Banking

Thị trường tài chính luôn đòi hỏi nhiều yếu tố chuyên môn, thống kê, kế toán, kiểm toán, đồng bộ, dự toán cho tương lai, phân tích rủi ro, và chuẩn bị nguồn tiền mặt hay khả năng thanh toán trong thời gian ngắn nhất. 

Các giá trị cụ thể mà doanh nghiệp là ngân hàng và công ty tài chính nên quan tậm:

  1. Lợi nhuận luôn được tính dựa trên các giá trị sau – mức tăng trưởng GDP, mức lập phát theo chỉ số tiêu dùng CPI, tỉ giá đồng Việt Nam và các ngoại tệ mạnh như US dollar, Yen Nhật, Bảng Anh, Euro của Châu Âu, Nhân Dân Tệ Trung Quốc
  2. Tỉ lệ an toàn của tiền mặt so với vốn, so với tài khoảng cho vay và đầu tư
  3. Tỉ lệ vốn cho vay và dự án đầu tư mang tính rủi ro cao so với tính an toàn cao
  4. Tỉ lệ vốn vay và đầu tư theo nhóm kinh doanh trong và ngoài nước
  5. Lợi nhuận tính theo vốn, tính theo nợ, tính theo số nhân viên


Thị Trường Tài Chính và Hạn Chế Lạm Phát

 “Nguồn tài chính hay vốn luôn tạo ra nguồn năng lượng lưu chuyển giửa các phần tử tham gia trong thị trường. Nó có thể điều phối tốc độ, lưu lượng của hoạt động kinh doanh, sản xuất không lệ thuộc vào nhu cầu thật của con người.''
 *****
 Kinh tế thị trường có sự vận hành trên lý thuyết do mối quan hệ giữa cung và cầu tạo ra. Do đ ó thị trường tài chính hay vốn có ảnh hưởng to lớn đến vận mạng của một quốc gia trên bình diện tốc độ phát triển của chiều sâu và chiều rộng các các chủng loại hàng hóa, dịch vụ tồn tại trên thị trường. Nhà doanh nghiệp có ý tưởng hay và phương thức kinh doanh không thể biến ý tưởng của mình thành sản phẩm tiêu thụ trên thị trường nếu không có vốn. Như vậy các hoạt động kinh tế trên thị trường đều liên quan đến thị trường tài chính trong và ngoài nước.

Các doanh nghiệp muốn xuất khẩu hay trao đổi mậu dịch với các đối tác nước ngoài sẻ thông qua sự liên hệ cầu nối giữa thị trường tài chính trong nước với thị trường tài chính nước ngoài, bởi vì các phương thức thanh toán sẻ cần qua một hay nhiều trung gian là ngân hàng trong nước và nước ngoài. Thị trường tài chính đả tồn tại từ thời ban sơ của lịch sử con người. Như thị trường tín dụng đả được xử dụng trong trao đổi nông nghiệp ởMesopotamiavào 3000 năm trước công nguyên. Ngân hàng hình thành trể hơn, đầu tiên xuất hiện ở Ai Cập khoảng 200 năm trước công nguyên. Các loại đơn đặc hàng mua trước đả được giao dịch tại Hoà Lan từ thế kỷ 17. Con người đả nhận ra ba khái niệm của tài chính là mượn, cho vay, và đầu tư từ rất lâu. Ngay cả nhà văn Anh quốc Shakespears trong tác phẩm Hamlet đả mô ta nhân vật Polonius khuyên con trai mình 'đừng nên là kẻ đi mượn hay kẻ cho vay.'Nhưng nếu xả hội không có kẻ cho vay và người vay thì sẻ không có thị trường tài chính.

Sự phát triển của về kinh tế của xã hội nhất thiết cần có thị trường trao đổi hàng hóa, và nhu cầu trao đổi hàng hóa, xã hội lại có thêm một thị trường mới là thị trường tài chính. Nó vận hành song song cùng lúc với thị trường trao đổi hàng hóa, dịch vụ, hay nguyên vật liệu. Sự gia tăng hay lưu chuyển của thị trường trao đổi hàng hóa lệ thuộc nhiều vào thị trường tài chính. Đồng thời rủi ro đi kèm với hệ thống tài chính trong một quốc gia có thể làm phá sản cả nền kinh tế đang phát triển thuận lợi nếu nguồn vốn lưu động do của các tài khoản tiết kiệm, đầu tư, hay tiền ký thác bị xử dụng không đúng chổ hay quá dể dãi cho việc vay vốn đối với khách hàng có rủi ro cao. Nhất là các công ty lớn làm ăn không có lời đưa đến hậu quả là các khoảng cho vay không thu hồi được. Chính vì vậy chính phủ phải can thiệp nhằm bảo vệ tiền gửi ủy thác của các chủ nợ hay người tiêu dùng. Ngoài ra nếu tính toán sai đi thì ngân hàng có thể thu tiền lời của người vay thấp hơn là tiền lời cho người gửi tiền trong trường hợp có sự thay đổi về mức lải xuất biến động theo thị trường. Như vậy ngân hàng của sẻ lâm vào cảnh thiếu nợ cho các khoảng tiền tiết kiệm và tiền ký thác của khách hàng.

Ngoài ra thị trường còn do những chính sách của ngân hàng trung ương ảnh hưởng như mức lải xuất cho vay, tỉ giá hối đoái với các đồng tiền ngoại tệ mạnh. Ngân hàng trung ương có thể hoạt động độc lập với chính phủ vì có như vậy nền kinh tế sẻ phát triển ít lệ thuộc vào các chính sách của chính phủ. Nhưng đó là lý thuyết của việc tách rời ngân hàng trung ương và chính quyền trung ương tạo ra sự hoạt động hiệu quả của nền kinh tế. Nhưng Trung Quốc đả phá triển kinh tế với sự ảnh hưởng của chính phủ đối với ngân hàng trung ương cho các chính sách lải xuất, đầu tư tín dụng, mua ngoại tệ của các quốc gia nước ngoài như đô-la của Hoa Kỳ, yen của Nhật Bản, bảng của Anh Quốc, france của Pháp, Mác của Đức. Ngân hàng trung ương có thể tác động đến nhiều khía cạnh trong nền kinh tế của quốc gia khi giao dịch với các nền kinh tế nước ngoài. Trên thế giới Hoa Kỳ, Đức, và Thụy Sĩ là có ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, còn các quốc gia khác thường chịu ảnh hưởng của bộ tài chính. Khi nhìn qua các quốc gia có dự trử nguồn ngoại tệ cao là Nhật Bản khoảng 1000 tỉ USD, Singapore là khoảng 174 tỉ USD, Nam Triều Tiên khoảng 201 tỉ USD, Ấn Độ là 254 tỉ USD, Trung Quốc gần 3 ngàn tỉ USD. So với Arập Saudi giử mức dự trử ngoaị tệ thấp khoảng 30 tỉ Mỹ kim, nhưng nguồn ngoại tệ của Arập Saudi được chuyển sang các quĩ phát triển đầu tư của chính phủ nhằm mở rộng nguồn thu nhập cho chính phủ khi nguồn dự trử dầu thô sẻ giảm dần. Ngân hàng trung ương có thể dùng dự trử ngoại tế cho nhiều mục đích khác nhau. Chẳn hạn như mua bán ngoại tệ nhằm tạo ra tỉ giá ngoại hối có lợi cho kinh tế xuất khẩu, hay tạo áp lực chính trị đối với một quốc gia nào đó. Các quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc vào kinh tế xuất khẩu như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản đều áp dụng chính sách dự trử ngoài tệ lớn nhằm quản lý tỉ giá hối đoái có lợi cho hàng xuất khẩu trong nước sang các thị trường tiêu thụ mạnh ở nước ngoài.

