Estates

Khi nói đến thị trường địa ốc, mọi người nghĩ đến việc mua bán đất đai, nhà cửa, hảng xưởng, văn phòng cho thuê và sang nhương việc sử dụng mặt bằng cho việc kinh doanh hay sản xuất. Tiếp theo là lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất là 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng. Có nghĩa người mua luôn mong rằng sẻ cón người mua khác sẳn sàng mua lại khoảng đầu tư của mình trong thời gian ngắn nhất. Với tâm lý đó có sự chạy đua mang tính đầu cơ, cơ hội thông qua việc vay vốn ngân hàng trở thành một phong trào nhà nhà, người người cùng mua bán nhà, đất dưới nhiều hình thức và qui mô lớn nhỏ khác nhau. Doanh nghiệp lớn thấy lợi nhuận ngắn hạn quá dể dàng, nên củng nhảy vào cuộc thông qua việc thu gom dự án hay huy động vốn với qui mô lớn để tạo ra các dự án xây dựng nhà ở, khu vui chơi tổng hợp, trung tâm mua sắm, văn phòng cho thuê. Người dân củng tranh thủ góp vốn cá nhân, gia đình, bạn bè cho việc đầu tư mua bán đất và nhà. Còn trường hợp nếu có mối quen biết với ngân hàng sẻ dể mượn tiền mà không có thế chấp nào hết. Các câu chuyện tương tự không phải chỉ có tại Việt Nam, mà đả xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới và đặc biệt là Châu Á. Tại sao các doanh nghiệp lớn, nhỏ và vừa củng như các cá nhân phạm sai lầm là đầu tư quá nhiều vào địa ốc mà không biết dùng vốn vào hoạt động kinh doanh cho xuất khẩu, tiêu dùng, dịch vụ?

Câu trả lời rất đơn giản:

  1. Việt Nam chưa có thói quen dùng phương pháp thống kê cho qui mô tăng trưởng của cung và cầu theo nghĩa – người tiêu dùng có mức thu nhập gia tăng thì khả năng mua sắm của họ gia tăng
  2. Việt Nam chưa có hệ thống quản lý nguồn vốn, tài sản của người dân thông qua mức thu thuê cá nhân hàng năm. Do đó không ai biết rỏ khả năng chi tiêu, mua sắm của toàn bộ 90 triệu người. Theo nghĩa có bao nhiêu người thu nhập dướng 3000 USD một năm, có bao nhiêu người thu nhập từ 3000 USD đến 7000 USD, có bao nhiêu người thu nhập từ 7000 USD đến 12.000 USD, có bao nhiêu người thu nhập từ 12.000 USD đến 18.000 USD, từ 18.000 USD đến 22.000 USD, từ 22.000 USD đến 30.000 USD, và các nhóm thu nhập cao hơn trong khoảng công gia tăng 10.000 USD đến 20.000 cho các nhóm tiếp theo. Các sản phẩm cao cấp luôn chỉ phục vụ nhóm khách hàng thu nhập cao có thể từ 1 triệu USD một năm trở lên, nhưng con số chính xác sẻ không có. Vì vậy nhà đầu tư chỉ ước chừng và xây dựng nhà cao cấp, villa sang trọng với hy vọng là bán cho khách hàng trong và ngoài nước.
  3. Chính phủ không hạn chế việc kinh doanh bất động sản mang tính chuyên môn. Có nghĩa muốn kinh doanh bất động sản, cá nhân hay doanh nghiệp phải đăng ký giấy phép, ký quỹ bảo chứng, thi lấy bằng kinh doanh bất động sản cho việc am hiểu các thủ tục pháp lý, cách quản lý dự án.
  4. Hạn chế công ty ảo chia mua hợp đồng trên giấy tờ hay miệng rồi bán sang tay kiếm lời
  5. Khi muốn phát triển đô thị mang tính hệ thống và phát trình theo khả năng mở rộng công trình cho việc phục vụ mức dân số gia tăng, chính phủ nên tạo ra các nguyên tắc xây dựng nhà ở đi kèm với qui mô xây dựng đường giao thông, hệ thống thoát nước, cung cấp nước, mạng lưới điện, mạng lưới điện thoại, mạng internet có khả năng nâng cấp khi dân số gia tăng trong tương lai.
  6. Không cho phép bán nhà khi công trình chưa hoàn thành hay các điệu kiện sinh hoạt, kinh doanh chưa được đáp ứng theo tiêu chuẩn đồng bộ mà chính phủ qui định. Cho dù có sự độc lập trong cách quản lý của 63 tĩnh và 4 thành phố, mọi qui định về xây dưng, qui hoạt đô thị, phát triển kinh tế, xây dựng đường cầu, cầu vượt, mức đền bù giải phóng mặt bằng luôn có sự thống nhất toàn quốc. Có nghĩa giá đền bù chỉ khác nhau tính theo giá thị trường tại địa phương đó, Còn kỷ thuật chuyên môn và các thủ tục xây dựng, mua bán, đóng thuế, thi công phải giống nhau.
  7. Xây dựng nhà, văn phòng cho thuê, khách sạn, trung tâm mua sắm, hảng xưởng giống như việc sản xuất xe hơi, luôn cần có người mua hay sử dụng dịch vụ của mình. Nếu mức cung quá nhiều, cao hơn mức cầu thì giá sẻ tựng động hạ dần để tạo điều kiện cho người chưa có khả năng mua sẻ tìm cách mua sản phẩm đó.
  8. Khai thác giá trị thuê mướn, mua trả chậm, hoán đổi hay thu hút khách nước ngoài là điều mà các doanh nghiệp kinh doanh địa ốc, xây dựng nhà ở, đầu tư thương mãi nên tận dụng và phát huy thông qua bộ phận tiếp thị, quảng cáo, bán hàng, và phục vụ khách hàng.



Thị Trường Địa Ốc và Rủi Ro Đầu Tư và Lợi Nhuận Ngắn Hạn

 “Con người sẻ cảm thấy yên ổn khi họ sở hửu một ngôi nhà gọi là tổ ấm của họ. Nhưng sở hữu nhà và đất vẫn có thể vượt ra ngoài các giá trị sử dụng căn bản, trở thành giá trị đầu cơ và kiếm lời.”
 *****
Bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào, thị trường địa ốc vẩn thu hút sự hoạt động mua bán, đầu tư tạo ra những cơ hội xoay chuyển vòng vốn từ sở hữu này sang sở hữu khác. Sự luân chuyển sở hữu của bất động sản tạo ra những vòng xoay của vốn từ giá trị thấp lên giá trị cao, rồi bất ngờ tụt giá khi không có người mua nào trả giá cao hơn. Đó là thời điểm báo hiệu cho sự khủng hoảng của thị trường địa ốc. Nhưng các chu kỳ sẻ có chiều dài của thời gian khác nhau và chiều cao của giá biến động củng khác nhau.


Khi phân tích sự thành công của 100 nhà tỉ phú trong tạp chí Fortune, hơn 10% tài sản của họ do lợi nhuận từ thị trường địa ốc tạo ra. Trong năm 2007, công ty thức ăn nhanh của Hoa Kỳ, McDonald có lợi nhuận là 4 tỉ USD, nhưng trong đó giá trị bất động sản của công ty bao gồm các tiệm ăn nhanh trên toàn cầu có giá trị là 29.9 tỉ USD. Đó là lý do tại sao một doanh nghiệp thành công mang giá trị biểu tượng của sự thịnh vượng và sự đô thị hoá luôn gắn liền thương hiệu và vị trí kinh doanh mà doanh nghiệp của họ hoạt động. Một thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẻ luôn gắn liền với giá trị gia tăng của thị trường bất động sản bởi vì nhu cầu mua và đầu cơ sẻ vượt qua nhu cầu thật của giá trị sử dụng.

Thị trường địa ốc không hoạt động như thị trường tiêu thụ do mối quan hệ thuần túy của cung và cầu quyết định. Thực chất thị trường bất động sản hoạt động theo nhu cầu thật và nhu cầu ảo. Nhu cầu thật do số lượng người cần nhà ở, đất đai để xây nhà, văn phòng, nhà cho thuê, khách sạn, và các mục đích khác nhau. Nhu cầu ảo do tâm lý đầu cơ và những hoạt động thế chấp bất động sản tạo ra sự cuốn hút vào mua đất đai, nhà cửa, nhà văn phòng, nhà cho thuê, và khách sạn tạo ra nhu cầu ảo của người mua cao hơn nhu cầu cung người bán tạo ra giá cả leo thang. Ngoài ra khi hoạt động kinh doanh trong ngành du lịch và các dịch vụ thương mại tạo ra nhu cầu của luợng khách đến cư trú trong thành phố hay khu vực, củng tạo ra nhu cầu tạm thời gia tăng của thị trường địa ốc. Thường thì thị trường bất động sản còn ảnh hưởng của cách vận hành hành chính, quy hoạch phát triển đô thị và các khu xây dựng phục vụ bổ xung củng làm cho giá cả bất động sản leo thang. Ngoài ra giá trị của đất đai và nhà cửa còn do các dự đoán tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và từng khu vực. Nếu sắp tới dự án xây dựng con đường cao tốc xe điện bắc nam được phê chuẩn thì điều tất nhiên là vị trí được chọn xây dựng con đường xe điện này sẻ tăng giá vài chục lần so với giá hiện nay. Có lúc tăng lên hàng trăm lần vì nhu cầu gia tăng cho việc giải tỏa hay xây dựng các công trình phụ phục vụ trong ku vực lân cận.

Khi thị trường trong nước còn đang trong giai đoạn phát triển thì đất trở thành một thị trường có nhiều tiềm năng cho việc kinh doanh và kiếm lời. Khi một vùng đất trống không có giá trị là bao nhiêu, như nếu tin tức là nhà nước sắp qui hoạch xây dựng khu chế xuất, trung tâm mua sắm, khu nhà ở, phi trường thì lập tức cơn sốt mua bán đất đai sẻ bắt đầu xảy ra. Nhà đầu tư xây dựng công trình là người mua đất để phát triển thành một loại hàng hóa mới cho những khách hàng sau đó. Khi công trình xây xong còn thêm một cơn sốt mới cho danh sách người mua nếu nhu cầu cao sẻ tạo ra những cơn sốt mua đi bán lại những bất động sản này. Nếu số lượng người mua trong giai đoạn cuối của chu kỳ đỉnh thì đó là lúc nguy cơ rủi ro lớn nhất. Ngân hàng với nguồn vốn đang dồi giàu sẻ dể giải cho khách hàng quen biết mượn vốn để đầu tư vào thị trường địa ốc. Khi cơn sốt khựng lại và giá bắt đầu giá rơi xuống, các ngân hàng sẻ không thu hồi vốn cho vay được. Lúc đó ngân hàng không chỉ bị mất vốn mà còn tạo ra sự khang hiếm về vốn cho các doanh nghiệp sản xuất đang cần vốn vay. Người gửi tiền vào ngân hàng củng bị mất vốn, nếu ngân hàng không có mua bảo hiểm từ chính phủ cho sự bồi thường thiệt hại ở một tỉ lệ nào đó. Tiền mà người mua cuối cùng sẻ đi vào túi của người bán cuối cùng. Như vậy thị trường kinh doanh địa ốc sẻ trở thành một loại cờ bạc hợp pháp cho rủi ro lợi nhuận và thua lổ. Nhưng ai là người lợi nhất trong các hoạt động kinh doanh nhà đất? Thường là nhà đầu tư. Bởi vị họ biết khi nào thị trường sẻ bảo hào, nếu họ có thể nắm bắc các số liệu về nợ vay trong các  ngân hàng, số lượng người cần mua và số lượng người cần bán trong thị trường. Các loại tin tức hằng ngày trên báo, đài, internet củng góp phần tạo ra những cơn số về nhà cửa và đất đai. Hầu như mọi người đều ráng để dành tiền mua đất đai hay nhà cửa nhằm bán lại kiếm lời. Đó là một trạng thái hổn loại của thị trường địa ốc tại Việt Nam. Thực sự nền kinh tế Việt Nam phát triển do khả năng sản xuất cho xuất khẩu và các loại hình dịch vụ và các loại nông, lâm, hải sản, nguyên liệu thô. Nhưng mọi người đều bị phân tâm vào việc làm giàu bằng việc mua đất đai tạo ra những trạnh thái tiêu cực về lâu dài hơn là tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế. Mọi người dân cần có thái độ làm việc cho sự cạnh tranh tích cực với các thương hiệu nước ngoài bằng việc biết phát huy khả năng kinh doanh, thành lập công ty nhỏ, rồi phát triển lớn dần lên thành những tập đoàn lớn.

Đâu là giá trị của thị trường địa ốc theo qui mô phát triển kinh tế của Việt Nam?

Có nhiều câu trả lời cho hoạt động đầu tư và mua bán của thị trường địa ốc. Công ty đầu tư lớn có thể kiếm lời làm nhiều lần trong cùng một dự án. Ví dụ, công A mua một toà nhà cho thuê làm văn phòng với giá là 100 triệu USD trong năm 2007. Sau đó có một khách hàng đồn ý mua với giá là 130 triệu trong năm 2008. Sau khi khấu trừ các khoảng chi phí và thuế, công ty A còn lại một lợi nhuận rồng là 20 triệu USD. Nhưng sau đó khách hàng vừa mua lại muốn bán toà nhà với giá là 135 triệu USD. Công ty đồng ý mua. Tiếp theo là một khách hàng khác đến mua với giá là 150 triệu USD. Công ty A thực hiện chuyến giao dịch và kiếm một lợi nhuận mới là 10 triệu USD. Tiếp theo công ty A muốn mua một khu đất mới với giá là 140 triệu USD, mà tòa nhà vừa mua có giá là 150 triêu USD. Công ty A đem tòa nhà thế chấp ngân hàng B với số tiền là 141 triệu USD với lải xuất là 15% một năm. Công ty A dùng tiền mua mảnh đất với giá là 140 triệu USD. Tiếp theo là bán lại cho một nhà thầu với giá là 200 triệu USD sau 12 tháng chờ. Nhưng vậy công ty A dùng 200 triệu trả lại 141 triệu USD vốn và 21.15 triệu USD tiền lời cho ngân hàng B và bỏ túi số tiền là 38.85 triệu USD chưa khấu trừ các chi phí và thuế. Nhưng tiếp theo là một ngân hàng C thấy giá nhà có chiều hướng tiếp tục tăng, mua lại toà nhà của công ty A với giá là 170 triệu USD. Nhưng khoảng 2 tháng sau, giá nhà tuột xuống hơn 30% giá mua. Có nghĩa giá tòa nhà từ 170 triệu USD, nay chỉ còn là 191 triệu USD. Ngân hàng C lổ hơn 51 triệu USD tính theo giá trị gia tăng của vốn nếu bỏ vào ngân hàng hay các dự án khác. Nhưng nếu ngân công ty biết có một khách hàng muốn mua tòa nhà với giá là 150 triệu USD, thì công ty sẻ tìm đến ngân hàng C để tỏ ý muốn mua với giá là 110 triệu USD. Ngân hàng C thương lượng giá cả, cuối cùng đồng ý bán 115 triệu USD. Sau khi mua lại tòa nhà, công ty A lại bán cho khách hàng mới với giá là 150 triệu USD. Ví dụ này có thể giải thích vốn tiền mặt được chuyển tay từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác thông qua một món hàng trung gian là nhà cửa, đất đai theo giá trị sử dụng và giá thị trường hiện thời. Đó là lý do mà nhà đầu tư vào thị trường địa ốc sẻ luôn phân tích giá trị thực và giá trị ảo. Giá trị thật thường do nguồn lợi nhuận như tiền thuê mà các công ty chi trả cho chủ của tòa nhà để cho phép các doanh nghiệp sử dụng làm văn phòng. Giá thuê có thể tăng lên khi nhu cầu thuê cao mà số lượng cung thì không đủ tạo ra giá trị lợi nhuận cho các công ty chủ đầu tư các tòa nhà văn phòng. Nhưng ngoài ra, khi ngân hàng có quá nhiều tiền trong tài khoảng mà không có khách hàng vay, thì các tác động mau bán nhà cửa, đất đai do các nhóm đầu cơ sẻ tác động vào làm cho những cơn sốt về nhà đất xảy ra. Nhưng bên cạnh việc mua bán cho mục tiêu đầu cơ, nhà đầu tư còn mua với mục tiêu ảnh hưởng chính trị và ngoại giao. Nhật Bản, Trung Quốc là hai quốc gia có nhiều nhà đầu tư đi mua bất động sản khắp nơi trên thế giới như Hawaii ở Hoa Kỳ, San Franscico, Los Angeles, New York, Floria, London, Paris. Ngoài ra các khu vực sang trọng như Hollywood củng là mục tiêu mua nhà của các nhà doanh nghiệp mới thành công. Hay các thành phố như Thượng Hải, Hồng Kông, Mác-cơ-va củng tạo ra các cơn sốt nhà đất vì số lượng người mua quá lớn, nhất là họ sở hữu tài sản từ việc kinh doanh mậu dịch, xuất khẩu. Đó là một trong các lý do mà các quốc gia có sự gia tăng của người thu nhập cao luôn gây ra các cơn sốt giá nhà. Nhật Bản đả trải qua cơn sốt nhà kỷ luật thế giới giữa thập niện 1980s và đầu 1990s.

