Vietnam's Entrepreneurs


Nhà sáng nghiệp thường củng là nhà sáng lập của các doanh nghiệp. Khi hình thành một doanh nghiệp hay tạo ra một thương hiệu, họ sẻ tiếp tục phát triễn nó thành một công ty hay tập đoàn lớn, hay họ sẻ bán lại khi có người mua. Cả hai trường hợp đều tạo ra một môi trường kinh doanh sáng tạo và năng động.

Nhà sáng lập Việt Nam

Khi còn là học sinh lớp 10, 11, 12, đa số mọi người sẻ có những ước mơ cho công việc tương lai. Làm giàu là khái niệm cho công việc có mức thu nhập cao. Có nghĩa cá nhân có khả năng mua sắm nhiều thứ như xe gắn máy, xe hơi, nhà ở, các tiện nghi sinh hoạt trong nhà, đi du lịch nước ngoài, lập gia đình, nuôi con cái với nhiều loại tiền nghi khác nhau. Ước mơ làm giàu hầu như ai củng có, nhưng làm giàu thế nào là câu hỏi có nhiều đáp án, tùy theo khả năng của mỗi con người mà cơ hội có thể đến một lần hay nhiều lần.

Nếu nền kinh tế Việt Nam đạt con số 1000 tỉ USD trong năm 2040 hay 2050, thì trong đó hơn 50% hay 500 tỉ USD là tài sản do các doanh nghiệp tư nhân tạo ra. Mà doanh nghiệp tư nhân bao gồm các doanh nghiệp trẻ, biết sáng tạo và khai thác cơ hội làm giàu.

Hiện tại thị trường Việt Nam có các giá trị thuận lợi như sau:

Thuận lợi thứ nhất: Nguồn lao động có giá trị cạnh tranh cho các khu công nghiệp chế xuất và nhà máy gia công. Như vậy hằng năm sẻ có lượng người từ vùng nông thôn đổ về các thành phố lớn, khu chế xuất để tìm việc làm. Sự di chuyển lao động này tạo ra nhiều loại nhu cầu khác nhau: nhà ở, cung cấp thực phẩm, phương tiện giao thông, giải trí, và các sinh hoạt khác. Con cái của họ củng sẻ có nhu cầu về học hành và các sinh hoạt khác.

Thuận lợi thứ hai: đất đai cho việc phát triển các thành phố mới hoàn toàn không lệ thuộc vào các thành phố có tuổi trên 100 năm hay 300 năm. Các vùng đất này có thể giải quyết các vấn đề kẹt xe, ô nhiễm môi trường, hệ thống xử lý nước thải, mạng lưới điện, và xây dựng cơ sở hạ tầng mang tính phục vụ chung. Các thành phố mới này sẻ nằn trên trục lộ Bắc Nam nơi con đường cao tốc sẻ được thực hiện. Ngoài ra các thành phố này có thể thu hút vốn nước ngoài ở mức cao hơn với các ưu đãi về thuế và xử dụng đất đai là 50 năm hay 70 năm.

Thuận lợi thứ ba: Nguồn chất xám giá rẻ cho các ngành công nghệ thông tin, nghiên cứu, phát triển thị trường khai thác nguyên vật liệu, phát triển kỷ nghệ xe hơi, máy bay, đóng tàu, xe điện, máy cơ khí, máy công cụ, máy phục vụ nông nghiệp, dịch vụ tài chính. Các trường đại học trong nước sẻ liên kết với các đại học nước ngoài để nâng cao chất lượng giáo dục mà chi phí học thấp hơn là đi du học nước ngoài. Nhưng cán bộ lảnh đạo của các ngành giáo dục, phát triển đầu tư, xây dựng, khoa học công nghệ, viễn thông sẻ không quên giá trị cuốn gói và nâng cấp liên tục có nghĩa khi thu nhập của người lao động gia tăng và công việc nhiều, tự nhiên họ sẻ tìm công việc có mức lương cao hơn và bỏ công việc có mức lương thấp. Như vậy thị trường lao động Việt Nam sẻ chuyển dần sang thị trường nhân công có giá trị kiến thức và sáng tạo lớn hơn. Nhưng số lao động từ vùng nông thôn vẩn tiếp tục đổ về thành phố và khu chế xuất.

