu thông trong nước để hạn chế mức lạm phát không vượt quá mức tăng trưởng của nền kinh tế. Ví dụ, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng một năm là 8%, thì mức lạm phát phải dưới 7%. Lý tưởng nhất là từ 1% đến 3% một năm. Vì có như vậy thì nhà đầu tư mới đầu tư vào thị trường Việt Nam lẩn mua trái phiếu và cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Nếu mức tiền lời là 10% một năm, và mức lạm phát là 5%, thì xem như nhà đầu tư chỉn lời khoảng 5%. Ngược lại, nếu mức lạm phát là 12%, thì xem như nhà đầu tư lổ 2% một năm. Do đó khi xét đến sự tăng trưởng của nền kinh tế, chính phủ luôn quan tâm đến các yếu tố sau: (a) mức tăng trưởng của GDP có lớn hơn mức lạm phát hay không, (b) mức lạm phát có nằm trong khoảng 1% đến 3% một năm hay không, (c) tỉ lệ tiết kiệm có vượt qua con số 20% một năm trên thu nhập bình quân của người dân hay không, (d) mức tăng trưởng của xuất khẩu tính theo tỉ lệ GDP là bao nhiêu, (e) tổng số vốn đầu tư của nước ngoài gia tăng số với năm trước là bao nhiêu và bao nhiêu phần trăm của GDP, (f) tỉ lệ vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh sản xuất là bao nhiêu, (g) tỉ lệ phần trăm của nền kinh tế sản xuất và dịch vụ tính theo mức GDP là bao nhiêu, lý tưởng là 60% đến 80%, (h) mức tăng trường của thu nhập người dân, (i) tỉ lệ người dân tốt nghiệp lớp 12 là bao nhiêu so với tổ số dân ở tuổi thành niên (trên 18 tuổi). Đó là các giá trị quan trọng cho các thông số để đánh giá nền kinh tế phát triển của thị trường Việt Nam.

Các nhà đầu tư Việt Nam thường chọn các dự án trong nước vì tin rằng lợi nhuận họ dể thu được hơn là đầu tư ở thị trường nước ngoài. Ngoài ra, các nhà đầu tư khai thác mọi cơ hội để kiếm lời nhuận thông qua việc sang nhượng đất đai, địa ốc, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên cho doanh nghiệp khác hay nhà đầu tư nước ngoài. Khi giá cả thay đổi do nhiều lý do, các nhà đầu tư Việt Nam sẻ tìm mọi cách mua bán các dự án đầu tư càng nhanh bao nhiêu, hay bấy nhiêu, vì họ chỉ cần có lợi nhuận là thực hiện các hợp đồng sang nhượng như vậy. Trong lúc đó có những nhóm tài chính quốc tế sẻ chuyển tiền ngoại tệ vào thị trường Việt Nam để khai thác cơ hội kiếm lời khi có sự trên lệch về giá cả khi thị trường biến động theo các cơn sốt giá. Nhưng phần lớn các cơn sốt giá do các nhóm đầu tư có số vốn vài trăm triệu USD mới có thể khống chế các giá cả biến động cả ở thị trường địa ốc, cổ phiểu, xí nghiệp sang nhượng, mua bán nguyên vật liệu và các dự án mua giấy phép kinh doanh.