Sự khác nhau về việc đầu tư vào địa ốc và cổ phiếu là nhà đầu tư vào nhà cửa vẩn có thể sử dụng nhà cửa, rồi bán lại có lời. Trong khi đó, cổ phiếu chỉ sinh lời khi giá tăng lên hay công ty trả tiền lời cho cổ đông. Như vậy nhà đầu tư cảm thấy việc mua nhà có nhiều cái lợi cho việc vừa sử dụng lại vừa có thể cho thuê một phần, hay bán lại sau đó với giá cao hơn. Nhà đầu tư có thể cất giữ tiền mặt hay mua cổ phiếu hay đầu tư ra nước ngoài nếu thị trường địa ốc đang tuộc giá hay bị đóng băng. Sự liên đới giữa thị trường tài chính và cổ phiếu là giải pháp cứu nguy khi có những xáo trộn do thị trường địa ốc tạo ra. Bởi vì lượng tiền mặt vẩn lưu thông trong thị trường ở nhiều hình thức khác nhau. Nhưng do sự quản lý của chính phủ cho các nguyên tắc hoạt động ở cả hai thị trường tài chính và cổ phiếu thì doanh nghiệp dể dàng tìm ra giải pháp huy động vốn khi thị trường địa ốc bị tuộc giá hay trong trải qua cơn khủng hoảng. Trừ trường hợp doanh nghiệp sản xuất củng bị cuốn hút vào các dự án xây dựng nhà ở hay công trình thì coi như khả năng xoay sở của họ sẻ khó khăn hơn vì nếu họ không bán được hết các căn hộ đả xây xong hay các công trình bị đình hoản khi chủ đầu tư không cung cấp thêm vốn cho các dự án còn dang dở. Ví dụ như công ty xuất nhập khẩu A, chuyên kinh doanh mặt hàng xe hơi nhập khẩu từ nước ngoài. Với số vốn là 100 triệu USD. Trong cơn sốt của thị trường bất động sản có giá trị gia tăng là 30% trong 6 tháng hay một năm. So với kinh doanh xe chỉ đem lại lợi nhuận là 20% một năm. Do đó ban quản lý doanh nghiệp quyết định chớp thời cơ kiếm lời bằng cách dùng 50 triệu USD đầu tư vào nhà đất. Nhưng sau khi mua, giá nhà đất tuột dần xuống chỉ còn 50% giá ban đầu tức là khoản 25 triệu USD, coi như doanh nghiệp mất đi 25 triệu USD. Như vậy nếu bán đi nhà và đất đả đầu tư thì số vốn còn lại là 75 triệu USD. Nếu trường hợp tệ hơn là giá cả nhà đất chỉ còn 25% giá trị ban đầu thì coi như doanh nghiệp mất đi 37.5 triệu USD. Đó là ví dụ cho thấy sự rủi ro mà nhà đầu tư có thể không tránh khỏi khi đầu tư vào nhà đất. Nhưng vẩn có những dự án có thể tạo ra doanh thu đều đặng như xây nhà cho thuê, khách sạn cho thuê, văn phòng cho thuê, trung tâm thương mại. Các loại đầu tư này có doanh thu hằng tháng hay hằng năm, vì khách hàng thuê mướn phải chi trả theo hợp đồng đả ghi. Ngoài ra chủ đầu tư có thể bán lại, và chủ đầu tư mới vẩn tiếp tục thực hiện các hợp đồng cho thuê trước đây.

Thị trường bầt động sản tăng giá đi kèm với lượng tiền cho vay hay lượng tiền sẳn có trong các ngân hàng và quỉ đầu tư. Do thị trường địa ốc ở Hoa Kỳ có nét đặt thù riêng, các ngân hàng cho vay thường khuyến khích người sở hữu nhà thế chấp lấy tiền mua sắm, hay làm lại hợp đồng vay tiền mới khi giá nhà đang lên cao tạo ra khoản tiền chênh lệch cho người người vay để dùng vào các chi phi hay nhu cầu mua sắm khác. Có nghĩa ngân hàng cho vây sẻ kiếm lợi nhuận từ tiền lệ phí và các khoản dịch vu khác cho việc hoàn thành hồ sơ vay vốn mới với thế chấp căn nhà của khách hàng. Nhân viên làm giấy tờ vay sẻ hưởng phần trăm huê hồng. Khách hàng sẻ nhận tiền mặt rồi sử dụng cho mục đích riêng của mình như mua sắm xe hơi, thiết bị gia đình, đi du lịch hay trả tiền học phí cho con cái. Chính phủ Hoa Kỳ thường dùng biện pháp tiền lời thấp gia tăng mức vốn vay và thế chấp từ các ngân hàng chuyên cho vay với thế chấp nhà. Sau đó các loại nợ này được chuyển đổi và đóng gói thành trái phiếu có bảo chứng của chính phủ và bán ra thị trường quốc tế. Các nhà đầu tư sẻ mua vào vì tin rằng họ có sự đảm bảo từ chính phủ Hoa Kỳ hay các công ty bảo hiểm lớn đa quốc gia.

Kinh tế ViệtNamcòn lệ thuộc vào thị trường xuất khẩu, mặc dù thị trường tiêu thụ trong nước có phần phát triển cao khi mức nhập siêu cao hơn mức xuất siêu. Nhưng hiện tượng này nên được cảnh báo vì các quốc gia đang phát triển nên khuyến khích tiết kiệm và gia tăng mức đầu tư. Nếu mức nhập siêu cao, mà trong đó bao gồm các máy móc thiết bị cho sản xuất, nghiên cứu, bệnh viện và xây dựng cơ sở hạ tầng thì không sao, nhưng nếu phần lới là các hàng hóa sử dụng cho cá nhân thì là điều nguy hiểm cho sức tăng trưởng của thị trường trong nước. Ngoài ra, ngân hàng cần hạng chế các khoản cho vay vào thị trường bất động sản nếu nó không trực tiếp tạo ra doanh thu ngoại tệ khi được sử dụng phục vụ cho nền kinh tế đang trong thời gian phát triển. Thu nhập của người dân trong nước còn thấp, do đó khả năng mua của thị trường trong nước còn yếu, ngoại trừ các cá nhân có mức thu nhập cao từ vài ngàn USD, chục ngàn USD hay triệu USD thì mới có khả năng mua các loại sản phẩm cao cấp hay có giá trị tính bằng tỉ đồng Việt Nam. Các hạng mục xây dựng cho du lịch, khách sạn, nhà nghỉ, khu công nghệ, khu chế xuất luôn tạo ra nguồn thu nhập từ xuất khẩu và thu hút du khách nước ngoài nên cần lượng vốn đầu tư thích hợp. Từ các kinh nghiệm về phát triển của thị trường địa ốc, xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành công nghệ năng lượng, thông tin từ các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam nên cần phát triển hai loại thị trường vốn để đầu tư - vốn của nước ngoài, vốn trong nước. Tập trung các nguồn vốn và các nghành sản xuất kinh doanh cho tiêu dùng, xuất khẩu và dịch vụ. Khi thu nhập của người dân tăng lên, họ luôn có sự thay đổi về các thói quen mua sắm và nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Đó là lý do mà chính phủ sẻ hiệu chỉnh các ngân sách cho việc đào tạo cán bộ quản lý, giáo dục nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của sinh viên học sinh lớ 9, 10, 11, 12 và các hệ cao đẳng, trung học, đại học. Khả năng tư duy và nghiệp vụ chuyên môn sẻ giúp cho sinh viên khi ra trường có một công việc ổn định và mức lương cao hơn. Sự thay đổi thu nhập củng tạo ra nhu cầu nhà ở khác nhau về mức độ tiện nghi, hiện đại, thẩm mỹ, vệ sinh, và các kiến trúc xây dựng. Ngoài ra số lượng rạp chiếu phim, khu vui chơi, khu tập thể dục, công viên, thư viện, khu mua sắm, bệnh viện, trường học củng sẻ gia tăng lên theo mức độ gia tăng về dân số và thu nhập bình quân và trình độ giáo dục.

Các thành phố lớn luôn có lượng người sinh sống chính thức và không chính thức, nhất là làng sóng di dân cho việc làm và mưu tìm tương lai tốt đẹp hơn ở quê nhà. Do vậy nhu cầu về nhà cửa, thực phẩm, và các loại nhu cầu khác sẻ gia tăng tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Biên Hòa, Vũng Tà, Nha Trang, Khánh Hòa, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ. Tùy theo thu nhập mà người tiêu dùng sẻ tìm mua các loại nhà khác nhau. Do môi trường sinh hoạt của các cộng đồng địa phương, có những ngôi chợ hay khu thương mại lâu đời vẩn cần sự bảo tồn để giữ nết đẹp về văn hoá, truyền thống cho mổi vùng. Còn những khu dân cư mới trên các khu đất mới phát triển qua các dự án đô thị hoá, cần có những thiết kế đồng bộ về sinh thái, môi trường, thẩm mỹ cho văn hóa, lịch sử của từng vùng. Mỗi một khu vực sẻ có những nét riêng, nhưng các tiêu chuẩn khác thì được tiêu chuẩn hóa toàn quốc cho tiện việc kiểm tra và xét duyệt hay sản xuất hàng loạt có chất lượng cao mà giá thành hạ. Điều quan trọng là làm sau chọn dự án đầu tư với hai loại lợi nhuận - ngắn hạn và dài hạn. Ngoài ra còn khả năng xoay vòng vốn hay chuyển đổi sở hữu nhằm thu hồi tiền đầu tư đề dùng vào các dự án khác. Tối thiểu là phải nhắm vào lợi nhuận khi khấu trừ các khoản chi phí như tiền lời, thuế và các dịch vụ khác. Lý tưởng nhất là dùng chỉ số lợi nhuận trung bình của cổ phiếu của 10 công ty có mức thu nhập lợi nhuận cao nhất tại thị trường chứng khoán cộng thêm 10% hay 30% để chọn dự án đầu tư cho các dự án bất động sản. Cán bộ quản lý sẻ tính thêm khả năng có thể chuyển giao quyền sở hưũ trong trường hợp cần thu tiền vốn và tiền lời cho các dự án khác. Đó là mức độ cho việc bán tài sản ở mức lợi nhuận cao nhất, tiện lợi nhất, và nhanh gọn nhất.

Chọn Dự Án Đầu Tư

Khi thị trường công ăn việc làm gia tăng, thì nhu cầu nhà ở củng gia tăng. Kéo theo nhu cầu xây dựng nhà cho thuê, văn phòng cho thuê, hảng xưởng, trung tâm thương mại, khách sạn, khu nghĩ mát, bệnh viện, trường học, và các trung tâm nghiên cứu, phi trường đều mang giá trị lợi nhuận ngắn hạn và dài hạn nếu nhà đầu tư có thể chuyển đổi sở hữu để lấy tiền mặt cho các dự án kinh doanh khác nhau. Các bước cơ bản tính toán cho lợi nhuận sau khi khấu trừ các khoản chi phí. Giá trị gia tăng của tài sản đầu tư được tính vào lợi nhuận ngắn hạn và dài hạn trong các dự án bất động sản. Có nghĩa tùy theo vốn và sự gia tăng của thị trường bất động sản mà chủ đầu tư sẻ chọn dự án ngắn hạn hay dài hạn. Vì nguồn vốn có thể được thu hồi ở thời gian ngắn nhất khi người chủ đầu tư muốn chuyển sang dự án khác. Có nghĩa thị trường có nhiều người sẳn sàng mua các dự án đầu tư đó.

Các công thức cơ bản của việc dự án đầu tư ngắn hạn là khả năng bán lại dự án trong vòng 1 năm hay 3 năm với lợi nhuận sau không dưới 20% (hay bằng tổng số tiền lời của ngân hàng, cộng các chi phí hành chính, thuế, và công thêm 10% hay cao hơn). Thường thì nhà đầu tư có thể dùng các chỉ số lợi nhuận thu được từ việc mua của phiếu hay dự án khác để so sánh với việc đầu tư vào thị trường bất động sản. Nếu giá trị lợi nhuận của thị trường bất động sản cao, nhưng đi kèm với rủi ro là thị trường biến động ngoài dự kiến, thì nhà đầu tư sẻ chọn dự án bất động sản có giá trị lâu dài. Chẳn hạn có thể tạo ra thu nhập thông qua việc cho thuê hay làm một dịch vụ nào đó. Còn đất đai chỉ có giá trị khi nền kinh tế trong khu vực xung quanh có dấu hiệu phát triển khả quan hơn. Có nghĩa các khu công nghiệp, khu thương mại và dự án xây dựng vẩn tiếp tục phát triển gần nơi đất đai mà nhà đầu tư sở hữu. Ngoài ra số lượng dân cư gia tăng củng báo hiệu nhu cầu kinh doanh, thuế mướn nhân công, hay du khách từ nơi khác đến củng tạo ra chiều hướng gia tăng giá trị của đất đai. Nhà cho thuê – cư dân thuê, văn phòng cho thuê, công xưởng cho thuê, khu thương mại cho thuê – mang giá trị dài hạn. Bởi vì nó tạo ra thu nhập hàng tháng sau khi khấu trừ các chi phí quản lý, thuế, tiền lời. Nhưng nó vẩn còn mang giá trị gia tăng khi khu vực đó có dấu hiệu của sự đầu tư trên nhiều hạn mục kinh tế khác nhau. Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận đả gia tăng giá trị theo số lượng các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và các loại hình dịch vụ kinh doanh, thương mại của người Việt Nam và người nước ngoài. Như vậy thì giá đỉnh của thị trường địa ốc ở thành phố này là bao nhiêu sẻ khựng lại? Thật sự điều này còn phụ thuộc vào khả năng quản lý của ba nhóm – chính phủ, tư nhân và liên doanh. Phía chính phủ tạo ra khả năng vay vốn từ ngân hàng, pháp luật chuyển nhượng, quyền sở hữu của người nước ngoài, mức thuế mua bán nhà đất. Tư nhân tạo ra các cơn sốt mua bán khi xử dụng nguồn vốn không đúng nguyên tắc từ nguồn trong nước và ngoài nước tạo ra sự mua bán sang tay kiếm tiền chênh lệch trong thời gian ngắn, một tháng, hay vài tháng. Liên doanh có nguồn vốn mạnh củng tạo ra sức mua và bán làm gia tăng giá cả của nhà và dất đai. Phần lớn giá cả của thị trường địa ốc sẻ do chính phủ quyết định bằng các biện pháp: (a) hạn chế giao dịch sang tay trong thời gian ngắn, (b) tăng mức thuế cho việc sang nhượng, (c) hạn chế tư nhân sở hữu các danh mục do nhà nước chủ đạo trong việc thi công các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, (d) hạn chế việc trênh lệch giá khi qua các trung gian trong việc chuyển nhượng, (e) hạn chế nhà đầu tư nước ngoài trong việc sở hữu mang tính trao đổi kiếm lời trong thời gian ngắn.