Thuận lợi thứ tư: Nguồn vốn lưu động tại Việt Nam chưa được khai thác triệt để vì mọi người chưa tin tưỡng vào hệ thống tài chính, thị trường chứng khoáng và hệ thống pháp luật hay phương thức thu thuế của chính phủ. Họ không dám đầu tư chính thức vì sợ chính phủ biết tài sản thật của họ. Đó là điều mà người dân Việt Nam còn bị ảnh hưởng của các giá trị văn hóa ngày xưa cho thói quen cất tiền, vàng, ngoại tệ ở nhà hơn là gửi tiết kiệm hay đầu tư. Khái niệm đầu tư bao gồm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Phần lới nhà đầu tư Việt Nam không dám mạo hiểm đầu tư vào thị trường nước ngoài, tạo ra sự yếu kém cho sản phẩm và tiềm lực phát triển cho các thương hiệu của Việt Nam. Muốn phát triển tại một thị trường như Hoa Kỳ, Nhật Bản, thì nhà đầu tư Việt Nam phải có những dự án lớn nhỏ khác nhau tại hai thị trường này. Nhà đầu tư và doanh nghiệp Việt Nam cần hiểu khái niệm vốn đẻ ra lợi nhuận, mà lợi nhuận phải lớn hơn mức lạm phát cộng với mức tăng trưởng GDP. Có nghĩa nếu mức lạm phát là 6%, mức tăng trưởng GDP là 8%, thì lợi nhuận đầu tư phải từ 15% trở lên. Ngoài ra các quỹ đầu tư có thu lệ phí từ 1% đến 5% cho tổng số tiền đầu tư, do đó lợi nhuận sẻ bị khấu trừ đi. Lý tưởng là mức lợi nhuận là 16% đến 20% một năm theo mức lạm phát là 6% và mức tăng trưởng GDP là 8% một năm.

Thuận lợi thứ năm: Vị trí giao thông thuận tiện tạo cho Việt Nam có giá trị du lịch cao, trạm trung chuyển cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Các quốc gia như Lào có thể gia tăng xuất khẩu thông qua tuyến đường sắt, đường bộ đi qua Việt Nam ra cảng và xuất đi nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển khu du lịch, khu nghĩ mát, khu an dưởng, khu chữa bệnh cao cấp cho du khách nước ngoài. Các sản phẩm như tàu thủy, công-ten-nơ, xe hơi, thiết bị công nghiệp, hóa chất, thủy sản, lâm sản, nông nghiệp có thể phát triển theo các qui mô khác nhau bằng vốn trong nước, vốn liên doanh hay vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Con đường cao tốc Bắc Nam sẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng cho tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2040 hay 2050. Ngoài ra nó sẻ giảm sự cách biệt về thu nhập, văn hóa, và điều kiện sinh sống giữa vùng nông thôn và thành thị trong thập niên tới. Các tuyến đường giao thông nối kết với truc lộ   Bắc Nam sẻ tảo ra các vùng đệm phát triễn kinh tế dọc theo chiều dài của quốc gia, do đó khả năng tăng trưởng GDP sẻ cao hơn khi hàng hóa và con người có thể di chuyển, đị lại thuận tiện hơn.

Thường tốc độ tăng trưởng GDP luôn gắn liền với tốc độ lưu thông hàng hóa, khả năng xử lý, vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu trong và ngoài nước. Nguồn lao động củng di chuyển theo nhu cầu thuê mướn trong quốc gia. Một giáo sư giỏi có thể giảng dạy hai lớp hay ba lớp khác nhau trong cùng một ngày tại ba đại học khác nhau ở Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh. Du khách nước ngoài sẻ dùng xe điện cao tốc đi du lịch trong các vùng có đường giao thông nối liền tuyến cao tốc Bắc Nam.

Thuận lợi thứ sáu: Giá trị lịch sử và tình hình chính trị trong khu vực tạo cho thị trường Việt Nam có tính ổn định tạo ra sự yên tâm cho hoạt động kinh doanh liên tục mà nhà đầu tư nước ngoài luôn tìm kiếm. Các xung đột và các mâu thuẩn mang giá trị lịch của các quốc gia nằm xung quanh Việt Nam sẻ tạo cho thị trường Việt Nam có thêm giá trị thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng Việt Nam cần thông qua các lãnh sự quán và các đại diện quốc tế để tổ chức các hội trợ, giao lưu văn hóa hay thể thao tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Pháp, Đức, Anh, Phần Lan, Dan Mạch, Hòa Lan, Thụy Điển, Ý, Tây Ban Nha, Úc, Đài Loan, Trung Quốc nhằm thu hút nguồn đầu tư. Nhưng nên chọn lựa đối tác và loại hình kinh doanh có lợi cho thị trường Việt Nam.

Thuận lợi thứ bảy: Nguồn tài nguyên chưa khai thác theo giá trị gia tăng. Thường chính phủ nhận ra giá trị của tài nguyên việc thông qua xuất khẩu thô, chưa chế biến để thu về nguồn ngoại tệ phục vụ cho các chương trình phúc lợi cho xã hội, an ninh quốc gia, đầu tư phát triển kinh tế. Nhưng để hiểu sâu thêm giá trị của việc khai thác nguồn tài nguyên trong nước, thì chính phủ sẻ có kế hoạch lâu dài cho việc khai thác nguồn tài nguyên theo nhiều giai đoạn. Khai thác tài nguyên như dầu khí, gổ, khoáng sản có giá trị hạn chế nhằm thu ngoại tệ để phát triển các ngành kinh tế khác nhau như gia công, chế biến sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước. Các ngành kinh tế này cần nhân lực có trình độ tay nghề, nghiệp vụ chuyên môn, thiết bị hiện đại, trình độ quản lý tốt, nguồn vốn sẳn có. Các giá trị này có thể nhận ra từ các quốc gia như Singapore, Hồng Kông, Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch đả thành công trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mang giá trị kinh tế cao từ hoạt động tài chính, chứng khoáng, sản xuất xe hơi, truyền hình phẳng, thiết bị dùng trong nhà, xe điện, thiết bị viễn thông, nhà máy điện, đóng tàu, thiết kế phần mềm, máy phát điện, các loại dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin cho khách hàng toàn cầu. Có nghĩa Việt Nam có vốn khởi điểm là tài nguyên, và dùng nó cho việc phát triển các ngành kinh tế tiêu dùng, thực phẩm chế biến, dịch vụ, sản xuất máy móc thiết bị và chọn một hay ba loại ngành công nghệ có nhu cầu cao trong tương lai để tập trung đầu tư và phát triển cho lợi nhuận cao.