Nếu chính phủ muốn giảm tỉ giá đồng tiền nội địa so với một đồng ngoại tệ nào đó như Mỹ kim, Yen Nhật, hay Euro của Châu Âu thì ngân hàng trung ương sẻ bán ngoại tế đó ra thị trường, còn ngược lại muốn tăng giá đồng tiền nội địa thì ngân hàng trung ương sẻ mua ngoại tệ đó. Do đó Trung Quốc đả luôn dự tữ số lượng lớn ngoại tệ lến gần 3000 tỉ USD trong đầu năm 2011 để thực hiện nhiều chính sách có lợi cho mậu dịch quốc tế, đầu tư nước ngoài, tạo ảnh hưởng chính trị, áp lực các chính sách ngoại giao có lợi cho nền kinh tế xuất khẩu của nước này. Hầu hết các quốc gia phụ thuộc vào kinh tế xuất khẩu luôn tích trử nguồn ngoại tế rất lớn.

Nếu có nhiều nhà nhập khẩu nước ngoài muốn mua hàng hóa của ViệtNamhọ sẻ cần xử dụng lượng tiền đồng ViệtNam, do đó họ sẻ có nhu cầu mua số lượng tiền ViệtNam. Do đó giá trị của đồng ViệtNamsẻ có chiều tăng lên. Nhưng chính phủ muốn hàng Việt Nam rẻ hơn ở thị trường nước ngoài, thì ngân hàng Việt Nam có thể sẻ tác động đến lượng tiền mặt của đồng Việt Nam trên thị trường cho việc giảm tỉ giá so với các đồng ngoại tệ mạnh như đô-la Mỹ, Euro, Yen Nhật, và Nhân Dân Tệ Trung Quốc. Sự thay đổi tỉ giá của đồng tiền nội địa và các loại tiền tệ giao dịch nước ngoài do mối quan hệ cung cầu của mậu dịch quốc tế được áp dụng có lợi cho thanh toán quốc tế. Ngoài việc du khách đến ViệtNamhay các nhóm buôn bán phi pháp là cần xử dụng số lượng tiền mặt, bởi vì hầu như các giao dịch thông qua hệ thống thanh toán ở các ngân hàng không có sự chuyển dịch vật lý của các loại tiền mặt. Nó chỉ tồn tại bằng các con số ở chương mục các của các ngân hàng dưới tên khác nhau của khách hàng. Có nghĩa tiền tệ không lưu chuyển vật lý như hàng hóa từ nước này sang nước khác, sự thay đổi chỉ ở hình thức các giá trị trong các chương mục của các ngân hàng theo sự thay đổi quyền sở hữu của các tài khoảng trong ngân hàng. Các hoạt động giao dịch thương mại quốc tế luôn thông qua việc thanh toán dựa trên một loại tiền tệ nào đó, mà phần lớn các đối tác luôn chọn loại tiền tệ có giá trị hoán đổi cao, tỉ giá lạm phát thấp. Nếu đồng đô-la của Hoa Kỳ có mức lạm phát trên 5% một năm, mà lải xuất ngân hàng chỉ có 1%, thì vốn cho vay hầu như mang giá trị âm 4%, hay có nghĩa là nhà đầu tư mất đi 4% giá trị của vốn sau một năm.

Nếu một đồng tiền có sự thay đổi giá trị quá lớn so với các loại tiền tệ khác trong các giao dịch trong tương lai như khách hàng mua gạo của Việt Nam vào tháng 9 năm 2008, nhưng theo hợp đồng doanh nghiệp Việt Nam sẻ giao số gạo này vào tháng 5 năm 2009, như vậy sẻ có sự trênh lệch thật sự về giá cả của một tấn gạo trong hai thời điểm này. Do đó trong giao dịch này, người mua và người bán sẻ xử dụng các phương thức thanh toán trước hay sau với sự chênh lệch về giá trị giữa tiền Việt Nam và một ngoại tệ hoán đổi ghi trong hợp đồng. Thường các ngân hàng có nhiều loại thanh toán ngoại tệ theo từng loại tỉ giá trong các thời điểm khác nhau trong tương lai. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư thường mua bảo hiểm cho giá trị ngoại tệ chuyển đổi trong tương lai nhằm hạn chế rủi ro khi bị mất giá của đồng tiền giao dịch tại một thời điểm nào đó trong tương lai. Ngoài ra các chi phí điện, nhiên liệu, vận tải, đóng bao bì củng có sự thay đổi về giá khi có sự hiệu chỉnh của sự lạm phát và tỉ giá ngoại tệ. Do đó các đối tác luôn có các biện pháp bảo đảm là giá cả thay đổi không làm thiệt hại cho lợi nhuận của họ.

Nếu doanh nghiệp Nhật Bản đồng ý mua dầu thô của Việt Nam theo thời điểm mua và thời điểm giao hàng là khoảng 6 tháng, thì sẻ có giá cả thay đổi tính theo tỉ giá ngoại hối, còn không thì đối tác Nhật Bản trả trước với giá là 60 đô-la một thùng dùng thô, nhưng khi Việt Nam chuyển số dầu thô cho Nhật Bản, giá dầu chỉ còn là 55 đô-la, như vậy, phía Nhật Bản sẻ bị thiệt hại nhiều. Còn ngược lại nếu khi giao hàng, giá dầu thô vọt lên với giá mới là 80 đô-la một thùng, thì phía Nhật Bản lợi 20 đô một thùng. Đó là một trong các rủi rỏ khi mua hàng hóa trả trước theo các hợp đồng. Do vậy nhiều doanh nghiệp áp dụng mua bảo hiểm cho các loại hàng hóa mua trả trước, để hạn chế ruỉ ro khi giá cả thay đổi quá lớn. Ngoài ra, sự gia tăng giao dịch giữa hai quốc gia còn kích thích nhu cầu mua hay bán lượng tiền của một quốc gia thông qua việc thanh toán quốc tế tại các ngân hàng. Nếu công ty chuyên bán xe hơi nhập khẩu từ Nhật Bản vào thì trường Việt Nam, doanh nghiệp này sẻ dùng tiền Việt Nam hay tiền ngoại tệ khác mua tiền Yen Nhật và thanh toán cho các đối tác xuất khẩu xe tại thị trường Nhật Bản. Hay ngược lại một công ty nhập hàng thuỷ sản của Việt Nam, sẻ dùng Yen Nhật mua tiền Việt Nam và trả cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