Bên cạnh đó, chính phủ vẩn nhận ra giá trị của bất động sản nên đi kèm với mức tăng trưởng kinh tế cho giá trị thực của GDP. Có nghĩa vốn tại các ngân hàng nhà nước, tư nhân, nước ngoài nên được khuyến khích đầu tư, cho vay các hạng mục phát triển kinh tế xuất khầu tiêu dùng, giáo dục, nghiên cứu, y tế, cải thiện công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng. Dự án về giao thông vận tải, cầu cảng, mạng lưới điện, hệ thống cung cấp nước sạch, xử lý nước thải luôn là các hạng mục quan trọng gắng liền với hoạt động kinh doanh địa ốc vì mọi hoạt động trên đều đi liền với việc giải toả khu vực, xây dựng nền móng, đào đường hầm, gắn các ống ngầm cho các hạng mục lâu dài. Chính vì lý đó mà các dự án lớn hay nhỏ cần có sự chuẩn bị của các hội đồng qui hoạch phát riển đô thị và phát triển kinh tế quốc gia tham gia với các chuyên gia chuyên môn về khoa học, kỷ thuật, công nghệ thông tin, môi trường sinh thái, và phát triển đô thị và khu công nghiệp. Như việc phát triển con đường cao tốc bắc nam có lẻ liên quan đến nhiều ban ngành, bộ, tỉnh trong cả nước vì nó không chỉ giải quyết vấn đền giao thông mang tính an toàn, số lượng vận chuyển lớn, mà còn mang các giá trị văn hóa quốc gia, bảo tồn sinh thái, cầu nối phát triển kinh tế giữa các vùng với nhau và giảm đi khoảng cách về thu nhập và mức sống giữa các vùng. Tốc độ gia thông vận tải hàng hóa, con người và thông tin là các tác nhân quan trọng thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam phát triển trong thời gian tương lai. Đây là một sứ mạng quan trọng cho chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, nhân dân tham gia trong các năm sắp tới. Vốn đầu tư cho con đường cao tốc bắc nam có thể vượt con số 100 tỉ USD, nhưng nó sẻ thực hiện trong nhiều đợt nối tiếp với sự tham gia của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó nó sẻ đóng góp cho nền kinh tế ở nhiều khiá cạnh – (a) các chuyên gia giỏi có thể làm việc tại nhiều nơi trong quốc gia trong cùng một ngày khi họ sử dụng hệ thống giao thông mới, (b) du khách trong và ngoài nước sẻ tham quan và du lịch dể dàng hơn tạo ra doanh thu ngoại tệ cho nền kinh tế địa phương, (c) các vùng chưa phát triển kinh tế nằm trên trục lộ của tuyến giao thông này sẻ được có lợi cho việc vẩn chuyển con người, hàng hóa, công nghệ, giáo dục, văn hóa, giải trí, (d) chính phủ dể dàng hơn trong việc quản lý con người và hàng hóa khi mọi thức hoạt động theo hệ thống dưới sự giám sát của công nghệ tiên tiến và đội ngủ an ninh quốc gia.
Lợi Nhuận Ngắn Hạn

“Sự thay đổi về giá trị, và sự sẳn có trên thì trường cho mối quan hệ cung và cầu sẻ tạo ra cơ hội thu lợi nhuận ngắn hạn. Do đó lợi nhuận ngắn hạn sẻ không tồn tại theo nghĩa lâu dài và ổn định.”

*****

Khi nhận ra nhu cầu ảo hay nhu cầu thật, nhà kinh doanh vẩn có thể kiếm lời thông qua các dự án đầu tư - ngắn hạn hay dài hạn. Nếu dùng vốn lớn để đầu tư vào các dự án có mức lợi nhuận cao, thì người chủ đầu tư củng lo lắng cho rủi ro giá bất động sản rơi xuống hay mất giá. Giá ngoại hối, và các loại đầu tư khác trên thị trường luôn tạo ra những cơ hội cho nhà đầu tư kiếm lợi ngắn hạn. Nhưng khi cơ hội xuất hiện, thì sẻ có nhiều nhà đầu tư nhảy vào kiếm lời. Do vậy cơ hội đó sẻ giảm mức lợi nhuận lẩn các yếu tố hấp dẩn khác vì khả năng tạo ra lợi nhuận sẻ giảm dần. Lợi nhuận ngắn hạn luôn tạo ra những khoản đầu tư và tạo ra vòng quay vốn mới cho doanh nghiệp, tư nhân, cá nhân.

Lợi nhuận ngắn hạn cho phép người đầu tư tạo ra những giá trị thay đổi có lợi cho mình trong thời gian ngắn. Lợi nhuận ngắn hạn thường xuất hiện hay được khai thác khi thị trường có những biến động về giá theo chiều hướng tăng đột biến. Các nhà đầu tư củng có nhiều biện pháp thu mua xí nghiệp làm ăn thua lổ hay đang trong tình trạng khó khăn về tài chính. Rồi thay đổi, cải tạo, nâng cấp cho các chỉ số kinh doanh có chiều tiến triển khả quan giúp chủ đầu tư tìm nhà đầu tư khác để bán lại xí nghiệp vừa mới được tân trang. Trong các khoản đầu tư ngắn hạn, thì nhà đầu tư luôn tìm kiếm sự trênh lệch về giá cả mua ở thời điểm hiện tại và giá ở tương lai, giúp nhà doanh nghiệp tin là giá sẻ tăng trong thời gian ngắn. Lợi nhuận ngắn hạn củng do nhiều yếu tố tâm lý gây hưng phấn cho người mua, hay tạo ra sự sợ hải cho người bán. Trong cả hai trường hợp đều tạo ra những cơ hội kiếm lời cho nhà đầu tư. Ngoài ra, các nhóm đầu cơ củng có thể áp dụng các phương thức phao tin đồn nhảm hay các bẩy để du người mua thu vào các bất động sản sẻ mất giá, sau đó bán tháo các loại đầu tư này kiếm lời. Các thông tin không chính xác hay có mục đích đầu cơ luôn có thể bị khai thác tại thị trường bất động sản. Chính phủ có thể giám sát trên nhiều khía cạnh khác nhau giúp các nhà đầu tư vào thị trường địa ốc hoạt động theo những qui tắc của nền kinh tế thị trường hơn là các trục lợi gây ra sáo trộn nền kinh tế trong nước. Nhất là sự hoan mang của người bị hại và các các thiệt hại về tài chính lâu dài cho các ngân hàng tư nhân và của nhà nước. Phần lớn vốn đầu tư vào thị trường địa ốc do bốn nhóm tham gia: chính phủ, tư nhân trong nước, tư nhân nước ngoài và người tiêu dùng. Do đó chính phủ có thể nhận ra lợi nhuận của các giao dịch địa ốc sẻ đi vào túi của ai, để có thể đóng thuế và quản lý hiệu quả các hoạt động kinh doanh này.
Thế Chấp Bất Động Sản Để Vay Vốn

“Sự tin tưởng của vay mượn qua vật trung gian gọi là thế chấp có thể tạo ra các cơ hội cho việc vay mượn. Nhưng đôi lúc, người vay và người cho vay lạm dùng hình thức này để chuyển đổi tài sản không bán được thành tài sản bán được.”
*****

Bất động sản có giá trị trao đổi thế chấp một cách linh động cho việt vay vốn. Ngoài những hoạt động đầu tư tạo ra lợi nhuận, nhà đầu tư củng linh động tăng cường vốn vay bằng cách thế chấp. Với những rủi ro và năng động cho việc mượn  vốn bằng thế chấp khi tỷ lệ của rủi ro ở mức thấp nhất so với các biện pháp mượn vốn khác. Ngoài ra, giá trị của bất động sản, tiền lời, lệ phí vay mượn đêu được tính vào khoản chi phi cho việc vay vốn để quyết định cho việc tạo ra mức lợi nhuận của doanh nghiệp thúc đẩy doanh thu của doanh nghiệp.

Sự phức tạp và rủi ro của việc thế chấp để vay vốn là giá của bất động sản có biến động hay không biến động. Ngân hàng cho vay sẻ hạn chế việc phê chuẩn các bất động sản khó bán hay giá trị phải cao hơn mức tiền mượn. Người mượn tiền qua các thế chấp có thể dùng tiền đầu tư vào các bất động sản khác tạo ra hiệu ứng dây chuyền làm mức cầu tăng lên giả tạo, hơn là mức cung tạo ra giá bất động sản biến động đến khi các nguồn vốn không ở ngân hàng bị ứ động hay đóng băng sẻ không cho phép các nhà đầu tư mới mua lại các bất động sản. Sự khủng hoảng kinh tế tại thị trường trên thế giới và các quốc gia Đông Nam Á đều liên quan đến lợi nhuận ngắn hạn và các phê chuẩn cho vay tiền mua nhà đất quá dể giải của các ngân hàng. Người kiếm lời trong các cuộc chuyển nhượng bất động sản, xây dựng các công trình xử dụng là người có thể bán lại các bất động sản này với giá cao hơn giá mà họ đả mua. Nhưng khi giá nhà hay đất đạt điểm đỉnh thì nó sẻ tuộc suột từ từ hay rợi tự do tùy theo mức độ nguy hiểm mà số lượng vốn bị trôn trong các dự án địa ốc này. Nhất là khi thị trường không còn số lượng người mua với giá cao hơn, thì các chủ đầu tư sẻ lo sợ cho việc đáo hạn trả vốn và tiền lời, nên đành bán với giá thấp hơn. Sự thay đổi này kéo theo các tâm lý lo sơ tạo ra sự tuột giá bất động sản ở qui mô hệ thống của một thị trường hay thông qua các thị trường liên quan. Mối quan hệ của người mua và người bán trên thị trường điạ ốc sẻ nguội dần cho đến khi giá hạ đết mức thấp nhất và từ từ chuyển dần sang một chu kỳ mới của giá nhà tăng lên theo nhu cầu thật của người mua và người bán. Tùy theo các chính sách của chính phủ mà hạn chế các chuyển nhượng mua bán nhà trong thời gian ngắn tạo ra các cơn sốt nhà hay các giao dịch trục lợi. Hơn nửa các chính sách đầu tư, cho vay vốn, luật chuyển nhượng, luật thuê đất sử dụng cho mục tiêu nào, luật qui định thời gian phải giữ chủ quyền nhà và đất mới được quyền bán. Thị trường nhà đất là một giao dịch có hai mặt khác nhau. Đó là giao dịch theo nhu cầu sử dụng và giao dịch cho mục tiêu kiếm lời. Do đó chính phủ có thể ước tính giá trị nhà đất của một thành phố, quận, khu vực hay mét vuông để dự đoán mức độ tăng trưởng kinh tế, vì vốn vay trong ngân hàng cần thiết dùng cho các dự án đầu tư vào xây dựng các công trình phục vụ mục đích chung cho con người, xã hội, giao thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp, nghiên cứu, sản xuất tiêu dùng và xuất khẩu. Đó là một bài toán khó khi có hai thị trường tài chính khác tham gia - thị trường tiền tệ và thị trường cổ phiếu. Các doanh nghiệp khi không thế chấp hảng xưởng, nhà ở, máy móc để mượn vốn phát triển kinh doanh, họ phải nhờ đến thị trường cổ phiếu để huy động vốn.
Kinh Doanh Nhà, Đất và Rủi Ro

“Giá trị trao đổi hàng hóa có giới hạn khi không ai sẵn mua món hàng. Ruỉ ro sẻ tăng lên khi giá trị gia tăng không còn nửa và giá trị lải xuất cộng với lạm phát vược quá giá trị gia tăng có thể có.”
*****

Rủi ro đi kèm với đầu tư trong tất cả các nghành kinh tế, nhưng sự khác nhau là làm sao hạn chế ảnh hưởng của rủi ro lên hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Rủi ro của kinh doanh bất động sản là rủi ro hay nguy cơ có qui mô hệ thống. Có nghĩa cả hai nhu cầu - cung và cầu - đều bị ảnh hưởng bởi nhiều tác nhân trên thị trường - ngắn hạn và dài hạn. Nhà đầu tư lớn và nhỏ đều có cảm tính và dự đoán giá trị của bất động sản tăng hay giảm do lượng vốn sẳn có trên thị trường tài chính. Ví dụ, thị trường bất động sản tại Hoa Kỷ được biến đổi qua nhiều trung gian cho việc chuyển giao rủi ro từ chủ nợ này sang chủ nợ khác. Các chủ nợ Hoa Kỳ đả chia nợ và thế chấp trong thị trường bất động sản thành các trái phiểu bảo chứng của chính phủ rồi bán cho nhà đầu tư nước ngoài nơi có giá trị xuất khẩu thặng dư như Nhật Bản, Trung Quốc, Trung Đông, Đài Loan, Singapore, Nga. Ngoài ra, các loại bảo chứng tài chính này còn bao gồm luôn các loại tín dụng tiêu dùng giúp người tiêu dùng Hoa Kỳ tiêu xài vượt quá khả năng tài chính và thu nhập của họ cho việc nhập khẩu hàng hóa từ các quốc gia chủ nợ.

Thị trường bất động sản có thể hoạt động tốt hay không tốt đều do nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, quản lý của chính phủ, và điều hành tài chính. Điều thứ nhất là hạn chế việc mua bán chuyển đổi sở hữu của bất động sản theo thời gian qui định, mức thuế, mục đích sử dụng, mức đầu tư của nội địa và nước ngoài, giá trị và ảnh hưởng của các dự án liên quan đến cộng đồng địa phương, môi trường, và xã hội. Có nhiều sự trá hình trong đầu cơ và trục lợi. Chẳn hạn nhà đầu tư nước ngoài sẻ lợi dụng nhà đầu tư trong nước để đầu tư vào thị trường bất động sản cho việc kiếm lời và tránh các điều luật về hạn chế sở hữu cho người nước ngoài. Chính phủ muốn tạo ra một thị trường kinh doanh bất động sản có lợi cho nền kinh tế xuất khẩu và tiêu thụ cần nhiều kế hoạch và đầu tư nhân lực cho việc biên soạn điều luật và các biện pháp phạt cho các hành vi vi phạm. Các doanh nghiệp có thể huy động vốn linh hoạt và hợp lý cho việc phát triển kinh doanh, sản xuất tạo ra giá trị kinh tế hiệu quả của hoạt động kinh doanh.

Kinh Doanh trong thị trường bất động sản đòi hỏi các quyết định trong việc dự đoán cho nhu cầu của thị trường trong khu vực mà bất động sản được mua và đầu tư. Tùy theo giá trị sử dụng của đất đai trong khu vực và nhu câu theo tâm lý là giá cả sẻ leo thang mà lượng người mua sẻ nhiều hơn lượng người bán. Bên cạnh các yếu tố thị trường như lượng dân cư tăng cao, hoạt động kinh tế trong khu vực, lượng du khách đến từ nơi khác, và chính sách phát triển kinh tế của chính phủ sẻ tạo sức mua cho thị trường bất động sản. Thường khi lượng vốn dư thừa trong các ngân hàng và công ty tài chính củng kích thích các nhà quản lý tạo ra lợi nhuận ngắn hạn bằng biện pháp cung cấp vốn với lải xuất cao cộng tiền lệ phí cho hồ sơ giải quyết vốn. Ngoài ra các công ty tài chính luôn sáng chế ra các sản phẩm tài chính nhằm kiếm lời thông qua chính sách không vốn như vẩn tạo ra lợi nhuận. Khi đánh giá sự giá tăng giá trị của một thị trường địa ốc tại một khu vực nhất định, chính phủ sẻ nhận ra các yếu tố sau đây đóng vai trò quan trọng: lượng dân cư tăng lên, số người có thu nhập cao sống trong khu vực này, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của khu vực này, mức đầu tư từ nước ngoài hay các nơi khác đổ vào, mức thất nghiệp thấp hay cao, số lượng các công ty tài chính, ngân hàng, lượng vốn lưu chuyển trong ngân hàng hay cất giử trong tư nhân, mức độ rủi ro của thiên tai như động đất, bảo, lục và các thiên tai khác. Đó là một phần tác động đến giá trị của thị trường địa ốc tại nơi đó.