Lợi thế này cần có kế hoạch đầu tư và phát triển hiệu quả cho số vốn ngoại tệ mà Việt Nam thu được từ xuất khẩu dầu khí, nguyên liệu quặn thô, thủy sản và nông sản. Các giá trị nguyên liệu này vẩn đóng góp phần nhỏ cho GDP của Việt Nam. Các giá trị tiềm năng là biến chuyển vốn, lợi nhuận từ xuất khẩu dầu khí, nguyên liệu thô sang phát triển các ngành công nghiệp có sử dụng kỷ nghệ cao, kiến thức chuyên môn, và khả năng mở rộng ra thị trường nước ngoài. Hàng năm chính phủ và tư nhân nên hổ trợ học bổng cho các chương trình du học nước ngoài trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trong các ngành khoa học công nghệ, hóa sinh, dược phẩm, vật lý, kinh tế, cơ khí, hàng không. Đồng thời thành lập các trung tâp nghiên cứu công nghệ cao có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Các trung tâm này sẻ tạo ra thế mạnh cho nền kinh tế của Việt Nam trong tương lai.

Nếu các bạn trẻ biết chọn ra các bước phát triển cuốn gói và gia tăng giá trị theo từng giai đoạn thì cơ hội làm giàu sẻ rất lớn. Mức tiêu thụ tại các thị trường như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Đông Âu, Châu Phi, Nam Mỹ, Úc, Nam Triều Tiên có giới hạn. Tức là doanh nghiệp Việt Nam phải giành thị trường từ các đối thủ cạnh tranh từ Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Philippine cho việc cung cấp sản phẩm có chất lượng cao hơn, mẫu mả đẹp hơn, giá thành rẻ hơn.

Các sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp sẻ là các sản phẩm mà các đối thủ cạnh tranh đang cung cấp cho các công ty bán lẻ tại các nước vừa nêu trên. Muốn biết khả năng sản xuất sản phẩm nào, thì các doanh nghiệp Việt Nam chỉ cần đi khảo sát thị trường tại các tiệm bán lẻ của Wal-Mart, Target, Bestbuy, Macy’s, JCPenny, và các công ty khác, hay các công ty bán lẻ của Nhật Bản và các quốc gia khác, sẻ có danh sách các sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam có thể gia công, chế tạo và cung cấp cho các đối tác nước ngoài. Ngoài ra thông qua du khách nước ngoài đi du lịch tại Việt Nam để quảng cáo sản phẩm Việt Nam một cách hiệu quả.

Từ Bảy Thuận Lợi hay Lợi Thế vừa kể trên, các bạn trẻ Việt Nam nên nghiên cứu thị trường, khai thác thị trường, thành lập doanh nghiệp, quản lý doanh nghiệp, nghiên cứu cải tiến sản phẩm dịch vụ cho từng loại thị trường mà doanh nghiệp của mình phục vụ:

Thị Trường Quảng Cáo: Sản phẩm của Việt Nam cần có sự quảng cáo hiệu quả trong và ngoài nước.

Trị Trường Kinh Doanh Đầu Tư Tài Chính: Vốn nên được đầu tư có sự áp dụng khoa học, toán xác xuất, phân tích và chọn lựa tại thị trường trong và ngoài nước.

Thị Trường Công Nghệ Thông Tin: Lập trình cho các ứng dụng tài chính, doanh nghiệp, y tế, điện thoại di động, chương trình ảo luôn có nhu cầu cao tại nước ngoài. Tạo ra môi trường làm việc ảo nối kết với khách hàng trong và ngoài nước, hoạt động 24 giờ một ngày chia theo ca làm việc.

Thị Trường May Mặc và Gia Công: Liên hệ và giới thiệu khả năng cho các nhà tiêu thụ tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu nhằm cung cấp sản phẩm và giới thiệu sản phẩm.

Thị Trường Điện Toán, Điện Tử Gia Dụng và Văn Phòng: Các công ty Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu đang cần nguồn gia công, trung tâm nghiên cứu, và cung cấp linh kiện. Khả năng của Việt Nam rất lớn.

Thị Trường Công Nghiệp Nặng: Phát triển công nghiệp đóng tàu, công-ten-nơ, xe hơi, thiết bị công nghiệp, máy chuyên dùng cho nông nghiệp. Tạo ra công ăn việc làm và tạo ra sản phẩm cạnh tranh với các công ty nước ngoài. Trình độ chuyên môn, công nghệ, thiết kế, tiếp thị quảng cáo là các bước giúp cho các doanh nghiệp nhà nước đầu tư và phát triển trong các ngành công nghiệp này.