Cán bộ quản lý của chính phủ và các quĩ đầu tư sẻ làm gì khi muốn thực hiện các mục tiêu sau có lợi cho nền kinh tế về lâu dài: (a) gia tăng GDP của Việt Nam, (b) gia tăng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, (c) gia tăng khả năng thanh toán của Việt Nam, (d) gia tăng khả năng sản xuất các mặt hàng chủ lực cạnh tranh với các quốc gia khác trong khu vực, (e) gia tăng lợi nhuận từ các thị trường phát triển trong khu vực và các thị trường công nghiệp phát triển. Muốn có được khả năng đánh giá của các mục tiêu trên, chính phủ phải có một đội ngủ chuyên viên hoạt động trên toàn thế giới, đặc biệc là có văn phòng đại diện tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Nga, Canada, Úc, Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải, Đài Loan, Ấn Độ, Anh, Pháp, Đức, Trung Đông, Bra-xin để thu hút nguồn vốn đầu tư và bỏ vốn đầu tư vào các quốc gia này. Lợi nhuận của các nhà đầu tư Việt Nam sẻ vượt ra các con số về lợi nhuận, vì nó còn mang giá trị ngoại giao và mở rộng thị trường ra toàn thế giới. Đó là lý do mà các quĩ đầu tư nên hình thành tại Việt Nam, vì ban quản lý quĩ đầu tư sẻ chọn các phương thức đầu tư khác nhau tại nhiều thị trường để hạn chế rủi ro thu lổ, và gia tăng khả năng lợi nhuận trong thời gian dài. Có nhiều giá trị lợi nhuận mà nhà đầu tư Việt Nam cần chú ý khi đầu tư ra nước ngoài: (a) mức thuế lợi tức giữa Việt Nam và thị trường đầu tư nước ngoài, (b) lệ phí khi mua bán cổ phiếu, trái phiếu và công phiếu của nước ngoài, (c) mức doanh thu khi có sự thay đổi của khả năng sản xuất tại thị trường nước ngoài.

Ngoài ngân hàng trung ương cho các hoạt động phân phối lượng tiền trong nước và tỉ giá lải xuất cho vốn vay và tiền tiết kiệm và các hoạt động giám sát tài chính, thị trường còn cần các loại ngân hàng như – ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Ngân hàng thương mại bao gồm hai loại ngân hàng – lẻ và sỉ. Ngân hàng thương mại lẻ sẻ phục vụ khách hàng là cá nhân, người tiêu dùng trong các thanh toán và gửi tiền. Còn ngân hàng thương mại sỉ sẻ phục vụ khách hàng là các doanh nghiệp, tập đoàn lớn và các loại cho vay có giá trị lớn. Tiếp theo là ngân hàng đầu tư nhận tiền đầu tư từ cá nhân và doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp vay vốn, mua bán trao đổi trái phiếu cho doanh nghiệp, quản lý đầu tư cho khách hàng, thu xếp các loại vốn vay, thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ, và các hoạt động khác. Các loại ngân hàng này tạo ra kết cấu xương sống của việc phân phối tiền tệ cho mọi hoạt động của một nền kinh tế. Mà hầu như cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, bệnh viện, trường học đều phải liên hệ đến các hoạt động thanh toán của ngân hàng. Không có ngân hàng thì nền kinh tế xem như bị tê liệt. Mọi người sẻ lệ thuộc nhiều vào tiền mặt hay một phương thức trung gian để mua bán là vàng, bạc hay quí kim. Tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế có thể nói do sự quản lý hiệu quả và khả năng cung cấp các loại dịch vụ tài chính phụ hợp cho từng đối tượng khách hàng giúp cho mọi hành vi hoạt động trong xã hội có thể thực hiện dể dàng. Nhất là các hoạt động này mang giá trị kinh tế và giá trị trao đổi trong mối quan hệ lâu dài cung cầu trong thị trường.

Nghiệp vụ mà các loại ngân hàng vừa nêu luôn có những giá trị cụ thể và tầm hoạt động hiệu quả khác nhau. Nhưng các trường đại học có thể liên hệ với các ngân hàng cùng thực hiện các chương trình thực tập và trao đổi giúp cho sinh viên tốt nghiệp dể dàng hòa nhập vào môi trường làm việc với hiệu quả nhất trong thời gian ngắn nhất. Các thành phố, tỉnh tại Việt Nam có thể phát triển hiệu quả hệ thống ngân hàng có vốn của nhà nước hay vốn tư nhân nhằm gia tăng lượng tiền tiết kiệm từ người dân củng như các doanh nghiệp trong nước. Số vốn này sẻ được phân ra nhiều loại vốn vay ưu tiên cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Việt Nam cần nối kết với các nền kinh tế lớn mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Úc, Ấn Độ, Pháp, Anh, Đức, Trung Đông cho việc gia tăng khả năng tiếp thị các loại tiềm năng tại thị trường Việt Nam. Khi nguồn vốn của các ngân hành Việt Nam tham gia vào các dự án nước ngoài sẻ giúp cho nền kinh tế xuất khẩu tiêu dùng và du lịch của Việt Nam phát triển ở tốc độ cao hơn và qui mô toàn cầu hơn.