Giá Trị Ảo và Giá Trị Thật

“Người tiêu dùng có thể mua những loại hàng hoá không cần thiết, nếu họ tin là ngày mai loại hàng hóa đó không được sản xuất nửa. Giá trị khan hiếm giả tạo sẻ tạo ra giá trị ảo của loại hàng hóa đó.”
*****

Nhà đầu tư hay doanh nghiệp cần hiểu nguyên tắc cung và cầu - trong giá trị ảo và giá thật - để khai thác cơ hội kiếm lời. Nếu nhà đầu tư cố tình tạo ra nhu cầu ảo để kiếm lời mau và nhiều, sẻ tạo ra nguy cơ khủng hoảng trên thị trường vì càng nhiều người tin rằng giá trị sẻ tăng lên, thì mức độ sang tay hay chuyển nhượng tài sản sẻ tăng lên. Có nghĩa lượng vốn trên thị trường sẻ bị cuốn hút vào các khoảng vay mượn cho nhà đầu tư, vì họ tin giá trị tăng lên đủ sức giúp họ chi trả tiền lời và vốn cộng với tiền lời cho bản thân họ. Thực chất là trò chơi đầu tư sẻ kết thúc khi các công ty tài chính không còn đủ lượng tiền mặt để hoạt động do vốn đả bị trôn trong các khoảng vay trong các dự án kinh doanh bất động sản. Bên cạnh đó các dự án nhỏ do các nhà đầu tư cá nhân với số vốn ít, củng bị ảnh hưởng tạo ra tâm lý bi quan và giảm đi nguồn tài chính mà các cá nhân này có thể dùng để mua sắm các chi tiêu hằng ngày. Nhất là có nhiều người còn rủ gia đình bà con, bạn bè, hàng xóm bỏ tiền vào các dự án địa ốc có qui mô nhỏ tạo ra sự rối loạn trong xã hội khi số lượng lớn người tiêu dùng bị mất vốn của mình. Trong khi đó các con nợ không thể trả tiền lời hay tiền vốn, bởi vì họ không tìm được người mua sẳn sàng trả giá cao hơn giá mà họ đả bỏ ra cộng với lãi suất.

Sự khác biệt giữa giá trị ảo và giá trị thật là lượng vốn đầu tư sẻ lớn hơn do tâm lý tăng giá nhà hay đất. Giá trị ảo tạo ra lợi nhuận khi thị trường có nhiều người mua có sẳn tiền mặt để thanh toán. Nhưng tiếp thep là các tay môi giới muốn kiếm lời, nên vay vốn ngân hàng hay tư nhân đển mua vào và kiếm lời khi sang tay. Nhưng lúc đó số lượng người mua bằng tiền mặt lại khan hiếm đi, tạo ra cơn shock trong việc tìm người mua, với số lượng người bán nhiều hơn. Các thành phố có giá trị đầu tư lâu dài như New York, San Franscico, Los Angeles, Hawaii, London, Tokyo, Thượng Hải, Hồng Kông đả thu hút nhiều người mua và người bán khác nhau. Thường người mua để ở là người thành công trong kinh doanh, nghệ thuật, hy vọng có một nơi ở khi đi du lịch hay các mùa lể. Còn môi giới muốn mua bán các giao dịch này để kiếm lợi nhuận. Nhưng có những tâm lý về khách quan là độ khan hiếm làm gia tăng giá trị, đồng thời củng có những yếu tố chủ quan là tâm lý muốn thay đổi điều kiện sống và địa vị xã hội theo khả năng kinh tế tạo ra sự cạnh tranh về mua nhà ở ở các vị đẹp, sang trọng và có phong thủy tốt.

Nhưng các giao dịch này có thể tạo ra lợi nhuận nhưng vẩn cần có sự giám sát của chính phủ thông qua các chính sách và biện pháp để đạt được mục đích là chuyển tài sản từ tay người khác sang tay của mình một cách hợp pháp và đúng luật trên thị trường. Kinh doanh bất động sản là giá trí ảo khi nó vược ra ngoài nhu cầu sử dụng bình thường. Nhà và đất có hai giá trị cơ bản: giá trị xây dựng tính theo vật liệu sử dụng, và chi phi thi công; và giá trị đất đai và mức độ khan hiếm. Một căn biệc thự nằm ở giữa một cánh rừng hay một đồng ruộng sẻ có giá trị thấp hơn là ngôi biệc thự đó nằm ở một trung tâm thành phố hay nơi nghĩ mát nổi tiếng. Ngoài ra, giá trị của nhà hay đất có thể cải tạo và biến đổi để gia tăng giá trị theo thị hiếu của người mua. Tâm lý của người mua khác nhau sẻ tạo ra giá mua khác nhau. Sự thay đổi chức năng như từ một trường học củ được phá bỏ xây thành một khách sạn hay trung tâm thương mại. Đó là giá trị sử dụng làm thay đổi giá trị của khu đất xung quanh và toàn nhà mới xây. Giống như một khu vực vửa gần trường học, bệnh viện, chợ, trung tâm thương mại sẻ có giá cao hơn các nhà nằm xa. Nhưng cung có nhà nằm xa khung trung tâm nhưng vẩn có giá cao, vì nó nằm trong khu vực biệt lập mang giá trị xã hội như xung quanh là nhà các nhân vật có tên tuổi và địa vị trong xã hội. Lúc này giá trị của ngôi nhà do vị trí của tâm lý mà tạo ra không mang giá trị thuận lợi như ngôi nhà gần trường học hay bệnh viện hay chợ.

Vì vậy, người mua có thể nâng cấp nhà củ thành nhà mới hay đập bỏ nhà củ xây dựng với chức năng mới khác với chức năng củ. Nhưng muốn nhà và đất có giá trị thật thì nó thật sự được biến đổi phục vụ khách hàng hay người tiêu dùng. Chẳn hạn xây dựng khu thương xá, nhà ở, khách sạn, du lịch, khi giải trí, khu ăn uống, trường học, bệnh viện để phục vụ nhu cầu cần thiết của con người và ngươì tiêu dùng. Các khoản đầu tư này tạo ra nguồn doanh thu ổn định tức là nhà cho ngươì thuê hay mua, văn phòng có người mướn, thương xá có người thuê,  trường học có học sinh học, bệnh viện có bệnh nhân, khách sạn có khách ở, khu du lịch có khách đến vui chơi, khu giải trí có khách đến hưởng thụ và nghĩ ngơi.

Nếu các công trình trên được xây dựng tạo ra giá trị ảo tức là hy vọng sẻ tạo ra cơn sốt nhà và đất do nhu cầu tâm lý rồi sang tay cho chủ đầu tư khác, rồi sau đó các bất động sản này không bán được hay nhu cầu thị trường chưa thật sự có nhu cầu lớn như vậy sẻ tạo ra sự dư thừa của lượng cung mà nhu cầu mua thị thấp. Giá nhà và đất sẻ từ từ tuộc dần về với giá trị thật của nó. Nhiều quốc gia đả rơi vào cơn sốt nhà và xây dựng công trình tiêu tốn hàng tỷ USD nhưng cuối cùng không có khách hàng. Đảo quốc Ai-len là một ví dụ điển hình, và khu nhà ở và các dịch vụ cao cấp ở Du-Bai Trung Đông là ví dụ thứ hai. Khu Las Vegas ở Hoa Kỷ là ví dụ thứ ba. Giá trị thật luôn có mối quan hệ mật thiết giữa nhu cầu của thị trường người tiêu dùng và khả năng cung ứng của doanh nghiệp sản xuất hay dịch vụ.

Nếu số lượng du khách đến Việt Nam tăng lên, thì nhu cầu về khách sạn, nhà hàng, tiệm bán hàng lưu niệm và hệ thống vận chuyển hàng không, xe điện, xe hơi, xe taxi se gia tăng lên. Như vậy nhà đầu tư sẻ nhảy vào các thị trường cung cấp các loại dịch vụ liên quan đến ngành du lịch. Nhưng nhu cầu du lịch có sự thay đổi theo mùa và tình hình kinh tế. Bởi vì khách chỉ đi nghĩ khi có phép hay trường hợp đặc biệc. Thường là theo mùa, do đó những tháng không đúng mùa sẻ vắng khách. Như vậy các khách sạn và hảng hàng không phải áp dụng khuyến mãi vào mua này để thu hút khách hưu trí không đi làm hay học sinh, sinh viện đến nghĩ trọ. Ngoài ra còn lý do về tài chính. Các thành phố du lịch thường tạo ra thu nhập các tháng có doanh thu cao, sẻ bù lại các thàng vắng khách. Đó là một trong những tháng mà người dân hay doanh nghiệp cần chọn các hoạt động khác để kinh doanh và tồn tại.

Thường các doanh nghiệp phát triển dựa trên kinh doanh lợi nhuận của giá trị ảo, người quản lý và các chuyên gia tài chính luôn thu được các khoảng huê hồng hay tiền thưởng lớn tính trên phần trăm của tổng số vốn được quản lý. Ví dụ nhà quản lý quĩ đầu tư cho khách hàng có tổng số vốn là 300 triệu đô la, thì ngoài các lệ phí hành chánh từ 2% đến 6%, các nhà quản lý có thể hưởng tiền thưởng từ 1% đến 10% của lợi nhuận tạo ra. Có nghĩa nếu lợi nhuận tạo ra là 30% của 300 triệu đô la là 90 triệu đô la sẻ đem lại tiền thưởng cho nhà quản lý là 900 ngàn đô la đến 2.7 triệu đô la. Chính vì vậy, các nhà quản lý luôn nổ lực áp dụng tài năng của họ trong việc hạn chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận để thu lợi nhuận cao và tạo ra uy tính cho công ty với khả năng áp dụng các công thức siêu lợi nhuận từ 25% đến 50% trong những thời gian nhất định. Chưa kể các quĩ được đầu tư vào các loại cổ phiếu Junk có rủi ro cao, nhưng củng có cơ hội tạo ra lợn nhuận gấp 100% hay 200%. Các công ty đầu tư vào thị trường địa ốc luôn biết hạn chế rủi ro khi chọn mua các loại nhà có thể cho thuê kiếm lời hay tu sửa lại để bán. Như thương xá có thể cho doanh nghiệp thuê. Cao ốc kinh doanh cho thuê văn phòng cho các công ty làm việc. Hảng xưởng cho các doanh nghiệp sản xuất thuê. Nhà trọ cho công nhân viên chức thuê. Bệnh viện cho mướn để phục vụ bệnh nhân. Phi trường cho các hảng máy bay thuê bải đậu, cất cánh hay bảo trì. Cầu cảng cho thuê bốc giở công-ten-nơ và vận chuyển hàng hóa. Kho bải cho thuê cất hàng. Và các quĩ đầu tư củng phân ra nhiều khoảng đầu tư vào nhiều khu vực khác nhau để giảm rủi ro khi một sự cố nào đó xảy ra tại một vùng, hay thành phố có vốn đầu tư của họ. Thành phố Detroi ở Hoa Kỳ một thời biểu tượng cho sự thành công của công nghệ xe hơi đầu thế kỷ 20. Như khi các công ty GM, Chrysler và Ford đóng cửa nhiều nhà máy tại đây, thì số công nhân thất nghiệp phải dọn đi nơi khác tìm việc bỏ lại những khu vực hoan sơ tiêu điều một thời vang bóng của công nghệ xe hơi. Có những căn nhà chỉ có giá vài trăm USD hay vài ngàn USD mà không có ai mua. Vì công việc không có, thì ai đến đó sinh sống.

Giá trị ảo có giá trị tạm thời cho việc phát triển thị trường, nhưng cùng lúc giá trị thật củng cần được nâng cấp tương đương giá trị ảo. Thị trường địa ốc có thể nói gắn liền giá trị với hai loại thị trường tài chính và cổ phiếu. Mà thị trường tài chính do số lượng vốn lưu động với lợi nhuận cao tạo ra sức mạnh ảnh hưởng trong một quốc gia hay toàn khu vực hay toàn thế giới. Thị trường cổ phiếu lại gắn liền với thị trường kinh doanh sản xuất, giao dịch tài chính, nghiên cứu sản phẩm, và các loại hình kinh tế khác nhau. Nó củng là nơi bán các loại nợ của chính phủ, thành phố, tập đoàn lớn gọi là công trái, trái phiếu. Nếu một thành phố tập trung cả hai loại thị trường tài chính, cổ phiếu thì làm tăng giá trị của thị trường địa ốc như thành phố New York, Tokyo, Hồng Kông, London, Singapore, Thượng Hải.

Khi nhìn qua thị trường Việt Nam, có nhiều loại đầu tư địa ốc mà Việt Nam có thể phát triển nhằm tạo ra các khu nghĩ mát và an dượng cho du khách nước ngoài hay người nghỉ hưu tạo nguồn thu nhập dịch vụ cho các cộng đồng địa phương giải quyết công ăn việc làm và phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ. Nhật Bản có mức giá sinh hoạt cao, do đó nếu các tiêu chuẩn sống ở Việt Nam cho du khách Nhật Bản có giá trị cạnh tranh, thì hàng năm người Nhật sẻ sang du lịch hay sinh sống ở Việt Nam nhiều hơn. Các loại hình xây dựng cho các mục tiêu thương mại như bệnh viện quốc tế củng tạo ra nguồn doanh thu cho nhu cầu chửa bệnh cho các du khách khi giá thành y tế tại các quốc gia này quá cao. Bệnh nhân người Mỹ có thể sang chửa bệnh ở các bệnh viện tại Mexico có giá rẻ hơn các bệnh viện ở Hoa Kỳ, mà chất lương tương đương, vì bác sỉ tốt nghiệp y khoa ở đại học Hoa Kỳ. Có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư Việt Nam khai thác khả năng của thị trường địa ốc theo các giá trị lâu dài với các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu trong việc phối hợp đầu tư qua lại như việc gia tăng số lượng sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ hay Nhật Bản và các loại đầu tư nhà ở cho sinh viên Việt Nam.

Nguồn đất nông nghiệp có thể dùng cho các dự án trồng lương thức cao cấp cho thị trường nước ngoài với công nghệ tiên tiến. Các giá trị đầu tư này sẻ cao hơn là trồng rừng công nghiệp cho sản phẩm gổ chế biến. Nhu cầu thực phẩm, thịt, cá, ngũ cốc, rau quả sẻ gia tăng torng các năm tới, do đó thị trường Việt Nam có thể gia tăng thị trường đầu tư cho sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Châu Âu, Nam Triều Tiên, Ấn Độ và Nga. Chính phủ có thể phối hợp với các tổ chức nông nghiệp của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu trong việc thành lập các trung tâm nghiên cứu gen di truyền, cấy ghép cho các sản phẩm nông nghiệp, thịt gia xúc để có năng xuất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho nhu cầu càng gia tăng về lương thực thực phẩm trên toàn thế giới. Khi đó người nông dân Việt Nam cần có thêm kiến thức khoa học để áp dụng công ghệ, kỷ thuật cơ giới vào các hoạt động canh tác, chăn nuôi gia cầm của mình. Chính phủ vừa tăng khả năng phát triển kinh tế của nông dân, vừa tăng khả năng xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng các dự án này luôn cần sự hợp tác giữa bốn tác nhân: vốn của chính phủ, vốn của tư nhân, vốn của nước ngoài, công nghệ khoa học kỷ thuật nước ngoài.