Thị Trường Giáo Dục và Phát Triển Nông Nghiệp: Sự bảo hoà của một thị trường khi có quá nhiều doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp sản phẩm hay dịch vụ. Như vậy nơi nào mà có ít nhà đầu tư, củng như chưa có ai tham gia là nơi có cơ hội làm giàu cao nhất.

Trong các thị trường kể trên, các bạn trẻ sẻ tự chọn ra cơ hội cao nhất cho mình cho sự thành công dựa trên các bài toán đơn giản sau:

1)      Mình là người đầu tiên hay cuối cùng có ý tưởng này
2)      Ai sẻ dùng sản phẩm của mình
3)      Thời gian xử dụng là bao lâu
4)      Số lượng tiêu thụ bao nhiêu là lấy lại vốn và tạo ra lợi nhuận
5)      Quảng cáo thể nào gia tăng tiêu thụ hay dùng bạn bè, người quen, khách hàng quảng cáo giùm, quảng cáo qua mạng, internet, điện thoại di động, báo chí
6)      Khi thành công rồi, qui mô kinh doanh có mở rộng hay cần vốn như thế nào
7)      Nhân viên, người cộng tác sẻ ủng hộ hay trung thành với dự án của mình đến bao lâu

Khi nhà lãnh đạo, nhà sáng lập có câu trả lời, và tìm ra người tiêu thụ loại sản phẩm hay dịch vụ sẻ cung cấp, đó sẻ là bước thành công đầu tiên. Nhưng bước tiếp theo là gì? Khả năng quản lý sẻ giúp bạn biết động viên nhân viên của mình đóng góp nhiều hơn trong mọi kế hoạch. Bạn không nên tự ái khi nhân viên có ý kiến khác với mình. Họ là người mà mình thuê mướn để làm việc cho mình. Nhiệm vụ của họ là đóng góp cho doanh nghiệp lớn mạnh, chứ không phải là nịnh bợ hay nói theo ý của mình. Bạn là người quyết định sau cùng, nhưng bạn nên nghe ý kiến của nhân viên mình, vì từng ý kiến đó sẻ giúp bạn thành công nhiều hơn. Bạn không thể nào nắm bắt mọi vấn đề cụ thể, do đó phải lắng nghe ý kiến của nhân viên của mình.

Có hai loại doanh nghiệp: người bỏ vốn củng là nhà quản lý, và người bỏ vốn thuê nhà quản lý. Bạn sẻ nằm một trong hai trường hợp đó khi bạn thành lập một doanh nghiệp. Khi qui mô kinh doanh càng lớn, bạn phải thuê nhà quản lý chuyên môn, vì họ có kiến thức bao quát có thể điều phối tài nguyên hiệu quả hơn. Hơn nửa bạn nên hệ thống hóa mọi hoạt động của doanh nghiệp, như vậy giúp cho doanh nghiệp của bạn hoạt động hiệu quả hơn. Các ý kiến và sự thành công của từng cá nhân nên được trao đổi và phổ biến để mọi nhân viên trong doanh nghiệp cùng tiếp thu và nâng cấp trình độ khả năng của họ trong thời gian nhanh nhất. Không nên cô lập hay chia nhóm tạo ra mâu thuẩn trong doanh nghiệp là thất thu nguồn tài nguyên của doanh nghiệp.

Bảy dự án này có thể do vốn của cá nhân, hợp tác với đối tác, vay vốn hay phát hành cổ phiếu tại thị trường chứng khoán.

1)      Khả năng tạo công việc cho thị trường nội địa lâu dài và ổn định
2)      Sử dụng tài nguyên có sự bù lổ cho việc khai thác, nhằm gia tăng thời gian sử dụng
3)      Thời gian cấp quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài
4)      Thu hút vốn, công nghệ, chuyên gia từ nước ngoài nhằm gia tăng năng lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa
5)      Trao dồi, nâng cấp khả năng quản lý, kiến thức chuyên môn, và khả năng phát xét và quyết định có qui mô toàn cầu cho các doanh nghiệp có giá trị trên 1 tỉ USD
6)      Mức vốn đầu tư trong nước, mức vốn đầu tư nước ngoài, quyền quản lý doanh nghiệp liên doanh.
7)      Giá trị an ninh quốc phòng cho các dự án lâu dài, có vốn lớn, thời gian sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, sử dụng cảng.
8)      Khả năng tạo ra sức mạnh kinh tế tính theo % của GDP

Hiện tại thị trường Việt Nam rất dồi giàu nguồn vốn, nhưng mọi người vẩn không có niềm tin cho việc cho phương thức kinh doanh và đầu tư như việc ngân hàng quản lý vốn chưa hiệu quả. Hay số lượng công ty tài chính, công ty đầu tư mang tính kế toán minh bạch, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và người gửi tiền. Nếu nguồn vốn nằm yên một chổ không sinh ra lợi nhuận thì đó là một thiệt hại cho người sở hữu vốn. Phần đông các bạn trẻ có những suy nghĩ khác nhau khi muốn làm giàu. Công thức của làm giàu có thể rút gọn như sau:

1)      Sáng kiến +  thực hiện = thành công ớ mức độ thấp
2)      Thành công ở mức độ thấp + vốn + phương thức mới = thành công ở mức độ cao
3)      Thành công ở mức độ cao + vốn + phương thức mới + thị trường mới = thành công toàn cầu

Ba công thức này có chung một điểm là vốn: do huy động từ bản thân, gia đình, người quen, hay nhà đầu từ, sau đó là niêm yết lên thị trường chứng khoáng. Ba công thức này có sự cải thiện là phương thức kinh doanh và công nghệ nâng cấp theo từng giai đoạn. Cổ phần hóa củng mang giá trị giảm rủi ro, tăng sự đóng góp của đối tác trong việc quản lý doanh nghiệp.

Hiện tại Việt Nam có nhiều lợi thế về thị trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Khả năng khai thác vốn nước ngoài trong từng loại hình kinh tế chuyên môn cao. Đất nông nghiệp, công nghiệp sẻ được phát triển theo sự liên doanh với các tổ chức nước ngoài hay do tư nhân trong nước quản lý với đội ngủ chuyên gia nông nghiệp, công nghiệp đả đi tu nghiệp tại các quốc gia tiên tiến cho công nghệ cáy ghép gen cho cây trồng lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc có năng xuất cao cho thịt heo, thị bò, thịt gà, trứng, bơ, các loại hải sản và thuỷ sản có thể nuôi trong các trại nhân tạo lớn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chính phủ hướng dẩn các nông dân, nông trại trong nước tham gia các chương trình tu nghiệp huấn luyện nước ngoài để nâng cao hiệu xuất, công xuất, chất lượng, giá trị của sản phẩm nông nghiệp, thịt cá, trái cây, bơ, cà phê, đường, sữa, bánh, kẹo, bia, nước giải khác, thuốc y dược cho nhu cầu thị trường nội địa và nước ngoài. Vệ sinh thực phẩm, công nghệ sản xuất, đóng bao bì, bảo quản sẻ theo tiêu chuẩn quốc tế. Mà tất cả cần vốn trong nước hay nước ngoài luôn cần đội ngủ chuyên viên có trình độ chuyên môn cao cho việc phát triển các mục tiêu lâu dài.

Chất lượng hình thức và nội dung gia tăng dần theo mức thu nhập của người tiêu dùng. Do đó chất lượng và nội dung của sản phẩm và dịch vụ cho xuất khẩu sẻ luôn là mục tiêu ưu tiên hàng đầu cho các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn thâm nhập thị trường nước ngoài như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, Nga, Nam Triều Tiên và các quốc gia ASEAN.

Chính phủ củng sẻ quan tâm trong việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng là trụ cột cho nền công nghiệp tiêu dùng và xuất khẩu cho sự sống còn của nền kinh tế Việt Nam. Các trường đại học có nhiều giải pháp nâng cấp trình độ đào tạo bằng việc mời giáo sư nước ngoài đến giảng dạy theo trương trình hợp tác hay viện trợ nước ngoài để giảm kinh phí trả lương cho giáo sư nước ngoài. Khuyến kích sinh viên Việt Nam đi tu nghiệp trong các ngành chủ đạo như tài chính, kế toán, thiết kế xe hơi, cơ khí, điện tử tiêu dùng và viễn thông, kỷ sự công nghệ thông tin, kỷ sư công chánh, kỷ sư cầu đường, kiến trúc sư, ky sư hóa sinh, bác sĩ y khoa, dược sĩ, chuyên gia về môi trường, kỷ sư đóng tàu, kỷ sư về xe điện, kỷ sư về thiết kế máy bay, kỷ sư về nghiên cứu chất bán dẫn và các loại siêu vật liệu, kỷ sư về quản lý vận chuyển, phân bố vật tư, quản lý cầu cảng, hệ thống xe điện, lưu lượng giao thông, kỷ sư vệ gia công chế biến thực phẩm. Đó là các ngành mà thị trường Việt Nam đang cần. Phần đông sinh viên đi du học tự túc cho mưu sinh với thu nhập cao ở nước ngoài hay việc làm khi về nước. Một số nhận học bổng của nước ngoài, hay do chính phủ Việt Nam đài thọ. Hiện tại thị trường Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ cho việc phát triển các ngành nghề kinh tế trong nước đi kèm với số lượng sinh viên tốt nghiệp tại các đại học nước ngoài nhằm thu hẹp kiến thức sự khác biệc giữa kiến thức khoa học và kỷ thuật công nghệ ứng dụng trong nước so với các quốc gia trong khu vực và quốc tế. Bên cạnh đó khả năng quản lý vốn đầu tư tại thị trường tài chính, cổ phiếu, đầu tư quốc tế, khả năng quảng cáo, tiếp thị, thiết kế, đóng gói, bao bì luôn mang giá trị cạnh tranh toàn cầu. Do đó chính phủ cần quan tâm nhiều hơn.