Hiện tại Nhật Bản có mức giao dịch thương mại với Trung Quốc cao hơn là mức giao dịch với Hoa Kỳ. Nhật Bản nhập khẩu và xuất khẩu sang Trung Quốc trong năm 2008 là 142.3 tỉ USD và 124 tỉ USD. So với Hoa Kỳ, Nhật Bản nhập khẩu 77 tỉ USD, và xuất khẩu là 136.2 tỉ USD. Sự gia tăng mậu dịch giữa hai thị trường sẻ ảnh hưởng đến việc ngân hàng trung ương quyết định các chính sách tỉ giá hối đoái và các chính sách đầu tư lâu dài. Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, phía Trung Quốc đưa ra đề nghị với IMF cho việc tìm ra một loại tiền tệ trung gian thay thế đồng đô-la Hoa Kỳ, nhưng các ý tưởng này khó mà thực hiện được, do các lý do chính trị và lý do tác động của con người trong việc kích thích sự liên kết giữa hai thị trường với nhau. Sự lệ thuộc về tâm lý và sự dự đoán của một thị trường tăng hay giảm sẻ tác động đến việc các nhà đầu tư chọn một thị trường. Nếu các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng Đồng Chung Châu Âu, Trung Đông, Ấn Độ, Nga, Bra-xin chọn ra được một đồng tiền thay thế đồng đô-la Mỹ, như vậy khi đó các giao dịch có thể được chọn loại đồng tiền trung gian này làm giá trị căn bản cho một dự án đầu tư. Nhưng đồng tiền trung gian này phải có một giá trị chính trị và kinh tế nhằm tạo ra sự hiệu quả của việc thay toán hay tích lũy cho việc ổn định các phương thức đầu tư ngắn và dài hạn. Ai là người đảm bảo giá trị của đồng tiền trung gian này? Đó là chỉ là một ý kiến nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của đồng đô-la Hoa Kỳ vào nền kinh tế toàn cầu.

Do các lập trình vi tính và hệ thống máy tính giúp giảm đi các chi phí cho mổi cuộc trao đổi tài chính, chính vì vậy làm gia tăng khả năng lưu thông và sử dụng vốn trên thị trường tài chính toàn cầu. Các quốc gia có thể mượn tiền, cho vay, hay đầu tư nhanh hơn, và an toàn hơn thông qua các chuyển khoảng điện tử thông qua hệ thống internet giữa các công ty tài chính, ngân hàng. Giá trị của toàn bộ cổ phiếu, tiền ký gửi, tiền mặt trên thị trường tài chính toàn cầu tăng lên từ 12000 tỷ USD trong năm 1980 lên 80000 tỷ USD trong năm 1999. Cho thấy giá trị GDP của nền kinh tế toàn cầu tăng trường chậm hơn là mức trao đổi tiền tệ trên thị trường thế giới hơn 6 lần trong vòng hai thập niên.

Sự linh động của cơ chế cung cấp vốn hay trao đổi giá trị tài sản trong một thị trường phát triển đầy đủ cần có sự lưu thông và hổ trợ giữa thị trường tài chính là ngân hàng và thị trường cổ phiếu. Nếu ngân hàng không có đủ vốn cho doanh nghiệp vay để hoạt động, thì doanh nghiệp sẻ xử dụng việc phát hành cổ phiếu để tăng mức vốn lưu động trên thị trường. Ngược lại, nếu thị trường cổ phiếu có những xáo trộn thị ngân hàng sẻ hổ trợ trong việc cho vay vốn cho các doanh nghiệp. ViệtNamcó thể cải thiện mức độ quản lý tốt trong việc hạn chế các phương thức đầu cơ gây ra những cuộc khủng hoảng, nhưng lại có khả năng thu hút vốn đầu tư và vay vốn ở thị trường tài chính và cổ phiếu. Sự an toàn và hiệu quả là hai yếu tố đầu tiên giúp ViệtNamphát triển hai loại thị trường này. Tiếp theo là quản lý mức lạm phát thấp dưới 3% so với mức tăng trưởng trên 8% một năm, bởi vì ít ra thì tiền lời của công trái luôn có giá trị dương khi đáo hạn. Có như vậy nhà đầu tư mới mua công trái và cổ phiếu phát hành mang giá trị của tiền Việt Nam. Ví dụ sau có thể giải thích điều này. Nếu công trái của chính phủ phát hành có mức lời là 10% trong vòng 10 năm. Trong khi đó mức làm phát là 12% một năm, thì giá trị tiền lời của công trái coi như là âm, không tạo ra lợi nhuận. Điểm thứ hai là khi mức lạm phát hơn 10% một năm, và mức tăng trưởng kinh tế là 8% một năm, có thể cho thấy giá trị thu nhập của người dân bị giảm đi đến 2%. Có nghĩa trước đây họ thu nhập 10 triệu, thì bây giời họ chỉ còn thu nhập là 98 triệu. Nếu tính về sức mua của mức thu nhập bình quân. Do đó nhà đầu tư sẻ chọn phương thức đầu tư khác có lợi cao hơn và an toàn hơn. Chẳn hạn như mua vàng, nhà, đất đai và quí kim. Do đó chính phủ vẩn tính toán làm sao để tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư mua công trái của mình. Riêng trường hợp công trái của Hoa Kỳ mang giá trị chính trị và mậu dịch lâu dài, do đó Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia nắm giữ phần lớn công trái phát hành bởi bộ công khố của Hoa Kỳ, tiếp theo là các quốc gia Trung Đông, Nam Triều Tiên, Singapore, và Đài Loan.

Thị trường tài chính cần vốn cho hoạt động vay mượn giữa khách hàng với nhau. Ngân hàng chỉ kiếm lợi nhuận thông qua các loại sản phẩm, dịch vụ tài chính giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Ngân hàng có những vai trò thật sự hữu ích cho nền kinh tế: (1) thu hút vốn từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, (2) cho vay vốn đến các doanh nghiệp, người tiêu dùng, (3) làm trung gian cho các giao dịch thanh toán giữa các ngân hàng và quốc gia, (4) tạo ra phương thức hay khái niệm thanh toán hiện đại cho các doanh nghiệp gia tăng mức tiêu thụ trong thị trường, (5) tư vấn và hổ trợ khách hàng trong các chọn lựa đầu tư ngắn và dài hạn, (5) làm các thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu, và hợp đồng xát nhập và chuyển nhượng cho các doanh nghiệp. Do đó nhân cách của các giám đốc, nhân viên cao cấp tại các ngân hàng và công ty tài chính cần có sự xem xét và chọn lựa kỷ càng. Đó là điểm then chốt cho sự tuyển dụng các nhà quản lý, nhân viên cao cấp trong các ngân hàng và công ty tài chính có chức năng xét duyệt vốn vay, quản lý vốn đầu tư, nhằm hạn chế các tiêu cực cho vay không thế chấp, hay doanh nghiệp không sinh lời, và đầu tư do có giá trị huê hồng cao hay mua bán cổ phiếu nội bộ.