Số lượng trường học và các trung tâm nghiên cứu và giải trí sẻ gia tăng khi thu nhập của người dân tăng lên. Ngoài ra, các trường có thể tạo ra nguồn thu nhập bằng các hoạt động sau: ngân sách chính phủ, hổ trợ của phụ huynh học sinh, mạnh thường quân tài trợ hàng năm, quĩ đầu tư để tạo ra lợi nhuận chi phí cho các chương trình giảng dạy và nâng cấp. Do đó số lượng phòng học, thư viện, phòng tập thể dục, phòng thí nghiệm và các hổ trợ khác sẻ được đầu tư đúng mức. Số lượng giáo viên sẻ tăng lên để giảm số lượng học sinh mỗi lớp xuống trong khoảng 25 hay 30 học sinh, để tăng chất lượng giáo dục. Thư viện công cộng là nhu cầu kiến thức, khoa học, giải trí cho dân cư trong vùng. Số lượng thư viện sẻ tính trên số dân cư trong vùng. Còn ngân sách thì do nhà nước hổ trợ, doanh nghiệp tư nhân trong khu vực, các mạnh thường quân đóng góp, tiền thuế của dân trong vùng đóng góp. Thư viện là nơi gia tăng kiến thức phổ thông cho mọi thành viên trong xã hội. Nếu người dân đóng thuế trong khu vực đó là phường, quận, xã là 10 ngàn người hay 20 ngàn người nên có một thư viện công cộng. Ngoại trừ các nơi đả có sẳn chợ như chợ Bến Thành, Chợ Lớn, Chợ An Đông, Chơ Cầu Ông Lảnh; chính phủ trung ương và địa phương nên phối hợp phát triển các chợ theo mức dân số trong vùng có hệ thống để dể quản lý các hoạt động như mức độ giao thông, thuế, công việc, an toàn thực phẩm, mỷ quan đô thị cho việc qui hoạt phát triển đô thị. Sự gia tăng dân số, lưư lượng xe máy, xe hơi sẻ tăng lên, mà đường xá nhỏ hẹp không thể giải toản để phát triển. Đo đó các giấy phép xây dựng nên hạng chế tại các khu vực nội thành, để khuyến kích mở rộng phát triển đô thị ra vùng ngoại thành dể dàng trong việc qui hoạch và xây dựng đường xá có động rộng phù hợp, củng như bải đậu xe, các phương tiện công cộng như xe buýt, xe taxi, xe điện chạy trên đường treo hay dưới hầm, hay Sân bay và trạm xe điện quốc gia.


Sự phát triển kinh tế của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á cần được sự giúp sức về vốn, khoa học kỷ thuật từ Nhật Bản, củng như các trao đổi mậu dịch song phưong và đa phương. Khi Nhật Bản nhận ra giá trị gia tăng cho thị trường nội địa thông qua chính sách đầu tư và trao đổi mậu dịch với các thành viện Đông Nam Á, thí họ sẻ giảm nguồn đầu tư vào Trung Quốc và chuyển sang đầu tư vào khu vực ASEAN. Điều quan trọng kế tiếp là chính phủ các quốc gia ASEAN cần tăng cường vấn đề an ninh trong việc ổn định tình hình chính trị trong nước sẻ thu hút nhiều hơn nguồn đầu tư lâu dài từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, và Trung Đông. Những khủng hoảng chính trị trong khu vực như vụ đánh bom ở Ấn Độ, Indonesia, và Áp-ga-nis-tan là những việc làm mang tính chính trị. Nhưng đằng sau là phục vụ cho mục đích kinh tế của các nhóm tài chính đa quốc gia. Cuộc nội chiến ở ViệtNamtừ 1945-1975 có thể giải thích cho việc có nhiều quốc gia làm giàu thông qua các cuộc chiến ở quốc gia lân cận. Bên cạnh đó các nhóm công nghiệp quốc phòng và tài chính luôn có khả năng kiếm lợi nhuận do các cuộc chiến gây ra vì họ có thể cung cấp quân cụ, thiết bị, quần áo, thức ăn, và các loại dịch vụ khách cho chính phủ thông qua các hợp đồng với bộ quốc phòng.

Do đó muốn gia tăng phát triển kinh tế Việt Nam cần gia tăng tinh thần yêu nước, trách nhiệm, tính chân thật, nhiệt tình, say mê, học hỏi, đoàn kết để mở ra cánh cửa mời chào các quốc gia có nền công nghệ tiên tiến vào đầu tư, đồng thời cùng nâng cao trình độ dân trí trong nước để đảm đương các trách nhiệm to lớn và lâu dài hơn. Nhật Bản có lẻ là một vị dụ cho việc phát triển kinh tế và tăng cường các chính sách quản lý thị trường cổ phiếu, bất động sản, tài chính, chính sách tiết kiệm và phát triển kinh tế toàn diện. Hiện tại nền kinh tế Nhật Bản gặp nhiều thử thách cho việc khuyến khích mức tăng trưởng dân số để giảm gánh nặng cho chính phủ trong việc cung cấp tiền hưu trí, dịch vụ sức khỏe và các chi phí xã hội khác. Đồng tiền Yen củng tăng giá làm giảm đi sự cạnh tranh của hàng hóa của Nhật Bản tại các quốc gia. Các công ty của các quốc gia củng chiếm dần các thị trường mà trước đây Nhật Bản từng là nhà vô địch như xe hơi từ Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ; máy truyền hình và điện thoại di động và máy phục vụ gia đình từ Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan.

Muốn hiểu nền kinh tế Nhật Bản vận hành thế nào là quá trình nghiên cứu tốn nhiều công sức, thời gian, tiền bạc, và sự giúp đở của người Nhật. Khi nhìn qua hai bức hình của thành phố Tokyo năm tháng 8 năm 1945, và Tokyo tháng 12 năm 2009, một cán bộ quản lý hay nhân viên Việt Nam sẻ luôn tư hỏi điều gì đả giúp Nhật Bản thay đổi và thành công như vậy. Đó là sự kỳ diệu cho quá trình phát triển kinh tế của xứ sở hoa Anh Đào. Sau chưa đầy 25 năm, nước Nhật đả đạt được tổng sản phẩm quốc dân sau Hoa Kỳ trong đầu thập niên 70s, và vược qua mức thu nhập của Hoa Kỳ vào giữa thập niên 80s. Hiện nay có nhiều sự chọn lựa cho việc học hỏi từ các thành phố như Thượng Hải của Trung Quốc, Singapore của Singapore và Hồng Kông, Hán Thành của Nam Triều Tiên và Đài Loan. Nhưng có nhiều giá trị mà Việt Nam có thể thêm vào từ các bài học kinh nghiệm của Nhật Bản hay các quốc gia trong khu vực là văn hóa dân tộc và truyền thống chính trị quốc gia.

Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển mối quan hệ vơí Nhật Bản nếu các doanh nghiệp biết cách phát triển các thế mạnh của mình để tạo uy tín cho đối tác Nhật Bản. Ở Đông Nam Á, Đông Á có nhiều quốc gia củng có nguồn lao động dư thừa hay nhân công rẻ, lẩn nguồn tài nguyên sẳn có, nhưng điểm mấu chốt thu hút đầu tư là sự ổn định về chính trị, luật lệ của môi trường kinh doanh và đầu tư, cùng với những chính sách giáo dục đào tạo của chính phủ giúp nâng cao tay nghề, kiến thức cho người lao động sau khi tốt nghiệp ra trường phổ thông trung học cấp ba. Ngoài ra nhân công củng cần có thái độ làm việc nhiệt tình, say mê với tinh thần trách nhiệm cao. Với quan niệm là dù làm việc cho ai, người làm công củng phát huy tinh thần say mê, hăng say, và nhiệt tình trong làm việc, lao động và cải thiện. Chính phủ có thể làm việc với các cơ quan chính quyền Nhật Bản và các công ty trong việc phát triển các khu công nghiệp chuyên môn cao. Cùng phía Nhật Bản phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng rất cần thiết cho nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng từ 104 tỉ USD lến hơn 900 tỉ USD trong năm 2030.

Điểm quan trọng là các bước phân tích chiều sâu dựa trên các báo cáo thực tế và so sánh mà chính phủ Việt Nam thực hiện cho các khâu chuẩn bị của chiến lược phát triển thị trường nội địa, cải thiện môi trường đầu tư, hệ thống giáo dục đào tạo công nhân các kiến thức chuyên môn, ngôn ngữ giao tiếp căn bản, thái độ làm việc nhiệt tình, tôn trộng cấp trên và đồng nghiệp. Các doanh nghiệp Nhật Bản sẻ cảm thấy dể dàng giao tiếp với đối tác và nhân viên ViệtNamhơn. Trung Quốc thu hút nhà đầu tư Nhật Bạn vì có thị trường 1.3 tỉ người, ngoài ra nhiều tài nguyên cho các sản phẩm tiêu dùng trên thế giới. Chử viết  Kanji của Nhật củng có nguồn gốc từ chử Hán, giúp người Nhật hiểu người Trung Quốc hơn là các quốc gia khác. Trung Quốc có khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ canh tranh trên toàn cầu tư thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Nam Mỹ đến các quốc gia Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, Châu Phi và Đông Âu giúp nâng mức tiêu thụ của người dân Trung Quốc để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản trong các loại kinh doanh mậu dịch, bán lẻ, thức ăn nhanh, nhà hàng Nhật Bản và dịch vụ tài chính.

Yếu tố kiên nhẩn, luôn nắm vững các khả năng của đối tác trước khi thương lượng giúp các doanh nghiệp Nhật Bản thiết lập mối giao dịch lâu dài với các đối tác quốc tế. Việt Nam có thể liên doanh với các công ty Nhật Bản nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh mới trên thị trường toàn cầu với mục tiêu doanh thu của hàng xuất khẩu hằng năm từ 5 tỉ đến 60 tỉ USD trong kế hoạch phát triển 5 năm. Cùng với các đối tác như Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Châu Âu, Úc, Hàn Quốc, Đài Loan, Phi Châu, Trung Đông, Trung Quốc, Việt Nam có thể đạt được mức tổng sản phẩm quốc dân là 1000 tỉ USD vào khoảng vào năm 2030. Tỉ lệ gia tăng này do sự đóng góp của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân. Nhân viên của lảnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài sẻ làm thêm nhiệm vụ là gia tăng tiếp thị và mở rộng thị trường của các thương hiệu Việt Nam tại các quốc gia trên thế giới. Các lãnh sự quán sẻ thành lập các hội thảo hay chương trình khuyến khích đầu tư tại các khách sạn lớn tại New York, Luân Đôn, Paris, Tokyo, Singapore, Thượng Hải nhằm thu hút nhà đầu tư trên thế giới. Có rất nhiều nhà đầu có vốn và khả năng phát triển tại Việt Nam, nhưng do thiếu thông tin và sự bất ổn định về hệ thống pháp luật cho quyền sở hửu và tài chính tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài vẩn chưa dám đầu tư vào thị trường Việt Nam. Chính phủ cần quảng cáo hiệu quả các dự án đầu tư vào Việt Nam tại các thị trường có nguồn vốn lưu động cao. Bên cạnh đó các lãnh sứ quán Việt Nam tại các thị trường có sức tiêu thụ mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Đông, Nam Mỹ, Canada, Úc nên nghiên cứu các yêu cầu vền mẫu mã, chất lượng, giá cả của sản phẩm tại thị trường này để cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị để tiếp thị trong các hội chợ triển lãm quốc tế. Tiêu chuẩn cao, chất lượng thiết kế, chất liệu sử dụng, độ bền, màu sắc, giá cả là điều quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng và phát huy tiềm năng của mình.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam có thể cải cách trong các môn về hướng nghiệp như điện, hoá sinh, nử công gia chánh, điện công nghiệp, cơ khí, ngoại ngữ, kế toán, mậu dịch, nông nghiệp cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12, các môn học này sẻ củng cố những kiến thức cần thiết cho học sinh trong việc tiếp cấn các công đoạn làm việc hiện đại có hiệu xuất cao hơn và hiệu quả hơn. Để giúp học sinh có thể xin việc làm ngay sau khi tốt nghiệp lớp 12. Họ có thể vào làm việc cho các khu chế xuất trong các lĩnh vực điện tử tiêu dùng, cơ khí máy móc xe hơi và xe gắn máy, hoá sinh cho công ty dược phẩm và hóa chất, may mặc. Sự tiết kiệm về thời gian và điều kiện cơ sở vật chất giúp các học sinh lớp 12 có được một tay nghề cơ bản khi tốt nghiệp ra trường. Nhất là môn ngoại ngữ, giao tiếp, phục vụ khách hàng trong các ngành kinh tế dịch vụ hay du lịch ăn uống. Bộ Giáo Dục sẻ dựa trên sự phân tích của nhu cầu thị trường cho các ngành điện tử, hóa sinh, dịch vụ, may mặc mà có ngân sách và các chính sách hợp lý đào tạo giáo viên, chuyên viên có năng lực giảng dạy tại các trường trung học và trung tâm dạy nghề với sự đầu tư thiết bị, phòng thí nghiệm, tài liệu giảng dạy thực tế và mang tính chuyên môn cao.

Đây củng là một bước phát triển cho việc tạo ra nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp và kinh tế đặc khu trong tương lai. Nhất là khả năng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản. Những đức tính mà cán bộ và nhân viên cần phát triển là trách nhiệm, trung thành, và hợp tác tôn trọng cho lợi ích chung của doanh nghiệp Nhật Bản và nhân viên Việt Nam. Với dân số 126 triệu người, nền kinh tế lớn hơn nền kinh tế Việt Nam 53 lần là điều mà mọi người Việt Nam sẻ luôn phấn đấu cho hai mươi năm sắp tới. Khả năng phát triển kinh tế của Nhật Bản phát xuất từ giá trị con người, khiêm tốn, văn hoá, truyền thống, lịch sử, gia đình, công ty, chính phủ trong suốt giải đoạn sau thế chiến thứ hai. Nếu niềm tin và sự cởi mở từ phía Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật Bản củng như các cơ quan chính phủ Nhật Bản được gia tăng thì sự hợp tác phát triển sẻ còn đi xa hơn nửa.

Các Giá Trị Kinh Tế và Văn Hóa của Nhật Bản Cho Sự Phát Triển Kinh Tế ở Việt Nam

“Học hỏi và so sánh là các đức tính cần thiết cho một nhân viên giỏi. Hơn thế nửa là kiên nhẩn và tôn trọng sẻ giúp ngưòi nhân viên nâng cao khả năng của mình.”

*****

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chuyển sang các giai đoạn thiết yếu: (1) tái xây dựng nền kinh tế, (2) cải cách quản lý, đầu tư, và phát triển kinh tế, (3) gia tăng tốc độ phát triển kinh tế, (4) mở rộng thị trường thế giới trên nhiều lĩnh vực tài chính, công nghiệp, hóa sinh, sản phẩm giải trí và văn hóa, (5) điều chỉnh vai trò của Nhật Bản trong khu vực Châu Á và thế giới trong cả hai mặt kinh tế và ngoại giao. Khi các nhà kinh tế và nghiên cứu Hoa Kỳ và Châu Âu thường nhận ra sự thành công của Nhật Bản do sự đóng góp phần nhiều bởi các tập đoàn kinh tế, công nghiệp, mậu dịch của Nhật Bản. Nhưng Giáo Sư Takafusa Nakamura ở đại học Tokyo tái khẳng định giá trị này bao gồm chính sách của chính phủ, sự hợp tác trong các khu vực kinh tế tư nhân và chính phủ, mối quan hệ tốt đẹp của quản lý lao động, và nhiều tác nhân khác tạo ra một sự hòa hợp hiệu quả cho sự gặc hái các thành công trong kinh tế ở Nhật Bản. Bên cạnh đó giáo sư củng giải thích hai giá trị khách quan là môi trường quốc tế thuận lợi trong giai đoạn này và sự nổ lực của người dân Nhật Bản đả góp phần cho sự phát triển kinh tế kỳ diệu của Nhật Bản.

Trong giai đoạn sau chiến tranh, Nhật Hoàng Hirohito bắt đầu công việc của mình là viến thăm nhiều nơi trên đất Nhật, tạo ra sự động viên về tinh thần cho mọi người dân như là một người đại diện của hoàng tộc, một thành viên trong xã hội Nhật Bản với tính khiêm nhường, thông cảm, những sở thích học thuật như nghiên cứu sinh hóa hải dương. Người dân Nhật luôn đặt ra những mục tiêu khó khăn hơn cho mục tiêu trước mắt, nhất là phải theo kịp các quốc gia phưong tây và vược qua các quốc phương tây. Làm việc cậc lực, suy nghĩ liên tục không ngừng cho những vấn đền mà họ cần hoàn thành và vượt qua. Có thể nói là hơn cả hy sinh đơn thuần. Nhật Bản chia ra ba khu vực kinh tế - (1) khu vực kinh tế cần nhiều sức lao động, (2) khu vực kinh tế cần nhiều nguồn vốn, (3) khu vực kinh tế cần nhiều kiến thức. Khu vực kinh tế cần kiến thức là mục tiêu mà Nhật Bản đả đầu tư với nhiều ưu tiên trong việc  hàng năm dành ra số ngân sách của chính phủ và tư nhân cho các công trình nghiên cứ và phát triển khoa học công nghệ và sản phẩm. Các ngân hàng có nhiệm vu thu hút vốn từ tiền tiết kiệm của người dân để cung cấp các loại vốn vay cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhờ vậy tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế xuất khẩu phát triển rất mau, giúp Nhật Bản không chỉ theo kiệp các quốc gia công nghiệp tiên tiến mà còn vượt qua các quốc gia này trên nhiều khía cạnh.