Khai thác thông tin toàn câu cho mục tiêu phát triển kinh tế là điều nên làm lúc này. Vì thông tin ngày nay là chìa khóa của sự thành công. Của an ninh quốc gia. Ý tưởng của việc tạo ra môi trường thông tin cho các doanh nghiệp và nguồn lao động Việt Nam tạo ra sản phẩm, dịch vụ ưu việc toàn cầu. Đó là công cụ hiệu quả cho cạnh tranh đa quốc gia có chi phí thấp nhất và hiệu quả nhất. Tiếp theo là khả năng khai thác thị trường tài chính, tín dụng và dịch vụ tiêu dùng. Nguồn tài chính là huyết mạch của nền kinh tế, nguồn tín dụng gia tăng khả năng vận dụng vốn tạp thời cho các giao dịch mua bán và trao đổi. Tạo ra môi trường dịch vụ hiệu quả nhằm gia tăng khả năng tiêu thụ của người tiêu dùng, gia tăng kiến thức cho công việc và quản lý tài chính, nâng cao phương thức giải trí, sinh hoạt lành mạnh. Người lao động sẻ cống hiện nhiều sáng kiến khi tinh thần làm việc của họ thoải mái và lạc quan.

Giá trị lợi ích thường có hai phạm trụ là cá nhân và tập thể. Mà xã hội Việt Nam ngày nay luôn gắn liền hai phạm trù lợi ích này lại với nhau. Có nghĩa một cá nhân là thành viên của một tập thể sẻ có trách nhiệm đóng góp cho tập thể, và đổi lại là nhận phần thưởng cho đóng góp của mình đó là lợi ích cho cá nhân. GDP của Việt Nam tăng trưởng, doanh thu của doanh nghiệp tăng trưởng, sản xuất ra hàng chất lượng cao, bảo đảm dịch vụ có chất lượng là lợi ích chung của tập thể, quốc gia. Lương bổng, tiền thưởng là giá trị nhận được mà cá nhân đả đóng góp cho tập thể. Do đó, cán bộ quản lý sẻ nhận ra hai phạm trù lợi ích của cá nhân và lợi ích của tập thể không thể tách rời ra được. Hiện tại, cán bộ tại các doanh nghiệp và cơ quan chức năng thường có nhận xét sau: (a) lợi ích tập thể đi trước lợi ích cá nhân trên lý thuyết, (b) thực hiện lợi ích cá nhận trước, rồi thực hiện lợi ích tập thể sau trong thực tế. Hai khái niệm này chính là tác động cho các hiện tượng như hối lộ, tham nhủng.

1)      Thông tin là giá trị không biên giới trong mọi làm ăn kinh tế và giao dịch quốc tế. Không nên tin tưởng vào các trung gian khi họ đưa ra mức huê hồng nào đó mà nên tìm hiểu các chọn lựa mang tính lâu dài cho cả lợi ích cá nhân và tập thể. Kiến thức kinh tế và tiêu chuẩn chọn nhà thầu và tìm đối tác trong mọi giao dịch nên được áp dụng.

2)      Các dự án lớn, các đối tác nên mở tài khoảng bảo chứng cho khả năng tài chính để thực hiện dự án như thảo thuận. Ngân hàng lớn là nơi mà các đối tác nên giao dịch

3)      Qui mô kinh doanh và hợp tác kinh tế sẻ giúp Việt Nam vượt qua các chỉ tiêu kinh tế ở qui mô nhỏ thành các mục tiêu kinh tế có qui mô lớn. Các dự án trong nước có liên quan đến các dự án quốc tế dựa trên các mối quan hệ: xuất khẩu, khả năng cung ứng các dịch vụ và sản phẩm cho khách hàng và sự cạnh tranh về giá giữa các đối thủ cạnh tranh trong nước.

4)      Muốn làm giàu thì không khó, nhưng làm sao thực hiện ý tưởng thành thực tiển thông qua các áp dụng chính sách kinh tế, quản lý doanh nghiệp, quản lý đầu tư, phát triễn kinh doanh, sản phẩm hiệu quả. Đồng áp dụng khoa học và toán học vào trong các dự án quốc tế và toàn cầu. Thị trường địa ốc hay cổ phiếu có giá trị khi Việt Nam hội đủ các yếu tố sau: (a) sự tăng trưởng GDP ổn định vược 8% một năm, mức lạm phát dưới 4% một năm, mức thu nhập xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ được cải thiện và gia tăng theo mức sống của người dân, mức đầu tư và khai thác của vốn trong nước và tại thị trường hải ngoại, giá trị đóng góp của nền kinh tế Việt Nam vào các nền kinh tế trong khu vực và toàn cầu. Khi đầu tư mang tính trục lợi, sẻ chôn vốn và gây ra nguy hại cho nền kinh tế. Trung Quốc hạn chế việc mua bán tại thị trường địa ốc qua mức thuế, lượng tiền mặt tại ngân hàng, mức tiền lời cho vay vốn mua nhà hay đầu tư bất động sản, và luật sang nhượng hay sở hữu. Cả thị trường địa ốc và chứng khoán luôn mang giá trị “cờ bạc” ở mức qui mô lớn. Do đó chính phủ nên có nhiều biện pháp để quản lý hiệu quả vốn, thuế thu nhập và các luật kinh doanh và kinh tế.