Nhìn các quốc gia phát triển, thị trường tài chính như ngân hàng có mức thu hút vốn cao nhờ mức tiết kiệm cao từ thị trường nội địa. Giá trị vốn và trao đổi cổ phiếu luôn cao hơn tổng thu nhập quốc dân. Có nghĩa nếu GDP của ViệtNamlà 104 tỉ USD, thì giá trị cổ phiếu giao dịch hay trên thị trường chứng khoán ít nhất củng là trong khoảng 120 tỉ USD đến 170 tỉ USD. Có như vậy thì tốc độ gia tăng kinh tế của Việt Nam sẻ cao hơn. Nhưng bên cạnh đó các nguyên tắc và pháp luật về vốn đầu tư hay nguồn gốc của vốn đầu tư của các nhà đầu tư hay công ty đầu tư cần có nguồn gốc rỏ ràng. Ngoài ra muốn đầu tư tại thị trường ViệtNam, thì các nhà đầu tư cần mở tài khoảng ở các ngân hàng có giấy phép hoạt động ở ViệtNam. Nguồn vốn lưu động tại thị trường chứng khoán xác định khả năng thanh toán và đầu tư vốn tài chính cho các giao dịch và dịch vụ theo các yêu cầu của đối tác trong và ngoài nước. Việt Nam còn mang nhiều giá trị văn hóa làm cho nhiều người vẩn thích giữ tiền mặt, vàng, ngoại tệ và quí kim tại nhà. Do đó số lượng vốn vẩn không được khai thác cho lợi nhuận thông qua việc hổ trợ vốn cho các thương vụ đầu tư và kinh doanh. Các công ty hay doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoáng chưa có thực hiện các phương thức kế toán và chi thu một cách rỏ ràng, minh bạch và tiêu chuẩn hóa, như vậy nhà đầu tư sẻ không dám mạo hiểm mua cổ phiếu hay bỏ tiền đầu tư vào. Làm sao có thể khai thác nguồn vốn vẩn cất giử ở nhà của người dân Việt Nam là một câu hỏi cần có hướng giải quyết.

Vốn cần nên được đầu tư đúng chổ và có các biện pháp hữu hiệu cho việc quản lý vốn đầu tư tránh các trường hợp lạm dụng công quĩ hay cho vay bừa bải làm thất thoát vốn vay. Chính phủ sẻ khuyến khích thành lập các quĩ đầu tư từ 10 triệu USD đến 300 triệu USD và sẻ tăng từ từ lên hơn 1 tỉ USD. Các loại quĩ đầu tư này sẻ có nhiều chiến lược đầu tư trong và ngoài nước có lợi cho nền kinh tế của Việt Nam phát triển. Do đó cần có sự quản lý hiệu quả và trao đổi giữa chính phủ và các ban quản lý các quĩ đầu tư này. Ngoài ra các loại quĩ đầu tư phải có tránh nhiệp cho việc tham gia đầu tư các dự án mang giá trị kinh tế tích cực và lâu dài như cung cấp vốn cho các ngành kinh tế tạo ra của cải trực tiếp, hạng chế các quĩ đầu tư vào thị trường địa ốc, vì nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam hiện này cần sự phát triển trong các lĩnh vực sau: (a) xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn điện ổn định, hệ thống cung cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, hàng không; (b) xây dựng các ngành kinh tế gia công chế biến, sản xuất tiêu dùng cho xuất khẩu, cho công nghiệp, cho quốc phòng; (c) phát triển phần mềm, công nghệ khoa học thông tin, quản lý dữ liệu, xử lý thông tin, kế toán thống kê, phân tích kết quả y tế, thuế, mậu dịch, phân phốn sản phẩm, cùng các loại dịch vụ dử liệu cho tài chính. Du lịch của Việt Nam củng là tiềm năng to lớn khi gia tăng số lượng du khách nước ngoài lên con số vài chục triệu trong thời gian tới. Nếu có 10 triệu du khách đến Việt Nam, và mỗi du khách tiêu xài ngoại tệ khoảng 2000 USD thì họ tạo ra giá trị GDP hơn 20 tỉ USD. Vì các chi phí và mua sắm mà họ thực hiện sẻ tạo ra dây chuyên kích cầu và cung tạo ra các loại hình kinh tế khác có lien quan đến ngành du lịch phát triển. Có nghĩa số tiền 20 tỉ USD sẻ luôn hành trong nền kinh tế Việt Nam tạo ra đủ loại giá trị kinh tế có lợi cho Việt Nam.

Vốn vay càng xoay vòng mau bao nhiêu thì giá trị ảo của nó tạo ra nhanh bấy nhiêu. Nó củng là lý do tại sao có những cơn sốt về thị trường địa ốc, thị trường chứng khoán, trong khi đó tổng sản phẩm quốc dân tạo ra không tăng là bao nhiêu. Vậy lý do tại sao con người lại bị cuốn hút vào trò chơi rủi rỏ và cơ hội liên quan đến ba loại thì trường: tài chính, địa ốc, và cổ phiếu? Vì họ có cơ hội làm giàu mau hơn là chờ lợi nhuận của việc buôn bán các sản phẩm hay cung cấp dịch vụ tạo ra. Tâm lý đầu tư và kiếm lợi nhuận chênh lệnh tạo ra các tâm lý mua bán tại cả ba thị trường đầu tư. Có thể dể hiểu như việc một nhà đầu tư bỏ tiền vào xây một khách sạn nhằm phục vụ khách du lịch và khách kinh doanh với số tiền ban đầu là 50 triệu USD. Nếu may mắn kinh doanh có lời sau khi trả mọi chi phí, hằng năm thu được là 500.000 USD. Trong khi đó, một người khác củng có 50 triệu USD, nhưng muốn làm giàu lẹ hơn, nên nhắm vào mua nhà và cổ phiếu. Anh ta chọn mua một căn nhà với giá là 10 triệu USD và có giá trị gia tăng là 20% trong vào 6 tháng. Còn 30 triệu USD mua cổ phiếu của các công ty đang lên giá với mức là tăng trưởng là 30% một năm. Như vậy chỉ sau một năm người đầu tư vào nhà và cổ phiếu kiếm được: (10 triệu USD x40% + 30 triệu USD x30%) = 13 triệu USD. Nhưng giá nhà gia tăng theo tỉ lệ 20% cho 6 tháng và giá cổ phiếu tăng 30% một năm không mang sát xuất 100%, do đó có thể giá nhà rớt xuống chỉ còn 70% giá mua, hay giá cổ phiếu chỉ còn 50% giá mua thì lúc đó nhà đầu tư sẻ thua lổ rất lớn, khoảng 15 triệu USD. Đây là loại cơ bạc mang tính sát xuất của sự phân tích và rủi ro mang nhiều tác động bên ngoài.

Thường ngân hàng cho vay dể dàng khi lải xuất thấp và vòng vốn xoay mau. Khách hàng có thể do quen biết muốn mượn tiền không thế chấp để mua đất hay nhà rồi bán kiếm lời. Ngân hàng cho vay với hy vọng là thu lải và vốn, cùng với khoảng tiền thưởng riêng không ghi trong hợp đồng cho vay. Đó là nguy cơ dẩn đến các cuộc khủng hoảng tài chính ở nhiều quốc gia. Thị trường Việt Nam nên hạn chế việc cho vay vốn để mua đất và nhà để bán kiếm lời. Chính phủ nên khuyến khích dùng vốn cho hoạt động đầu tư vào các công nghệ gia công chế biến cho xuất khẩu và tiêu dùng. Việt Nam cần các nguồn thu từ nưóc ngoài: (a) doanh thu xuất khẩu, (b) doanh thu từ du lịch, (c) doanh thu từ lợi nhuận đầu tư ở thị trường nước ngoài, (d) vốn đầu tư từ doanh nghiệp nước ngoài, (e) vốn vay hay viện trợ từ chính phủ nước ngoài. Thị trường tài chính sẻ quản lý nguồn vào và ra các loại vốn, doanh thu, và lợi nhuận trong các hoạt động kinh tế tại thị trường trong và ngoài nước.