Thuê mướn làm việc suốt đời là đặc tính thứ nhất của Nhật Bản, giúp cho sự trung thành của nhân viên vào sự thành công của công ty. Nếu công ty phát triển và làm ăn có lời, thì mọi thành viên của sẻ được hưởng lợi ích. Ngoài ra nếu khi nhu cầu tiêu thụ giảm, các doanh nghiệp vẩn ít khi xa thải nhân viên, chỉ có thể giảm giờ làm trong giai đoạn này. Các công ty lớn thường cung cấp nhà ở cho nhân viên và các điều kiện giải trí thể thao khác, hay tổ chức các lớp học cấm hoa, cách thức pha trà và câu lạc bộ thể thao cho nhân viên và gia đình nhân viên tham gia. Các công ty nhỏ có thể không có nguồn kinh phí lớn như công ty lớn, do vậy sự quan tâm của công ty có thể là các buổi du lịch hay dã ngoại ở ngoài biển do chủ công ty hay vợ của giám đốc tổ chức. Sự gắn chặc mối quan hệ giữa công ty và nhân viên thông qua nhiều hình thức và hoạt động. Như sự hổ trợ cho nhân viên tu nghiệp hay đi học. Công ty thường có bài hát riêng cho đầu giờ của một ngày làm việc. Đồng phục, phần thưởng của công ty luôn gắn chặc nhân viên trong mối quan hệ tập thể và sự phấn đấu không ngừng. Nhân viên sau giờ làm thường cùng nhay đi ăn tối hay uốn rượu bia ở các quán bar. Do sự thuê mướn suốt đời, nên các công ty có trên 100 nhân viên sẻ áp dụng sự nghỉ hưu bắt buộc, khi nhân viên bước sang tuổi 55 hay 60 tuổi. Nhưng hiện nay do sự khan hiếm về lao động, các nhân viên qua tuổi 60 vần còn tiếp tục làm việc. Một số công ty do thiếu nhân viên, đả gia tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi. Nhưng người nghỉ hưu ít khi nghỉ ở nhà, mà họ sẻ tìm một việc khác để làm như làm nhà tư vấn, làm bán thời gian, mở một doanh nghiệp nhỏ nơi mà không có sự ràng buộc phải nghĩ hưu ở tuổi nào.

Giá trị thứ hai của văn hoá trong kinh tế Nhật Bản là phân công đoạn sản xuất ra nhiều công đoạn nhỏ và chuyển cho các công ty khác gia công sản xuất. Có nghĩa một công ty sản xuất tivi hay xe hơi sẻ không nhất thiết chế tạo ra 100% linh kiện và bộ phận rồi lấp ráp lại, mả chỉ sản xuất một phần của các linh kiện, phần còn lại sẻ giao cho các công ty khác làm. Các công ty nhỏ gia công linh kiện cho các công ty lớn không phải tốn các chi phí về nghiên cứu củng như các chi phí hành chính khác, vì các chi phí này đều do công ty lớn lo, hay còn gọi là công ty mẹ. Như hảng Toyota sẻ có rất nhiều công ty con cung cấp linh kiện cho việc sản xuất xe hơi Camry hay Corrola hay Prius. Nhưng các công ty nhỏ lệ thuộc vào sự thành công của các công ty lớn cho việc tiếp tục có đơn đặc hàng cho các linh kiện cần gia công và cung cấp. Cơ cấu quản lý trong các tập đoàn của Nhật giống như một gia đình, có người cha quả lý ở trên, và các người con quản lý các bộ phận bên dưới, rồi tỏa xuống theo thứ bậc. Đó là các nhóm công nghiệp keiretsu bao gồm công ty tài chính, nhà sản xuất, công ty gia công công đoạn, nhà phân phối và nhà mậu dịch xuất nhập khẩu. Một ví dụ cho nhóm tập đoàn Sumitomo, trong năm 1991, Sumitomo bao gồm nhiều nhóm xí nghiệp và công ty nhỏ nằm trong gia đình Sumitomo: công ty mậu dịch xuất nhập khẩu Sumitomo, ngân hàng Sumitomo, hảng sản xuất điện tử NEC, những công ty nhỏ trong hệ thống – Kojima Corp, Sumitomo Chemical, Sumitomo Metals, Sumitomo Heavy, Sumitomo Cement, Sumitomo Bakelite, Sumitomo Precision, Nippon Glass và các công ty khác. Ngoài ra các công ty mậu dịch lớn của Nhật Bản có doanh số thu nhập rất lớn, sau đây là các công ty C. Itoh 115.71 tỉ USD, Mitsui & Co 110 tỉ USD, Sumitomo 109 tỉ USD, Mitsubishi 107.86 tỉ USD, Marubeni 105.71 ti USD trong năm 1989, có nghĩa cách đây 21 năm, khi đó tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản là 2386 tỉ USD trong năm 1987. So với hiện tại GDP của Nhật trong năm 2009 là 5.05 ngàn tỉ USD. Các mối quan hệ này tạo ra một đóng góp đồng bộ giúp cho nền kinh tế của Nhật Bản phát triển trong giai đoạn 1945-1990 với sự đóng góp của các gia đình công nghiệp và keiretsu là khoảng 20% GDP của Nhật Bản.

Mức tiết kiệm cao ở Nhật Bản giúp cho các ngân hàng và công ty tài chính có vốn tái đầu tư trong các ngành kinh tế xuất khẩu, tiêu dùng và nghiên cứu. Từ 1961 đế 1979, mức tiết kiệm khoảng 18.2 % đến 22.1% thu nhập của người dân Nhật. So với Hoa Kỳ là 5.4% đến 8.8%. Nhờ vậy Nhật Bản tự túc được nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế giúp quốc gia tăng nhanh năng xuất sản xuất của nền kinh tế và giá trị GDP tăng hàng năm. Chính một trong các giá trị mà doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng trong giai đoạn gia tăng tốc độ phát triển kinh tế là hoạt động trên 20% vốn tự có và 80% vốn vay, cùng lúc luôn giữ mức nguyên vật liệu ở mức thấp cho thời gian sản xuất là 5 ngày đến 7 ngày trước khi đơn đặc hàng mới được chuyển đến. Như vậy tính theo giá trị kinh tế thì vòng xoay vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản rất cao.

Sự hợp tác quốc gia dưới sự điều phối của các cơ quan chính phủ Nhật Bản trong các chính sách ưu tiên cho ngành nghề nào cần phát triển và xử dụng vốn và công nghệ như thế nào. Sự thành công trong việc hợp tác giữa chính phủ, giới công nghiệo và nhóm tài chính, và lực lượng lao động tạo ra một sự hoàn hảo của mức đầu tư cao, chất lượng nghiệp vụ của lực lương lao động, sự kết hợp chặc chẻ và thống nhất của các tổ chức doanh nghiệp, và tốc độ điều phối công nghệ và khoa học kỷ thuật cho các ngành kinh tế chủ đạo có giá trị xuất khẩu cao. Ngoài ra sự hiệu quả của việc xử lý các vấn đề mà giám đốc, trưởng xưởng đối với nhân viên luôn tiết kiệm thời gian nhất là nhân viên có thể thảo luận với cấp trên nhanh hơn cho các biện pháp xử lý. Tức là khoảng cách mà nhân viên có thể liên lạc với cấp hiệu quả hơn so với các quốc gia khác. Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích sự phát triển của hệ thống giáo dục chú trọng đến khoa học kỷ thuật và ngôn ngử quốc tế, tăng cường hợp tác và cạnh tranh nhưng không phải đối chọi trên thị trường, cung cấp vốn cho các ngành xuất khẩu, hổ trợ các dự án hợp tác với chính phủ nước ngoài, luôn khuyến khích thị trường nước ngoài mở cửa.

Khi tham khảo các vấn đề trong công việc, nhân viên cấp dưới có thể thảo luận với cấp trên trong thái độ khiêm tốn và lặng lẻ, và đưa ra các ý kiến cho cấp trên biết trước khi vấn đề được bàn thảo công khai. Đó là một trong các bước mà nhóm làm việc tạo ra, hơn là tự đưa ra ý kiên để lấy điểm trước tập thể. Các thay đổi và sửa chữa sẻ có người chịu trách nhiệm xử lý. Các ý kiến và kế hoạch luôn được thông qua cho tất cả mọi thành viên tham khảo để biết trước nội dụng. Còn quyết định cuối cùng vẩn là ở cấp trên. Sự làm việc của các nhân viên Nhật Bản ở mức độ cao trên thế giới so với các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp. Quá trình làm việc theo chu kỳ vòng tròn từ khởi điềm cho đến khi quyết định cuối cùng trải qua nhiều bước cho toàn thể công ty cùng tham khảo trước khi được phê chuẩn cho việc áp dụng và thực hiện.

Giá trị và nhiệm vụ của kỷ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bơỉ vì Nhật Bản nhận ra đất nước của họ không có nhiều tài nguyên như các quốc gia khác, khả năng mà họ phải đạt được là phát triển các ngành khoa học nghiên cứu, công nghệ kỷ thuật cao, hệ thống tính toán theo thần kinh logic, hóa sinh, gia tăng giá trị cho các sản phẩm ưu việc phục vụ thị trường trên thế giới. Nền kinh tế Nhật Bản và xã hội Nhật Bản đang chuyển sang gia đoạn hoàn thiện của các giá trị xuất phát từ con người hay người tiêu dùng và ứng dụng các lợi ích của thông tin và trong sinh hoạt cuộc sống và kinh doanh. Có nghĩa khoa học công nghệ sẻ nối kết tất cả mọi hoạt động với nhau và mục tiêu cuối cùng là phục vụ con người. Trong năm 2008 giá trị kinh tế của nông nghiệp chỉ chiếm có 1.5% GDP, công nghiệp chiếm 26.3% GDP, và các loại kinh tế dịch vụ cần nhiều giá trị kiến thức và khoa học kỷ thuật đóng góp đến 72.3% GDP. So với Úc thì kinh tế dịch vụ đóng góp là 69.8% GDP, còn Trung Quốc là 40.1% GDP, Ấn Độ là 53.4% GDP.

Đó là một số điểm khái quát về văn hóa trong kinh doanh và hoạt động kinh tế Nhật Bản có thể giúp nhân viên và cán bộ quản lý Việt Nam có một niềm đam mê học hỏi ở Nhật Bản. Điều quan trọng là làm sao tạo ra khả năng của một con người có thể nối kết với công ty hay tập thể để cùng nhau phát triển về tương lai. Sự trung thành, hy sinh, tôn trọng, khiêm nhượng, và kiên nhẩn luôn là sự kết hợp hoàn hảo. Ở Nhật Bản, sự phát triển là vận đống thăng tiến liên tục. Việt Nam cần có khái niệm hy sinh cho công ty, cho doanh nghiệp, cho tổ chức cơ quan nhằm khuyến khích mọi thành viên đóng góp nhiều hơn, làm việc nhiệt tình hơn, biết phát huy sáng kiến cho lợi ích chung. Trung Quốc, Ấn Độ là hai bài học cho Việt Nam phát triển về công nghệ thông tin và kỷ nghệ sản xuất cho xuất khẩu ở giá thành cạnh tranh và tiêu chuẩn quốc tế.

Các Giá Trị Của Trung Quốc Mà Việt Nam Cần Học Hỏi

“Không có công thức nào giúp một quốc gia thành công hoàn toàn, nhưng quốc gia đó có khả năng khai thác tiềm năng của mình thông qua việc khai thác tài nguyên, quản lý con người, và tạo điều kiện cho con người kinh doanh thành công.”

*****
John Naisbitt và Doris Naisbitt, giảng sư tại đại học Nanjing, Nankai và Tianjin ở Trung Quốc. Họ thành lập ra viện nghiên cứu Naisbitt ChinaTianjin cho việc nghiên cứu, giảng dạy về kinh tế tại Trung Quốc. Mặc dù họ là người Áo, nhưng sự say mê của họ về Trung Quốc đưa họ đến quốc gia này làm việc và sống trong thời gian dài. Chính vì lẻ đó cái nhìn của họ về Trung Quốc khác với các tác giả khác. Tôi chi nêu lại các kết luận mà hai giáo sư này nhận xét và phân tích lý do nào mà Trung Quốc thành công trong việc phát triển kinh tế của mình trong giai đoạn 1979-2010.

Họ ca ngợi các giá trị mà chính phủ Trung Quốc làm được trong việc giảm đi số lượng dân có mức thu nhập nghèo vượt qua con số 300 triệu người trong vòng 3 thập niên. Mà trong đó có sự di chuyển của hơn 200 triệu người từ vùng nông thôn lên thành thị cung cấp nguồn lao động cho sự tăng trưởng GDP liên tục ở mức trên 10% trong suốc hơn 2 thập niên và giảm dần cho mức 9%, 10% trong các năm gần đây. Bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc củng biết khai thác cơ hội để phát triển ra thị trường nước ngoài. Mặc dù có nhiều ý kiến về các giá trị văn hóa, xã hội tại Trung Quốc không tương đồng với các giá trị tại Phương Tây, như kết quả mà Trung Quốc làm được có thể khẳng định một điều là Ấn Độ củng có số dân đông như Trung Quốc nhưng không phát triển mạnh và nhanh như Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ có chế độ chính trị đa đảng, còn Trung Quốc chỉ có một đảng chính trị. Sau đây là một phần tóm lược ý kiến của hai giáo sư này cho các giá trị mà Trung Quốc đả làm được trong ba thập niên qua.

Khái niệm tái kiến thiết Trung Quốc ra đời vào năm 1979. Các công ty hay xí nghiệp đang hoạt động trên bờ vực bị phá sản. Người điều hành doanh nghiệp hay xí nghiệp đả chọn ra những kế hoành đầy tham vọng, có tầm nhìn xa, kiên quyết, nhất quán để biến đổi lực lượng lao động của họ trong tình trạng có trình độ kém, luôn bị quản thúc hay quản chế cho từng hành vi, quá dể dải thành một lực lượng làm việc với những phương thức, tinh thần hoàn toàn khác.

Bước đầu tiên mà nhà quản lý muốn làm là chọn ra cho mình một đội tinh nhuệ nồng cốt có thể đảm nhận công việc hiệu quả, và nắm rỏ mục tiêu mà doanh nghiệp họ muốn hoàn thành. Nhân viên cấp dưới biết suy nghĩ mạnh mẻ hơn để cung cấp sáng kiến và cải tiến trong công việc. Khả năng tự chủ, tự tin này giúp nhân viên tăng them tinh thần làm việc và long tự trọng trong công việc. Mọi người can đảm hơn trong việc có trách nhiệm đóng góp cho doanh nghiệp của mình phát triển.

Bước tiếp theo là cán bộ quản lý sẻ tạo ra môi trường làm việc mới nhằm tăng cường khả năng trao đổi ý kiến, đóng góp ý kiến, truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên xuống cấp dưới, hay từ cấp dưới lên cấp trên. Sự trao đổi và đóng góp này mang tính xây dựng và hoàn thiện cho doanh nghiệp, do đó mọi người luôn tin tưởng là ý kiến của mình sẻ không gây tại họa cho bản thân. Mọi người sẻ nhiệt tình đóng góp cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Nó không tạo ra mâu thuẩn mà tạo ra quá trình lập đi, lập lại cho sự hoàn thiện mỗi ngày.