5)      Giá trị vốn và trí tuệ của Việt Nam sẻ được khai thác triệt để vược qua các giá trị thu nhập từ doanh thu của dầu thô, khí đốt, mỏ quặn, hải sản, nông sản, lâm sản và các vật liệu thô khác. Các giá trị mà Việt Nam cần khai thác là kinh tế dịch vụ, kinh tế gia công, kinh tế nghiên cứu thiết kế, kinh tế du lịch, và kinh tế thuê mướn kho bải và vận chuyển.

6)      Hàng năm Việt Nam cần có nguồn lao động tiêu chuẩn quốc tế tốt nghiệp từ các đại học nước ngoài ở mức không dưới 50,000 sinh viên. Sinh viên tốt nghiệp sẻ về nước để gia tăng tốc độ phát triển kinh tế dịch vụ và kinh tế đòi hòi nhiều trí tuệ và vốn và công nghệ cao. Nhưng nguồn chất xám mà họ mang lại cần có môi trường phát triển và khai thác. Mà phần đông các công ty đa quốc gia thường thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ và sản phẩm mới tại các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Nam Triều Tiên. Họ muốn khai thác nguồn tri thức giá rẻ nhưng chất lượng cao. Ở Việt Nam các trung tâm như vậy có thể nằm trong khuôn viên của đại học hay một trong tâm riêng cho việc phát triển công nghệ và sản phẩm mới do nguồn vốn đóng góp của chính phủ, nhà đầu tư nước ngoài, tư nhân trong nước. Chính phủ có thể khuyến khích các mạnh thường quân hay doanh nhân thành công đóng góp phần nào tài sản của họ cho việc phát triển các trung tâm này. Họ có thể tài trợ các dự án nghiên cứu tại các đại học, bệnh viện hay nhóm nghiên cứu riêng. Họ củng nhận ra khả năng của sự sáng tạo, công nghệ mới trong nước sẻ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội khai thác lợi nhuận cao hơn.

7)      Các loại quỹ đầu tư của nhà nước và tư nhân sẻ giúp nền kinh tế Việt Nam gia tăng ở tầng số cao trong vòng 20 năm tới. Nó sẻ hoạt đồng cùng lúc tại thị trường nội đia và nước ngoài theo các lợi ích lâu dài. Các loại quỹ đầu tư mang nhiều giá trị mà chính phủ Việt Nam chưa phát triển và khai thác hoàn toàn. Các loại quỹ này còn giúp hàng hóa của Việt Nam có thể thâm nhập và tiêu thụ nhiều hơn tại các thị trường trên thế giới. Cánh cửa mậu dịch luôn cần có người hổ trợ ở nước ngoài, đó là lý do tại sao Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Triều Tiên, Nhật Bản và các quốc gia khác đả có thể gia tăng sự giàu có trong các thập niên qua.

Cánh cửa phát triển mậu dịch và tạo ra lợi nhuận to lớn cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam luôn nằm trong các giá trị khác thác cơ hội, phát triển tiềm năng. Khi GDP của Việt Nam lớn hơn 1000 tỉ USD, thì điều đương nhiên mà các doanh nhân trẻ trẻ nhận ra, trong đó không có ít hơn 10 người có tài sản trên 1 tỷ USD. Trung Quốc có GDP khoảng 5.8 ngàn tỷ USD, trong đó có khoảng 115 nhà tỷ phú. Mà trong số 70 thành viên quốc hội của Trung Quốc có tài sản khoảng 75 tỷ USD. Nếu thị trường Việt Nam có 100 nhà triệu phú và 10 tỷ phú tính theo USD, thì các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam nên tham gia vào việc thành lập quĩ đầu tư quốc tế với qui mô tăng dần theo thời gian.

Các bạn trẻ và doanh nghiệp Việt Nam nên đi tham quan và khảo sát thị trường Nhật Bản để nhận ra các giá trị mậu dịch mà hai quốc gia có thể khai thác trong các thập niện sắp tới. Thị trường Hoa Kỳ củng là đích đến cho các cán bộ và doanh nghiệp Việt Nam, bởi vì muốn bán hàng nhiều hơn vào thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản hay thu hút nguồn vốn đầu tư và công nghệ của Hoa Kỳ và Nhật Bản, thì cán bộ và doanh nghiệp Việt Nam cần ít nhất ba yếu tố: sở hữu bất động sản và cổ phiếu của Hoa Kỳ, Nhật Bản và thiết lập các cầu nối văn hóa và kinh tế tại Hoa Kỳ. Riêng Nhật Bản, cán bộ Việt Nam và các doanh nghiệp nên đầu tư vào các dự án liên quan đến du lịch và công nghệ phát triển cơ sở hạ tầng và tiêu dùng và tài chính. Ngoài ra sẻ hiểu hơn về Nhật Bản, xứ sở của Hoa Anh Đào, của món Sushi, món Natto, của Shinkansen, tắm suối nước nóng, món lương nướng (uragi), trà đạo, đền thần đạo (Shinto Shrine) và chùa (otera), và các khu giải trí khác. Các công ty Nhật Bản sẻ cần thị trường Việt Nam cho việc gia tăng khả năng sản xuất của họ trong thời gian tới. Dù cho thiên tai vừa rồi gây thiệt hại cho nước Nhật hơn 150 tỉ USD về vật chất, và 650 tỉ USD của thị trường chứng khoáng, và hơn 20 ngàn người mất tích và thiệt mạng, nhưng Nhật Bản vẩn tiếp tục phát triễn theo nhiều khía cạnh về kinh tế và xã hội. Chính phủ Việt Nam cần gia tăng mối quan hệ ngoại giao, kinh tế, mậu dịch, văn hóa, giáo dục với Nhất Bản trong giai đoạn 2012-2050 và Hoa Kỳ, Cộng Đồng Chung Châu Âu.