Tại sao thị trường cổ phiếu và địa ốc đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích nền kinh tế phát triển thông qua việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt, hay tiền mặt thành cổ phiếu và địa ốc. Vì nó giúp cho việc thanh toán hay chi tra các khoản kinh doanh một cách hiệu quả và mau chónh. Một doanh nghiệp có thể thế chấp tài sản để vay vốn. Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho kinh doanh. Một nhà đầu tư có thể mua bất động sản hay cổ phiếu cho lợi nhuận tương lai. Do đó sự trao đổi của giá trị nhà, đất, cổ phiếu qua trung gian là tiền mặt tạo ra sự thuận lợi cho các hoạt động đầu tư và mua bán và trao đổi. Đó là một trong các lý do mà một nền kinh tế có thể phát triển do nguồn vốn huy động được khai thác thông qua ba loại thị trường – tài chính (vay và cho vay), địa ốc (thế chấp, mua và bán), và cổ phiếu (phát hành trái phiếu, vay vốn bằng thế chấp cổ phiếu). Sự quản lý và kích thích các loại thị trường này phát triển có thể tạo ra sức mạnh của nền kinh tế nội địa. Nhà đầu tư sẻ dùng tiền mua cổ phiếu tạo nguồn vốn kinh doanh cho một doanh nghiệp. Người dân Việt Nam cần hiểu các khái niệm cơ bản về giá trị trao đổi và rủi rỏ khi đầu tư vào nhà, đất, cổ phiếu, trái phiếu. Có thể nhà đầu tư Việt Nam mở rộng việc đầu tư sang các thị trường quốc tế như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Thái Lan, Úc, Hoa Kỳ và Châu Âu.

Điều nguy hiểm của thị trường tài chính là nó không tạo sản phẩm mang giá trị kinh tế như các doanh nghiệp bình thường khác tạo ra như việc một công ty sản xuất tivi màng hình phẳng, xe hơi, quần áo, thực phẩm, thuốc men. Ngân hàng đại diện của thị trường tài chính sống dựa trên tiền lời kiếm được của các doanh nghiệp và tác nhân kinh tế trong thị trường. Ngân hàng không tạo ra giá trị nào hết, nó chỉ hoạt động nhờ thu lệ phí trên lợi nhuận hay nghĩa vụ tài chính từ các khoản vay nợ mà doanh nghiệp hay con nợ trả cho. Thị trường tài chính thể hiện sự di chuyển trung gian của một loại hàng hóa là tiền tệ. Người đi vay sẻ mượn tiền từ tay ngân hàng, trong khí đó tiền vốn của ngân hàng do các nhà đầu tư hay người tiết kiệm, uỷ thác tiền vào ngân hàng cất giử và quản lý giùm. Tùy theo tài khoản mà ngân hàng có bổn phận trả lải xuất cố định hay thay đổi theo tỉ giá lạm phát và tỉ giá do ngân hàng trung ương niêm yết. Nhưng yếu tố con người lại là yêu tố nguy hiểm cho người quản lý các vốn vay hay tài khoản lưu động đầu tư. Nếu do bất cứ ly do gì, một quản lý trẻ do động cơ đầu tư kiếm lợi hay khoản huê hồng cao nên vô trách nhiệm trong việc làm thất thoát vốn của ngân hàng có thể làm phá sản cả một nền kinh tế hay một bộ phân kinh doanh cho một nhóm công nghiệp. Chính vì vậy, vào năm 1988 các ngân hàng trung ương của các quốc gia giàu có đồng ý cho việc áp đặc tỉ lệ 8% tiền mặt trên tổng số tiền vốn cho vay ở trong két của các ngân hàng có hoạt động quốc tế. Sự gia tăng mức tiền mặt trong két của một ngân hàng có thể giảm rủi rỏ khi không thu hồi vốn đươc vẩn còn đủ tiền mặt để thanh toán cho các khách hàng gửi vốn tại ngân hàng.

Nhìn lại chức năng của hệ thống tài chính là: (1) hoàn tất các cuộc mua bán chi trả bằng chứng phiếu, thẻ tín dụng, (2) thu hút nguồn tiết kiệm từ người lao động, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, (3) chuyển khoảng cho khách hàng (người vay và nhà đầu tư) trong nước và ngoài nước, (4) giảm rủi ro bằng việc đa dạng các khoản đầu tư củng như mua bảo hiểm cho khoản đầu tư, (5) luôn giữ thông tin chính xác về khách hàng giúp giảm chi phí trong việc quyết định có liên quan đến rủi ro và uy tín. Nhìn qua năm điểm ích lợi của hệ thống tài chính, ViệtNamsẻ phát triển một thị trường tài chính mang nét riêng cho ViệtNam. Nhất là hạng chế các nguy cơ bị trục lợi trong việc làm dụng công quĩ hay vô trách nhiệm trong việc quản lý vốn ở các ngân hàng và công ty tài chính. Đồng thời khuyến khích người tiêu dùng và doanh nghiệp gửi tiết kiệm. Bên cạnh đó cung cấp các dịch vụ tín dụng, vốn vay cần thiết cho sinh viên theo học các chương trình đại học, người tiêu dùng mua nhà và các vật dùng cần thiết dực trên hồ sơ uy tín, khả năng tài chính của họ. Khi ViệtNamnhìn lại các quốc gia có mức sống cao, kinh tế phát triển, thì điều đầu tiên nhận ra là các quốc gia này đả phát triển hệ thống tài chính tốt hơn các quốc gia khác. ViệtNammuốn đạt được sự phát triển kinh tế cân đối thì điều cần thiết là tạo ra một thị trường tài chính hiệu quả hơn và năng động hơn. Mà thị trường tín dụng gắn liền với hệ thống pháp luật chặc chẻ, hệ thông tin cá nhân toàn quốc gia, và hệ thống tính điểm tín dụng của từng công dân trên tuổi 21. Mà các công dân này cần có công ăn việc làm để có thể chi trả các khoảng thu chi trong tháng của mình.