Bước thứ ba là khẳn định mục tiêu mà doanh nghiệp theo điểu. Thành lập ra giá trị riêng cho doanh nghiệp gọi là văn hóa của doanh nghiệp. Nó đảm bảo mọi người sẻ có lợi khi cùng nhau thực hiện các qui ước này một cách tự giác và có ý thức cao. Sự thành công của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, có như vậy thì doanh nghiệp mới cung cấp thu nhập, tiền thưởng và các lợi ích khách cho mọi thành viên. Mọi thành việc sẻ hoạt động theo các khuôn mẫu đả đề ra, nhưng các tài năng vẩn có thể phát triển vượt ra ngoài các khuôn mẫu này cho sự lớn mạnh của công ty. Công ty sẻ xem xét kết quả này để điều chinh lại chiều kích mới cho khuôn mẫu mới để mọi thành viên khác cùng noi theo. Như vậy khuôn mẫu giúp mọi thành viên hoạt động hiệu quả, nhưng các tài năng hiếm có vẩn có thể gia tăng sức sang tạo và giá trị cống hiến cho công ty ở mức cao và linh động.

Bước thứ tư là khả năng xây dựng niềm tin và loại dần cảm giác sợ hải. Lòng tin sẻ giúp mọi người giám làm đển chọn ra kết quả đúng. Có nghĩa làm thử để loại cái sai, chọn cái đúng được chấp nhận vì mọi người chưa tạo ra một tiêu chuẩn thống nhất cho chiến lược lâu dài. Đó là cơ hội để sự sang tạo, phát minh và sang kiến có cơ hội phát huy và tồn tại trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.

Bước thứ năm là chào đón, đón nhận các giá trị nghệ thuận và trí tuệ, mặc dù đôi lúc nó đi trước thời đại. Vì các giá trị này góp phần cho sự đa dạnh của kinh doanh trong nền kinh tế, nhất là sự hình thành nhiều loại hình kinh doanh văn hóa phong phú tạo ra tác động tích cực cho các loại hình kinh tế khác tăng trưởng. Ví dụ như hội họa có thể tăng lượng du khách nước ngoài cho việc chiêm ngưỡng hay mua các tác phẩm.

Bước thứ sáu là doanh nghiệp biết thành lập nền móng tại thị trường nội địa, sau đó mở rộng sang các thị trường nước ngoài. Đồng thời mời gọi đối tác, nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác, để học hỏi công nghệ hiện đại, công nghệ mới giúp công ty tăng khả năng cạnh tranh.

Bước thứ bảy là hành vi của một người sẻ ảnh hưởng lên người khác. Sự thành công của một người luôn tạo ra sự ganh tị cho người khác. Trong khi đó thất bại lại gây ra sự than phiền từ người khác cho hành vi của mình. Thường một người có tài sẻ leo dân lên nấc thang của sự thành công, ngược lại những người không có khả năng sẻ bị khựng lại cho ví trí của mình. Quá trình này tạo ra sự hoàn thiện của quá trình sản xuất vì mọi người nhận ra sự cải tiến, sang tạo được nhận phần thưởng là chức vụ cao hơn, lương cao hơn. Sự công bằng và tự do cho đóng góp và khen thưởng sẻ giúp sự hòa hợp tồn tại và phát triển ổn định trong doanh nghiệp.

Bước thứ tám là Khi doanh nghiệp đả tạo ra chổ đứng trong thị trường, thì doanh nghiệp phải chuyển dần từ việc bắt chước các sản phẩm nước ngoài sang việc tự chế tạo ra sản phẩm do mình nghiên cứu và tạo ra sự tin tưởng và ưa thích của người tiêu dùng. Các quá trình được cải tiến, nâng cấp để tăng chất lượng, hiệu xuất, số lượng của sản phẩm tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Như vậy cuộc sống của mọi thành viên trong doanh nghiệp củng được cải thiện và nâng cấp.

Tám giá trị này được biểu hiện không chỉ ở doanh nghiệp kinh tế, mà còn ở các cơ quan chức năng trong chính phủ. Điều này có thể nhận ra khi chính phủ luôn biết cách hổ trợ doanh nghiệp kinh tế thông qua giúp vốn vay ưu đải, công nghệ cho việc phát triển tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các giao dịch mua các thương hiệu nước ngoài, trên danh nghĩa là do các doanh nghiệp kinh tế Trung Quốc thực hiện, như vốn thu mua do ngân hàng của Trung Quốc cung cấp. Tám giá trị vửa nêu còn gọi là tám trụ cột xã hội mà nền kinh tế của Trung Quốc dựa vào để phát triển trong ba thập niên qua. Nền kinh tế của Việt Nam có thể áp dụng phần nào tám giá trị này cho việc tăng tốc nền kinh tế từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.

Ấn Độ và Giá Trị Quản Lý của Các Doanh Nghiệp Công Nghệ Thông Tin

“Khả năng sử quản lý nguồn nhân sự, tài nguyên, khai thác thị trường là một sự phối hợp không chỉ do trình độ của ban quản lý của một doanh nghiệp, mà nó còn mang giá trị văn hóa của quốc gia đó tác động lên sự thành công trên thị trường trong nước và ngoài nước.”

*****


Cán bộ quản lý củng không quên là có thể học hỏi như thế nào đối với các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc phát triển công nghệ thông tin và mở rộng sang các loại ngành kinh tế khác. Ấn Độ có tỉ lệ dân số rất lớn không tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở, do nhiều nguyên nhân. Như bù lại các thành phố lớn có tỉ lệ lớn sinh viên tốt nghiệp trong các ngành kinh tế, khoa học, nghiện cứu mũi nhọn. Nhờ đó mà nền kinh tế của Ấn Độ có khả năng cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ và công nghiệp này.

Sau đây là một trong các thành công của nền công nghiệp phần mềm mà Ấn Độ làm được trong ba thập niên vừa qua. Đó là sự thành công của công ty Wipro có giá trị thị trường hiện nay là hơn 30 tỉ USD vào tháng 2 năm 2011. Công ty công nghệ thông tin của Ân Đố này đả áp dụng các chiến lược phát triển thần kỳ tạo ra mức doanh thu và giá trị thị trường gân bằng 1/3 GDP của Việt Nam. Như vậy nếu Việt Nam có hai công ty như công ty Wipro thì củng có thể tăng lên giá trị thị trường là 60 tỉ USD.

Các giá trị nào mà công ty Wirpo đả áp dụng thành công? (a) mở rộng thị trường không tạo ra sự bất ổn và xáo trộn, (b) thực hiện các qui luật của xuất khẩu công đoạn, (c) cải tiến và nâng cấp mỗi ngày, (d) luôn quan tâm khách hàng một cách cao độ, (e) khuyến khích nhân viên làm việc theo phương thức của Wipro, (f) chuẩn bị kế hoạch trước ba năm cho tốc độ tăng trưởng nhanh. Wirpo đả chọn chổ đứng cho mình trong việc cung cấp nguồn chất xám giá rẻ thông qua kết nối mạng internet đối với khách hàng trong và ngoài nước. Trong năm 2000, công ty phát hành cổ phiếu đầu tiên tại thị trường New York, khi công ty đạt được mức doanh thu là 500 triệu USD. Năm 2006, giá trị thị trường của công ty là 20 tỉ USD, tạo ra doanh thu là 2.4 tỉ USD. Các công ty phần mềm và công nghệ thông tin của Ấn Độ thường có hai cách thành lập. Thông qua các du học sinh tại các đại học Hoa Kỳ, sau đó họ vào làm việc cho các công ty tại thông lũng Silicon ở California. Khi họ đả tích luỹ đủ kinh nghiệm, củng như tạo ra mối quan hệ làm ăn và uy tính tại thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu, thì họ quay về Ấn Độ thành lập công ty. Người bỏ vốn cho họ có thể là nhà đầu tư Ấn Độ hay Hoa Kỳ. Khi họ thành lập công ty có qui mô nhỏ, rồi phát triển dần thành một công ty quốc tế phục vụ mọi nơi thông qua nối kết mạnh cho các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Ân Độ đào tạo khoảng 120,000 sinh viên thạc sĩ và hơn 3 triệu sinh viên đại học về công nghệ thông tin hằng năm. Mức lương mà họ nhận bằng khoảng 20% mức lương của các nhân viên tại các công ty của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Có nghĩa thị trường chất xám của Ấn Độ tạo ra cơn chảy công việc từ các thị trường mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu theo giá trị so sánh: kết nối internet + chất xám giá rẻ tạo ra cơ hội kiếm tiền và tạo lợi nhuận cao. Các công ty này thuê mướn nhân viên làm việc theo ba ca, tức là họ luôn hoạt động 24 giờ một này, và 365 ngày một năm cho khách hàng trên toàn thế giới không kể sự khác biệt của múi giờ.

Tata Consultancy Services (TCS) là công ty lớn nhất về dịch vụ công nghệ thông tin tại Ấn Độ. Doanh thu của họ là 3 tỉ USD trong năm 2006. Doanh thu của họ trong năm 2010 là khoảng 6.5 tỉ USD, giá trị thị trường là khoảng 46 tỉ USD. Infosys củng là một công ty Ấn Độ có giá thị trường là 38 tỉ USD trong năm 2011, tạo ra doanh thu là 4.6 tỉ USD. Ba công ty công ty tạo ra giá trị thị trường khoảng 110 tỉ USD lớn hơn bằng GDP của Việt Nam. Cả ba công ty tạo ra doanh thu là hơn 15 tỉ USD tạo ra công ăn việc làm cho hơn 420,000 người. Đó là một trong ví dụ cho việc Việt Nam có thể phát triển các doanh nghiệp trong công nghệ thông tin có qui mô hoạt động toàn cầu. Các loại dịch vụ mà cả ba công ty này cung cấp và phục vụ khách hàng toàn cầu luôn cần nguồn cung cấp nhân tài là chất lượng mà các đại học thuộc khoa học công nghệ thông tin có thể cung cấp hằng năm cho ba loại bằng cấp: thạc sĩ, đại học và trung cấp. Mà nòng cốt là đội ngủ giảng dạy có có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp tại các đại học nước ngoài ở Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, và các quốc gia khác. www.infosys.comwww.tcs.comwww.wipro.com là ba websites của ba công ty này có thể cung cấp các loại hình dịch vụ mà Việt Nam có thể phát triển và đầu tư trong các năm sắp tới.

Cho trường hợp của công ty Wipro, cán bộ quản lý của Việt Nam có thể học hỏi các bài học sau.

Bài học thứ nhất là tạo ra khả năng cung cấp dịch vụ cho các công ty bán lẻ, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ khi giá thành cho việc chi phí ở mức thấp. Công ty có thể nhận ra tiềm năng cung cấp dịch vụ toàn cầu khi công ty thành lập bản đồ thị trường của khách hàng, qua đó sẻ chuẩn bị hệ thống kết cấu có khả năng phục vụ khách hàng ở tốc độ cao, ổn định, chất lượng bảo đảm và giá thành hợp lý. Khái niệm công ty ảo là một khái niệm mới lien quan đến sự hổ trợ của hệ thống máy tín có chức năng làm việc giải quyết các sử lý mà khách hàng yêu cầu. Những khó khăn về thời gian, ngôn ngữ, trình độ thao tác, độ chính xác luôn được quan tâm và nâng cấp không ngừng. Khách hàng là các công ty đa quốc gia do đó nhu cầu của họ không phải hạn chế hay rang buộc tại một thị trường, do đó công ty phải có khả năng hoạt động cùng lúc trên nhiều mạng khác nhau, nhằm duy trình khả năng hoạt động lien tục. Sự kết hợp trong các thao tác hay hộ trợ mang tính không biên giới cho các dịch vụ. Nhân viên có thể làm việc trong một nhóm, dù họ sống hay di chuyển tại nhiều thanh phố khác nhau, nhờ cầu nối internet toàn cầu, và bảo mật của mạnh giải mã cho các thông tin mật. Sự cải tiến là giá trị sống còn, vì các công ty đối thủ sẻ vượt qua khi công ty nhà không có biện pháp cải tiến và hoàn thiện. Sự sống của công ty nó giống như nguồn khí mà nhân viên hít thở hằng ngày, do đó tinh thần cải tiến và sang tạo luôn đi đôi với nhịp sống của mọi thành viên. Thành công là ý trí mà mọi thành viên luôn ghi nhớ và thực hiện. Nó như là khẩu hiệu, mục tiêu lâu dài cho từng cá nhân cống hiến cho công ty.

Bài học thứ hai là áp dụng các bài học chuyển tiếp cho lợi nhuận. Khai thác triệt để từng lợi nhuận dù nhỏ hay lớn để phát triển công ty. Giải thích bằng cái ví dụ giúp nhân viên áp dụng và thực hiện dể dàng. Tận dụng từng loại hình kinh doanh và áp dụng tất cả sang kiến cho việc cải thiện khả năng quản lý trong từng loại hình kinh doanh, vì khách hàng có thể hoạt động bất cứ lỉnh vực nào. Nhận ra khái niệm biến công ty thành trung tâm sang tạo và cung cấp dịch vụ toàn cần với các giá trị cạnh tranh cao nhất. Khi điều kiện cho phép, công ty sẻ tận dụng tốc độ phát triển ở mức cao nhất, nhưng đồng thời củng sẻ chuyển dần sang các loại hình kinh doanh khách nhau cho lợi nhuận được phân bổ trên nhiều loại hình kinh doanh. Nhất là khi thị trường phát triển cho các nhu cầu mới. Mục tiêu mà doanh nghiệp nên chọn ra có giá trị rỏ rệt như là giá trị thị trường của công ty, doanh thu của công ty từng năm hay kế hoạch 2 năm hay 3 năm trong tương lai. Như vậy kích thích sự phấn đấu mà nhân viên có thể đóng góp cho công ty. Khi công ty cần mở rộng thị trường, thì nên chọn giải pháp là phát hành cổ phiếu để gia tăng vốn cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Đồng thời thuê mướn nhân viên có chuyên môn cao, tay nghề, long nhiệt tình cho việc sang tạo ra các loại dịch vụ và sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của thị trường. Sáng kiến mới là nguồn động lực tiếp sức cho công ty hoạt động hiệu quả và lớn mạnh hơn. Ban lãnh đạo công ty sẻ chọn ra lý tưởng hay triết là cho công ty, mà nó được dùng như kim chỉ nam cho toàn thể nhân viên của công ty thực hiện.

Bài học thứ ba là thực hiện chiến lược để dẩn đầu một lúc tại nhiều thị trường. Sự mở rộng thị trường không có nghĩa là giảm đi sự tập trung mà doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả. Sự hoạt động hiệu quả sẻ do khả năng quản lý các nhóm hoạt động trong từng loại hình kinh doanh, như họ vẩn có thể hộ trợ cho nhau. Như vậy doanh nghiệp tận dụng hết tiềm năng và năng lực của mọi nhân viên cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng không nên phân tán ra quá nhiều tài nguyên của doanh nghiệp mà rủi ro củng có thể gây ra sự thất thu. Sự phức tạp của việc kinh doanh trong nhiều thị trường củng là một tính cách hữu ích cho doanh nghiệp, như là sự thử thách vượt qua các đối thủ khác. Khi đối diện với khó khăn, thì doanh nghiệp sẻ phân tích và rút ra các giá trị cụ thể liên quan đến ngành kinh tế dịch vụ của mình. Nó mang giá trị thiết thực, cụ thể để doanh nghiệp có thể thực hiện hiệu quả và có lợi nhuận cao hơn.

Bài học thứ tư là biết cách phát triển doanh nghiệp khi doanh nghiệp tạo ra kích thích và làm chủ tình hình trong từng loại hình kinh doanh. Nhất là từng loại thị trường kinh doanh khác nhau tạo thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Khi thâm nhập vào một thị trường mới, doanh nghiệp luôn phát triển hết khả năng nhằm gia tăng thị trường, củng nhưng chiếm lĩnh nhóm dẩn đầu trong thị trường đó. Đồng thời, doanh nghiệp củng sẻ chọn ra nhiều gói đầu tư để tấn công vào một thị trường tạo ra hiệu quả của sự thành công lớn hơn. Rút ngắn các thiếu sót mà khả năng doanh nghiệp đang gặp phải, đển nâng cấp khả năng cho sự hài lòng từ khách hàng. Đối với từng loại thị trường, doanh nghiệp có thể đi lên trong top đầu để tái khẳn định các qui tắc cạnh tranh mới nhằm qua mặt các công ty đối thủ khác. Khi muốn thu mua các công ty khác, doanh nghiệp sẻ đặc ra mục tiêu mở rộng tiềm năng rộng hơn tại thị trường. Giống như thành lập cả một mắt xích có đủ tiềm năng trong từng loại ngành kinh doanh khác nhau, nhưng lại có tiềm năng hổ trợ hài hòa bên trong doanh nghiệp.