Muốn có nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam, thì điều trước tiên là các loại quỹ đầu tư nên hình thành và phát triễn tại Việt Nam. Ngoài ra, lãnh sự quán của Việt Nam cần có nhân viên chuyên khai thác và phân tích thị trường địa phương tại quốc gia mà họ làm việc. Sau đó cung cấp hay thành lập các hội thảo trong nước khuyến khích doanh nghiệp trong nước sang các thị trường này khai thác sản phẩm và dịch vụ. Như vậy doanh nghiệp trong nước sẻ giảm đi phần rủi ro khi muốn thâm nhập vào thị trường lạ, chưa biến đến bao giờ.

Doanh nghiệp với tầm nhìn xa và các quỹ đầu tư đa chiều sẻ phát triển kinh tế sản xuất và tiêu dùng tại thị trường trong và ngoài nước theo các giá trị ổn định và chủ động. Có nghĩa chủ động việc tiềm kiếm khách hàng, tiềm kiếm thị trường và nhà đối tác cho các dự án lâu dài. Sự hợp tác trong kinh doanh sẻ giúp doanh nghiệp và quỹ đầu tư khai thác triệt để lợi nhuận trong và ngoài nước. Kinh tế du lịch và dịch vụ sẻ tạo ra thu nhập to lớn cho kinh tế địa phương, nhưng cần có kế hoạch cụ thể để phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa và môi trường thiên nhiên. Nền giáo dục là chìa khóa quan trọng cho việc nâng cấp khả năng phát triển kinh tế qui mô cục bộ và địa phương thành qui mô toàn cầu và cấp tiến.

Việt Nam có thể học ra bài học từ Mexico, quốc gia nằm ở phía nam biên giới của Hoa Kỳ, nhưng có mức GDP là 1004 tỉ USD trong năm 2010, mức GDP đầu người là khoảng 13 ngàn 800 USD. Như vậy Việt Nam có thế khai thác giá trị của thị trường Trung Quốc đang tăng trưởng để gia tăng tốc động tăng trưởng GDP của mình trên 10% một năm. Doanh nghiệp Việt Nam phải biết sản xuất ra loại sản phẩm nào cho Trung Quốc, giá như thế nào, cạnh tranh như thế nào thì mới gia tăng được mức xuất khẩu thặng dư trong các năm sắp tới. Người tiêu dùng Việt Nam khi mức thu nhâp gia tăng, thường có thói quen mua hàng hóa mắc tiền nhập từ nước ngoài. Điều này là một trong các nguyên nhân gây ra lạm phát và giảm tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam. Khái niệm người Việt dùng hàng Việt là cần thiết khi nền kinh tế Việt Nam đang cần nihều vốn phát triển trong và ngoài nước theo tỉ lệ có lợi cho sự phát triển kinh tế theo chiều rộng, và khả năng phát triển công nghệ theo chiều sâu. Mức xuất khẩu so với mức nhập khẩu phải luôn luôn theo công thức 2/1, 3/2, 4/3. 5/4, 6/5 hay tỉ lệ dương càng lớn thị càng tốt. Nhưng phải phân chia ra nhiều loại thị trường vì giảm rủi ro khi một thị trường bị đóng băng hay khủng hoảng. Có nghĩa hàng hóa của Việt Nam phải xuất khẩu đi tất cả 5 châu lục, và luôn luôn có sự thay đổi thích ứng theo từng chuẩn loại nhằm tạo ra sự cách biệt cho khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam.

Nếu có cơ hội đóng góp cho Việt Nam, tôi sẻ cố gắng thực hiện điều đó với sự giúp đở của các doanh nghiệp trong nước. Mỗi con người có điều kiện và hoàn cảnh đặc biệc cống hiến phần nào đó cho xã hội. Công nghệ và khoa học ứng dụng là một di sản hiện tại và tương lai, nó thay đổi theo thời gian trước sự đóng góp của các thành viên trong xã hội. Các doanh nghiệp trẻ sẻ có thể làm giàu bằng trí tuệ, sự sáng tạo của mình trong tương lai.