Nhất là các nghiên cứu của hai nhà kinh tế Ross Levine và Sara Zervos, đả phân tích 47 nền kinh  tế khác nhau trong giai đoạn từ 1976 đến 1993 nhận ra mối quan hệ của khả năng mua bán thị trường cổ phiếu cho giá trị giao dịch cổ phiếu có tương ứng với tồng giá trị của thị trường cổ phiếu và độ lớn của số lượng ngân hàng cung cấp vốn vay cho cac doanh nghiệp tư nhân tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng sản phẩm quốc dân GDP. Các chỉ số này giúp dự đoán được mức độ tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế đó trong tương lai. Đương nhiên là phải tính đến các khía cạnh khác về thu nhập quốc dân, trình độ giáo dục, và sự ồn định của môi trường chính trị. Trong các quốc gia giàu có, thì giá trị của thị trường tài chính và chứng khoán thường lớn hơn rất nhiều so với tổng sản phẩm quốc dân GDP. Ngoài ra thị trường tài chính và thị trường chứng khoán có mối liên hệ hổ trợ cho nhau trong việc kích thích nền kinh tế hoạt động. Alan Greenpan nhận xét về sự khủng hoảng kinh tế ở Đông Á  trong cuối thập niên 1990s, với nhiều nguyên nhân, mà một trong các nguyên đó là: Nam Triều Tiên và các quốc gia Đông Á bị hạn chế bởi hoạt động trên thị trường cổ phiếu, và không có đủ các chọn lựa thay thế cho việc vay vốn ở ngân hàng càng tạo ra sự suy thoái trầm trọng hơn. Có nghĩa khi gặp khó khăn về vốn vay, các doanh nghiệp của Nam Triều Tiên không có phương thức linh hoạt cho việc vay vốn hay huy động vốn hiệu quả hơn ngoài việc cứ vay mượn trực tiếp từ ngân hàng và các công ty tài chính. Và khi các công ty tài chính này không cho vay thêm, buộc các công ty Nam Triều Tiên tuyên bố phá sản. Nam Triều Tiên có một phương thức hoạt động kinh doanh vay vốn có rủi ro rất cao là vốn vay của doanh nghiệp vượt ra ngoài khả năng thanh toán dựa trên tài sản của doanh nghiệp. Mà các ngân hàng của Nam Triều Tiên thường cho vay vốn do mối quan hệ tình cảm hay có sự giới thiệu của người quen.

Thị trường tài chính là môi trường vận hành theo nguyên tắc và pháp lý nhằm đảm bảo các quyền lợi, sở hữu và trách nhiệm trong mối quan hệ tài chính giửa các bên liên quan. Ngân hàng hay công ty tài chính là người trung gian cho việc thiết lập mối quan hệ của chuyển đổi vốn tạo ra lợi nhuận từ người cho vay sang người vay. Với khả năng nghiệp vụ chuyên môn cao, và tư duy sáng tạo, các ngân hàng và công ty tài chính sẻ không ngừng cải thiện và tạo ra sự đa dạng của các loại sản phẩm và dịch vụ về tài chính nhằm thu hút người gửi tiền, nhà đầu tư, và các tiềm năng của người vay theo những điều khoản thỏa thuận giửa các bên. Với sự đảm bảo của chính phủ hay sự bảo hiểm của một công ty tài chính thứ ba, công ty tài chính hay ngân hàng dể dàng huy động vốn cho việc tạo ra các loại hình vốn vay, đầu tư, và tín dụng thích hợp với lợi nhuận mong đợi. Những khái niệm sản phẩm chồng chéo của thị trường tài chính củng là con dao hai lưỡi. Nó hạn chế ruỉ rỏ cho ngân hàng hay nhà đầu tư trong viêc xử dụng vốn cho các khoảng đầu tư hay vay, nhưng nếu một công ty tài chính bị phá sản do không có khả năng thanh toán các trách nhiệm tài chính như vốn lưu động của khách hàng, kết quả là kéo theo các ngân hàng hay công ty tài chính khác củng bị ành hưởng hay phá sản theo.

Khoản vây từ ngân hàng là các thỏa thuận pháp lý giữa ngân hàng và người vay với các trách nhiệm về trả lải xuất, vốn vay theo định kỳ. Ngân hàng sẻ có trách nhiệm thu hồi vốn cho người tiết kiệm và sở hửu các tài khoản ủy thát tại ngân hàng. Những kế hoạch thu hút số người ký thác tiền gửi, hay gửi tiền tiết kiệm, tư vấn và giải quyết các hồ sơ vay vốn cho các doanh nghiệp, tư nhân. Sự quản lý hai đầu thu và chi của ngân hàng sẻ giúp ngân hàng có được nguồn doanh thu từ lệ phí cho vay, các dịch vụ khác, cùng như tạo các loại sản phẩm tài chính đa dạng phục vụ nhu cầu của thị trường. Chẳn hạn vốn cho sinh viên học sinh để theo đuổi các chương trình học. Theo mức thống kê, nếu trình độ của sinh viên tốt nghiệp đại học hay trung học sẻ có tay nghề cho các công việc đòi hỏi công việc có chiều sâu của kiến thức, nhưng ngược lại sẻ được trả mức lương cao hơn. Và các doanh nghiệp nước ngoài củng có những yêu cầu về trình độ kiến thức và tay nghề cho việc thuê mướn nhân viên. Do đó ngành giáo dục của Việt Nam cần có sự quan tâm cho việc đào tạo đội ngủ giáo viên có khả năng chuyển tải các kiến thức cần thiết về tài chính, kế toán, đầu tư, mậu dịch, thống kế, sát xuất cho sinh viên trong các ngành tài chính kế toán, và quản lý vốn và đầu tư với hạn chế rủi ro.

Mỗi quốc gia thiết lập một cơ quan giám sát và quản lý hoạt động của các ngân hàng hoạt động trên thị trường nội địa. Các điểm chính cho việc giám sát bao gồm: Điều kiện cho việc gia nhập của một ngân hàng, tỉ lệ vốn, luật vốn lưu động, luật rủi ro lớn, quản lý ngoại tệ, quyền hạn cho việc thanh tra. Bên cạnh đó là các loại hình hoạt động của ngân hàng bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, ngân hàng giao thương và đầu tư, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng thế chấp, ngân hàng tiết kiệm quốc gia và hiệp hội và quĩ tín dụng. Mổi loại ngân hàng sẻ có hoạt động kinh doanh vào một ngành nghề kinh tế để phục vụ khách hàng như khách hàng là người tiêu dùng, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vốn kinh doanh lớn, các cơ sở chính phủ, các công ty quốc tế.

Ngân hàng sẻ quản lý hoạt động tài chính thông qua mối quan hệ thu chi tài chính gọi là bảng thanh toán gồm hai phần của một công thức thu chi cân bằng. Nó mang giá trị cơ bản cho việc quản lý các thu chi của một ngân hàng ở qui nhỏ hay lớn. Khi đó một ngân có thể chọn ra một phương thức kinh doanh mang giá trị cho doanh nghiệp, tinh thần quốc gia giúp gia tăng GDP của quốc gia, và bảo đảm lợi nhuận cho khách hàng.

Tài sản                                                    Nợ
Tiền mặt                                                 Quỉ của cổ đông
Quĩ thị trường tiền tệ                              Quỉ uỷ thát
Các loại bảo đảm                                    Tiền mượn
Tiền cho vay

Tài sản và Nợ phải bằng nhau. Ngoài ra, doanh nghiệp củng có những thước đo về tài chính vả thu chi để giám sát tất cả những hoạt động có thể gây ra những khó khăn sau này. Tỉ giá P/E là tỉ giá giữa giá cổ phiếu và tổng giá trị thu nhập của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chia lợi nhuận cho cổ đông thì giá trị của D/P là tiền lời chi cho cổ động trên giá cổ phiếu giúp cho người đầu tư có hứng thú cho việt đầu tư trong tương lai. Nhật Bản có phương thức kinh doanh khác với Hoa Kỳ, nên thường các công ty không áp dụng tỉ giá D/P. Doanh nghiệp nào củng muốn giá cổ phiểu của họ có khuynh hướng tăng lên để thu hút nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu.