Bài học thứ năm là biến doanh nghiệp của mình thành một thương hiệu có giá trị bằng việc áp dụng các qui tắc đạo đức, thái độ làm việc ở mức cao nhất. Hay gọi là nghiêm khắc nhất. Mọi nhân viên sẻ nhận ra họ phải làm điều đúng khi họ muốn hoàn thành công việc được giao. Chuyển dần các giá trị của công ty vào trong cuộc sống của nhân viên. Luôn khẳn định một điều là giá trị không đứng yên một chổ, mà nó phải biến đổi cho sự cải thiện và nâng cấp. Sự đồng bộ mà nhân viên có thể làm việc hiệu quả là khi các giá trị được gắn liền vào trong hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thành công, luôn tạo ra các khái niệm đóng góp cho xã hội qua nhiều hình thức khác nhau.

Bài học thứ sáu là giáo dục nhân viên mới thuê tuyển và hổ trợ họ suốt quá trình làm việc với các chương trình huấn luyện nâng cao nghiệp vụ. Có thể gọi là chuyển biến giá trị chất xám vào từng nhân viên làm việc cho công ty. Như vậy giúp công ty gia tăng hiệu quả và các mục tiêu kinh doanh lâu dài. Luôn tạo ra khoảng không gian tạo cho mọi nhân viên cảm giác họ phải vận động cho sự sang tạo không ngừng. Sự tuyển chọn nhân viên cho các vị trí cần thiết mà công ty muốn thuê tuyển. Tuỳ theo chức năng, mà tốc độ tuyển dụng nhân sự có sự thay đổi khác nhau nhằm đảm bảo chất lượng của nhân viên tuyển lựa nhân viên mới. Khi đả thuê mướn, các nhân viên luôn được tham gia các khóa đào tạo cho việc hấp thụ tinh túy là các giá trị mà công ty đả thành công và gây dựng nên. Nhân tài luôn được nuôi dưỡng và nâng cao cho từng vị trí phù hợp. Khi phát triển ở qui mô toàn cầu, sự chọn lựa nhân tuyển cho cán bộ lãnh đạo luôn được chuẩn bị trước khi cần sẻ thay thế vị trí của người lãnh đạo của công ty. Mọi nhân viên luôn có thái độ làm việc là tự nâng cao trình độ và cải thiện nghiệp vụ của mình.

Bài học thứ bảy là gợi ra các câu hỏi và phê bình từ nhân viên để giúp doanh nghiệp cùng phát triển. Khái niệm trao đổi thông tin, ý kiến, các giá trị đóng góp được phổ biến mở rộng ra trên toàn bộ các bộ phận của doanh nghiệp tạo cơ hội cho mọi người trao đổi và cải thiện lẩn nhau. Sự đóng góp này có thể tiết kiệm rất nhiều cho doanh về tiền bạc và thời gian. Vì các giá trị mà nhân viên đóng góp tương tư như ý kiến của khách hàng đóng. Do đó doanh nghiệp hạn chế mọi thiệt hại nếu các trường hợp vừa nêu không được khắc phục trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Như vậy có thể làm khách hàng bỏ đi sang các công ty cạnh tranh đối thủ khác. Các câu hỏi luôn được đưa ra từ cấp trên tạo cho nhân viên cấp dưới niềm tin cho các đóng góp của mình. Nếu cán bộ lảnh đạo nghi ngờ một cấn đề gì cho kết quả không như mong muốn, nên đưa ra câu hỏi ngay tức khắc để đón nhận ý kiến của nhân viên có thể giúp cho doanh nghiệp cải thiện hay tìm giải pháp tối ưu hơn. Ngoài ra, đi kèm với câu hỏi còn là các hành động cụ thể để tạo niềm tin và sự kích lệ cho thái độ làm việc và đóng góp của nhân viên. Trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên có một hộp thư góp ý. Như vậy mọi người sẻ dể dàng đóng góp ý kiến nâng cao chất lượng và dịch vụ một cách kính đáo không gây ra hiểu lầm, đố kỵ trong nội bộ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mọi thành viên sẻ có trách nhiệm tự giác tìm ra lổi và các thiếu sót trong từng công đoạn, để góp ý. Có nghĩa nâng cao chất lượng, cải tạo qui trình làm việc cho sự hoàn thiện trước khi khách hàng nhận ra thiếu sót của mình. Đó củng là cách mà doanh nghiệp tự hoàn thiện và tạo ra cách biệt trong cuộc chạy đua với các đối tác trong và ngoài nước.

Bài học thứ tám là khen thưởng nhân viên cho sự đóng góp trước toàn thể mọi thành viên và sự tôn trọng rỏ ràng. Gia tăng thái độ làm việc tích cực, cổ vũ những giá trị đạo đức nghề nghiệp với các phần thưởng sang tạo. Sự vui mừng hay cùng nhau tận hưởng các chiến thắng của doanh nghiệp củng tạo ra luồn sức mạnh cho mọi người, và đồng thời nhắc nhở thái độ làm việc nghiêm túc của họ sau này. Thưởng nhân viên với các giá trị cụ thể như tiền thưởng, tăng lương, đi nghĩ ở nơi du lịch nổi tiếng, hay các bổng lộc khác. Có thể tặng nhân viên xuất sắc một số cổ phiếu của doanh nghiệp để gắn liền tương lai của nhân viên với sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

Bài học thứ chính là áp dụng các giá trị so sánh phân tích nhằm hạn chế các tiêu xài không cần thiết cho cán bộ cao cấp hay đầu ngành các bộ phận. Do đó sẻ tiết kiệm tối đa các chi phí, nếu nhận thấy nó không cần thiết, củng như tạo ra lợi nhuận cho công ty. Doanh nghiệp sẻ tính toán giảm đi các chi phí trung gian khi thực hiện các giao dịch hay mua bán. Tiền hoa hồng của nhân viên trong việc tham gia các giao dịch như vậy sẻ được tính toán cho sự hợp lý tính theo số người tham gia. Khi nhận ra nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới có thể tiết kiệm từ mức tiêu thụ giấy, mực in, giấy vệ sinh, nước uống, hay các chi phí lặc vặc trong hoạt động văn phòng, thì số lượng lớn sẻ giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều. Củng như việc sử dụng điện và các thiết bị không cần thiết cho mục tiêu kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có số lượng đi lại lớn cho nhân viên giữa các văn phòng trên thế giới hay trong một quốc gia, thì sự tính toán chi phí cho việc đi lại này củng sẻ giúp tiết kiệm nhiều cho doanh nghiệp. Khi thiết kế xây dựng văn phòng, hảng xưởng, người quản lý sẻ tính đến việc rút ngắn thời gian di chuyển của nhân viên từ bộ phận này sang bộ phận khác, hay các dây chuyển gia công sản xuất có thể đảm bảo chất lượng, số lượng. Nhân viên sẻ làm việc trong môi trường có không gian và sự bố trí nhân sự và các bộ phận chức năng hợp lý cho cả việc trao đổi thông tin và di chuyển hằng ngày. Như việc thiết kế nhà vệ sinh và phòng ăn, tiện cho nhân viên có thời gian di chuyển ngắn nhất. Sự tiết kiệm sẻ đi kèm theo sự tích luỷ của ngân sách. Có nghĩa chi phí tiết kiệm được sẻ được dùng vào các dự án khác có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa bỏ qua quá trình tăng giá trị của doanh nghiệp. Mọi hành vi tiết kiệm luôn đảm bảo là chất lượng của công việc luôn phải được đảm bảo và gia tăng không ngừng. Khi cần thiết thì doanh nghiệp vẩn phải chi phí cho các hoạt động cần thiết tạo ra lợi nhuận, hay hổ trợ cho các hoạt động tạo ra lợi nhuận.

Bài học thứ mười là xây dựng nền tảng của doanh nghiệp bằng việc gìn giử các nhân tài và chuyên gia có kinh nghiệm trong công việc. Họ là nòng cốt duy trì sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Nhưng đồng thời gia tăng giá trị sáng tạo bằng cách tiếp nhận nguồn nhân lực mới từ bên ngoài. Nhân viên luôn hiểu hết giá trị lịch sử mà doanh nghiệp hình thành, phát triển, mở rộng thị trường như là niềm tự hào của mọi thành viên. Bên cạnh đó hạn chế các hành vi chia nhóm hay phân rẻ trong nội bộ doanh nghiệp tạo ra sự đình trệ và thiệt hại cho sự phát triển mang tính sáng tạo của mọi người. Nếu từng nhóm làm việc mang giá trị quan hệ như gia đình tạo ra sức mạnh phát triển của nhóm và củ cả doanh nghiệp. Hoán chuyển vị trí làm việc nhằm đổi mới và gia tăng khả năng điều hành của các giám đốc của từng bộ phận. Tạo ra giá trị lảnh đạo trong từng hơi thở của các thành viên. Bên cạnh đó củng tạo ra khái niệm khi nào thì nên theo nội qui, khi nào thì có thể linh động sử lý công việc.

Bài học thứ mười một là xây dựng dựa trên các giá trị căn bản của cạnh tranh và ưu việt. Khả năng mà doanh nghiệp có thể làm được là biết đánh giá mọi hoạt động một cách nhanh chónh. Có thể nói những con số luôn vận động và làm việc trong đầu của mọi người. So sánh với cái tốt nhất hiện có trên thị trường để cố gắn vươn lên vượt qua giá trị đó. Luôn gắn liền các giá trị chiến lược theo từng hành vi làm việc hằng ngày. Mổi nhân viên có thể tự đánh giá về mình trong công việc và đánh giá đồng nghiệp trong công việc để cùng nhau tiến bộ. Giám đốc hay trưởng nhóm luôn biết được thuộc cấp của mình nghĩ gì và làm sao để mọi người đánh giá khả năng làm việc của mình. Nếu chỉ thị cấp dưới, người lảnh đạo luôn dùng các minh họa chi tiết để hạn chế hiểu làm tạo ra sai sót gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Bài học thứ mười hai là lên kế hoạch trước ba năm cho sự tăng trưởng vượt bậc. Quan niệm những gì là quá trình chuyển biến cho giá trị chính và chiến lược của doanh nghiệp. Đề ra các mục tiêu cụ thể để khẳn định các chiến lược rỏ ràng. Trong việc thực hiện chiến lược luôn gắn liền việc phân tích từng bước. Khi nhận ra nhân viên có sáng kiến hay, nên giao cho họ tham gia vào việc hoạch định chính sách kế hoạch lâu dài.

Bài học thứ mười ba là sáng tạo sản phẩm mới, dịch vụ mới mỗi ngày. Có thể từ các chi tiết hay hoạt động nhỏ nào củng liên quan đến các giá trị lớn hơn cho sang kiến được đóng góp. Nâng cao cải tiến công nghệ là bước quan trọng. Sự gia tăng khả năng xử lý vấn đề củng mang giá trị sáng tạo và cải tiến. Tốc độ hoạt động của các khâu làm việc củng nằm trong quá trình sáng tạo và cải tiến. Thành lập trung tâm cho hoạt động cải tiến ở mức tuyệt đối như là nơi để mọi thành viên có thể học hỏi và nâng cao khả năng của mình. Sáng kiến và cải tiến luôn thông qua các chương trình khởi xướng do cấp trên đề ra. Sự cải tiến về số lượng và chất lượng luôn đi kèm với nhau trong từng bộ phận của doanh nghiệp. Khi tiếp nhậ ý kiến từ bên ngoài, doanh nghiệp sẻ chuyển đổi thành ý kiến mới mang nét riêng của doanh nghiệp. Luôn tạo ra tinh thần học hỏi từ các chuyển gia hy bậc thầy bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp. Sự kiệm thời xử lý các công đoạn hay áp dụng sự chính xác và làm việc có tốc độ cao, củng như hoàn thành công việc theo chu kỳ thời gian.

Bài học thứ mười bốn là luôn gắng liền mối quan tâm đối với khách hàng khi họ cần các dịch vụ vào bất cứ thời điểm nào. Các giá trị phục vụ cho nhu cầu của khách hàng luôn được quan tâm và thực hiện cho dù là thiên tai hay các sự cố ngoài ý muốn xảy ra, thì doanh nghiệp vẩn tiềm giải pháp thỏa mản nhu cầu của khách hàng. Tạo ra sự quan tâm từ khách hàng đối với nền tản hay giá trị của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp vẩn phải chọn các phương pháp cụ thể biến sự thất bại thành thành công với sự đóng góp của toàn thể nhân viên. Khi chọn một khách hàng khó tính nào hay có giá trị tiềm năng toàn cầu, phục vụ họ với các giá trị sang tạo vượt ngoài khả năng sẻ là phương thức quảng cáo cho giá trị của doanh nghiệp. Sự thành công này chính là chìa khóa để đón nhận khách hàng mới từ thị trường trong và ngoài nước. Trong quá trình phục vụ khách hàng, doanh nghiệp còn có khả năng tiếp xúc và giáo dục khách hàng cho các việc sự dụng sản phẩm, dịch vụ có lợi nhất cho họ. Đó củng là cách tạo ra niềm tin từ khách hàng khi thể hiện tính cách chuyên nghiệp cao của doanh nghiệp.

Bài học thứ mười lăm là áp dụng quản lý nhịp độ cao để tăng khả năng hoàn thành công việc và chỉ tiêu. Có nghĩa tạo ra tốc độ làm việc cao hơn mức bình thường, như vậy giúp nhân viên hoàn thành công việc sớm hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, gia tăng lợi nhuận. Ngay cả khi đả đạt vị trí là nhà cung cấp toàn cầu có doanh thu hàng tỉ USD, thì doanh nghiệp vẩn phải doanh nghiệp phải tiếp tục  bố trí nhân sự cho các vị trí then chốt cho các nhân tuyển có khả năng tiếp tục phát triển doanh nghiệp hiệu quả hơn. Người lảnh đạo luôn linh động trong việc quản lý và thực hiện các chính sách cho doanh nghiệp. Sự linh động này mang giá trị phù hợp theo thị trường và đối thủ cạnh tranh. Đồng thời biết điều chỉnh và tổ chức các bộ phận làm việc với nhau cho mục tiêu đạt được tốc độ của sang tạo, cải tiến phục vụ khách hàng. Sự nhảy vọt cho giá trị tạo ra sản phẩm của doanh như là mục tiêu vượt mặt các đối thủ trong thị trường.

Bài học thứ mườn sáu là áp dụng khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh như là bài học cho tương lai và giới thiệu với khách hàng khác. Doanh nghiệp sẻ phân tích từng loại khách hàng và loại hình kinh doanh của khách hàng có sự liên quan đối với khả năng phục vụ của doanh nghiệp. Đó là các ví dụ cụ thể mà doanh nghiệp dùng phát triển cho các kế hoạch phục vụ khách hàng mới. Khách hàng củng có thể giúp cho doanh nghiệp nâng cao giá trị phục vụ về chuyên môn và các giá trị khác.

Những bài học quản lý kinh doanh và mở rộng thị trường mà các công ty công nghệ thông tin có thể giúp các công ty công nghệ thông tin Việt Nam học hỏi và tạo ra thương hiệu toàn cầu cho mình. Ngôn ngử quốc tế như tiếng Anh, Hoa, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Á Rập là công cụ chính giúp các doanh nghiệp Việt Nam phục vụ khách hàng khắp nơn trên thế giới. Các bài học từ các công ty Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ giúp cho doanh nghiệp trong nước mở rộng dần từ lợi nhuận ổn định, rồi phát hành cổ phiếu ra thị trường nước ngoài. Không chỉ huy động vốn nước ngoài, mà còn thu hút khách hàng nước ngoài cho tiềm năng lớn hơn, lợi nhuận cao hơn.