Thị trường tài chính của ViệtNamcó tỉ lệ là 25% đến 46% so với GDP của ViệtNam. Với mức GDP là 104 tỳ USD, thì thu nhập của người dân ViệtNamvào khoảng 2800 USD đến 3100 USD đầu người một năm. Nhưng sự hạn chế về nguồn vốn vay và sự an toàn của vốn ủy thác đả kềm tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam có thể áp dụng các giá trị mà nền kinh tế Nhật Bản đạt được trong giai đoạn 1945-1973. Khi ngân hàng trung ương và các công ty quốc doanh có lượng vốn lớn để điều phối cho hoạt động tài chính tại thị trường nội địa, thì những chính sách về tài chính và mua bán cổ phiếu có những dấu hiệu đáng kể hơn. Trong tình hình hiện tại chính phủ và các cơ quan chức năng có thể áp dụng các chính sách tài chính, luật pháp, qui tắc kinh doanh, trao đổi cổ phiếu, và nguồn gốc vốn đầu tư để quản lý cả hai thị trường tài chính và chứng khoán.

Cho khái niệm khả năng thanh toán của quốc gia trong quản lý kinh tế vĩ mô, chính phủ sẻ chú ý đến công thức thu chi tài chính căn bản.

S + T + IM = I + G + X
S: Tổng số vốn tiền tiét kiệm ở thị trường nội địa
T: ngân sách thu từ thuế
IM: giá trị hàng nhập khẩu
I: Tổng giá trị vốn đầu tư
G: ngân sách của chính phủ
X: tống giá trị xuất khẩu

Theo lý thuyến mức tổng số lượng của hàng hóa sản xuất ra phải bằng với mức cầu của thị trường. Kế tiếp là lượng tiền cung cấp cho thị trường bằng với số tiền vốn vay của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Sau cùng là cán cân thay toán phải cân đối bởi tài khoảng thâm thụt hiện tại và tài khoàng thặng dư về vốn.

Khi chính phủ có thể quản lý hiệu quả nguồn thu chi của ngân sách theo ý nghỉa thặng dư hay thăm hụt nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, đó là điều kiện đầu tiên. Bởi vì không nhất thiết lúc nào chính phủ củng có một ngân sách thặng dư sau những khoảng chi cho kinh tế, xã hội, quốc phòng, và đối ngoại. Nếu những thăm hụt ngân sách có thể giúp ích cho nền kinh tế hay an ninh xả hội tạo ra các giá trị tức thời kích thích nến kinh tế thị trường năng động có khả năng tạo ra giá trị mậu dịch thặng dư trong tương lai thì những chính sách của chính phủ vẩn coi là hợp lý. Có nghĩa chính phủ phải bù lổ khoảng thâm hụt bằng việc phát hành trái phiếu hay tăng thuế để có đủ ngân sách chi tiêu cho các chương trình an sinh xã hội hay an ninh quốc phòng.

Khi nguồn vốn nước ngoài vẩn tiếp tục đổ vào một thị trường có nghĩa giá trị lợi nhuận của thị trường đó vẩn còn được khai thác. Cho dù đó là giá trị ngắn hạn hay dài hạn. Sự khác nhau của chính phủ là biết chuyển đổi các chính sách kinh tế, mậu dịch quốc tế, lải xuất ngân hàng, tỉ giá hối đoái, lượng vốn lưu động trên thị trường tài chính, chứng khoán, và tín dụng có thể hiện được mối quan hệ giữa mức cung và cầu cho nhu cầu phát triển kinh tế của thị trường đó hay không. Nếu người dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng hay thị trường cổ phiếu và tín dụng, họ sẻ chọn giải pháp là giử tiền mặt bằng ngoại tệ mạnh hay quí kim hay tài sản địa ốc hơn. Do đó chính phủ luôn là nhân tố chấn an và bảo vệ pháp lý cho người tiêu dùng khi hy vọng họ sẻ gia tăng mức tiết kiệm, mua cổ phiếu, đầu tư vào các công ty tín dụng hay các công ty tài chính đầu tư. Nền kinh tế Việt Nam cần rất nhiều tác nhân để gia tăng tốc độ phát triển kinh tế ở mức trên 10% một năm. Nhưng các yếu tố mà chính phủ cần hổ trợ là giúp một số lượng lớn sinh viên, chuyên gia tu nghiệp nước ngoài về các ngành sau: tài chính, kế toán, phân tích thống kế, kiểm toán, toán cho bảo hiểm, quản lý đầu tư, hạn chế rủi ro kinh doanh, phân tích hạch toán cho các thi công công trình lớn. Số lượng sinh viên và chuyên gia phải đủ để làm việc cho các cơ quan của chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân.


Sản Xuất, Kinh Doanh, Dịch Vụ và Nhu Cầu Tài Chính

“Các hoạt động xã hội đều cần nguồn vốn hay tài chính để duy trì các mối quan hệ giá trị khác bên trong nội bộ hay bên ngoài của tổ chức. Không có nguồn tài chính, xã hội sẻ quay lại thời kỳ trao đổi hàng hoá không qua các hình thức trung gian là tiền tệ. Như vậy xã hội sẻ không phát triển với qui mô lớn hơn và giá trị lưu trử lâu hơn.”
*****

Tạo ra một nền kinh tế phát triển cân đối và ổn định, chính phủ thường hổ trợ trong các chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển, hoạt động kinh doanh trong các nghành nghề có lợi thế cạnh tranh hoạc đảm bảo thị trường nội địa có khả năng sản xuất và kinh doanh trong các ngành kinh tế mủi nhọn để hạn chế sự độc quyền của công ty nước ngoài. Sản xuất nhắm vào thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước với những cạnh tranh khốc liệc về giá cả, mẫu mã, chất lượng, tính năng, và kích thước; do vậy nhà sản xuất có những phương thức cho việc tồn tại trên thị trường.

Trong khi kinh doanh dựa trên các mối quan hệ trung gian và dịch vụ phục vụ khách hàng, ngoài ra kinh doanh hay thương mại mậu dịch là cầu nối giữa các thương hiệu với người tiêu dùng hay nhà phân phối sỉ lẻ và nhà tiêu thụ lớn. Các mối làm ăn trong sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ đều cần phương thức thanh toán và vốn đầu tư duy trì các yêu cầu mối trọng điểm trong các đối tác tham gia như lương trả cho nhân viên, lợi tức trả cho thuế, tiền lời trả cho nhân hàng, các chi phí khác. Mỗi doanh nghiệp sẻ phát triển tất cả những tác nhân tạo ra môi trường thuận lợi cho họ phát triển.

Có những ngành kinh tế sản xuất không có lợi nhưng chính phủ phải bù lổ nhằm duy trì khả năng tự túc trong các trường hợp có sự mâu thuẩn về chính trị và ngoại giao với các quốc gia nước ngoài vẩn có thể tự sản xuất ra được sản phẩm cho người tiêu thụ nội địa. Sự bảo vệ thị trường nội địa của chính phủ được thực hiện qua nhiều biện pháp tài chính, chính sánh kinh doanh, thuế, sở hữu tài sản, cách thức kế toán thu chi, và sự hiệu quả của cơ quan chính phủ kiểm soát các hoạt động này trên cả hai thị trường - tài chính và cổ phiếu.

Thị trường tài chính có thể do công ty hay ngân hàng quốc doanh, tư nhân, hay liên doanh tham gia để cạnh tranh thu hút khách hàng. Các doanh nghiệp tài chính có thể khai thác nhiều khía cạnh có tiềm năng lợi nhuận như dịch vụ tín dụng cho người tiêu dùng, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp lớn, giúp thanh toán giao dịch, ký thác và ủy thác, và tiến kiệm. Ngoài ra thành lập quỉ đầu tư cho khách hàng trong nước trong việc đầu tư quốc tế. Sự lỏng lẻo của các bộ phận quản lý thuộc chính phủ có thể dẩn đến các tác động tiêu cực gây nguy hại cho thị trường trong lâu dài. Sự phức tạp của nguyên tắc quản lý rủi ro, và những đầu tư vốn và cho vay dể tạo ra những mối cho vay không thế chấp, dể dải, và vi phạm luật pháp với số lượng vốn vay cao có thể sẻ gây ra hiệu ứng domino khi ngân hàng không thu hồi vốn lại cho số tiền ủy thác, ký gửi, đầu của khách hàng.

Tùy theo ngân hàng trung ương qui định tỉ lệ của tiền mặt và tổng số vốn cho vay, tỉ sổ này khoảng 8% tiền mặt cho tổng số giá trị tài sản của ngân hàng. Ngoài ra có hai khái niệm kế toán theo giá trị thị trường hiện thời hay giá trị khi tiếp nhận tài sản. Chẳn hạn ngân hàng sở hữu 100 căn nhà trị giá lá 1 tỉ USD vào cuối tháng 12 năm 2008. Do đó khi làm sổ sách tính toán cho tài khoá 2008 sẻ dùng giá trị 1 tỉ USD cho giá trị của 100 ngôi nhà. Nhưng cuối tháng 12 năm 2009, giá của 100 ngôi nhà chỉ còn là 800 triệu USD, do đó ngân hàng sẻ ghi nhận là đả thất thu 200 triệu cho tài khoá 2009. Còn nếu ngân hàng vẩn ghi là 1 tỉ USD sẻ làm nhà đầu tư hiểu sai đi giá trị thật của ngân hàng theo giá trị thị trường hiện thời. Điều này nó củng giúp ngân hàng thay đổi chính sách đầu tư theo giá trị thị trường hơn là giá trị ban đầu khi ghi nhận tài sản vào ngân hàng. Các vốn vay thế chấp đều nên hiệu chỉnh theo giá trị thị trường nhằm cung cấp giá trị thật của lợi nhuận hay thua lổ. Nhiều ngân hàng vẩn giử giá trị tài sản theo giá gốc lúc mới nhập vào, và hiện tại nhiều tài sản chỉ còn 1/10 giá trị ban đầu, nhưng ngân hàng vẩn giử nguyên giá trị củ, chỉ khi nào ngân hàng bán bất động sản đó thì lúc này ngân hàng mới ghi nhận sự thất thu hay thua lổ của giá trị bất động sản đả mua trước đó.

Vốn luôn là yếu tố quan trọng cho doanh nghiệp trong kinh doanh sản xuất. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu dùng hay dịch vụ cần những khai thác thị trường mới hay gia tăng số lượng, chất lượng, chủng loại củng cần vốn để mở rộng khả năng của mình. Họ không thể áp dụng tích lủy vốn tự có để gia tăng mức độ phát triển, bởi trên lý thuyết lợi nhuận của họ có hạn chế sau khi khấu trừ các loại chi phí trong quá trình sản xuất và dịch vụ. Ngân hàng là một trung gian có hiệu quả và an toàn cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh nếu lợi nhuận cao hơn lải xuất trả cho vốn vay của ngân hàng. Phát hành cổ phiếu là giải pháp thứ hai cho doanh nghiệp huy động vốn. Bán đi các tài sản không sinh lời là giải pháp thứ ba. Và giải pháp cuối cùng là cắt giảm nhân công và dùng tiền mặt trong quĩ để chi tiêu cho các hạng mục cần đầu tư.

Nếu một doanh nghiệp nhận ra hàng hoá hay dịch vụ của mình thành công trên thị trường, thì đều tiếp theo là kế hoạch phát triển thị trường theo sự dự đoán của thị trường trong tương lai. Sự chính xác của các dự đoán này bao gồm ý thích, nhu cầu của người tiêu dùng giúp nhà doanh nghiệp chọn đúng phương thức kinh doanh và sản xuất đúng loại sản phẩm người tiêu dùng thích. Do đó doanh nghiệp thường cần vốn để mở rộng qui mô kinh doanh hay thu mua các xí nghiệp nhỏ khác có cùng chủng loại sản phẩm và dịch vụ. Vốn có giá trị tương đối cho những kế hoạch kinh doanh lâu dài, nhưng khó khăn ở chổ là chọn đúng loại sản phẩm có giá trị cao cho thị trường tương lai mới là điều quan trọng. Thị trường tài chính tạo ra các giá trị phù hợp theo hoàn cảnh của từng thị trường với sự hổ trợ của công nghệ thông tin và các phương thức vận hành hiện đại giúp gia tăng việc trao đổi mậu dịch hay mua bán cổ phiếu ở tốc độ cao. Hay các phương thức thanh toán an toàn và tiện lợi cho các giao dịch từ nhỏ đến lớn. Công ty Paypal đả giúp cho nhiều công ty mua bán trên mạng có doanh thu tăng lên như amazon.com và eBay. Trong việc giao dịch tiền tệ các loại thẻ tín dụng và thẻ nạp tiền củng có thể giúp khách hàng thực hiện nhiều giao dịch ở tốc độ cao và tính an toàn bảo đảm.

Doanh nghiệp luôn đứng trước những bài toán cho việc xử dụng vốn cho lợi nhuận: (1) vốn cho hoạt động kinh doanh (giống như nhà doanh nghiệp có máy sản xuất, mặt bằng sản xuất, nhân công sàn xuất, thị trường tiêu, nhưng cần vốn để mua vật liệu, trả lương, tiền quảng cáo, vận chuyển, điện nước), (2) vốn cho mua thêm thiết bị máy móc để tăng số lượng, chất lượng của sản phẩm tạo ra nhiều lợi nhuận khi bán ra nhiều sản phẩm tại nhiều thị trường, (3) vốn để mua các xí nghiệp khác giúp doanh nghiệp mở rộng kinh doanh ra nhiều lĩnh vực tạo ra nhiều nguồn doanh thu hơn, (4) vốn để liên doanh hay xây dựng các hảng xưởng ở các thị trường có khả năng tiêu thụ mạnh hay giá nhân công rẻ. Do đó doanh nghiệp sẻ tìm những khả năng khai thác thị trường cho việc xử dụng vốn có hiệu quả và lợi nhuận cao.

Những giá trị đạo đức nghề nghiệp luôn cần hướng dẩn và theo dỏi trong những cá nhân có trách nhiệm, trực tiếp quản lý vốn vay, đầu tư. Vì nếu họ không biết đặt lợi ích doanh nghiệp, quốc gia lên trên lợi ích cá nhân, các hiện tượng tiêu cực dể dàng xảy ra. Mà nếu có như vậy, thì những gì một tập thể hy sinh, cống hiến sẻ trở nên vô nghĩa. Giống như một công trình xây dựng một khu trung cư đả lên kết hoạch cho việc thi công sau khi các nhân viên hoàn thành bản thiết kế, chọn nhà thầu, điều phối các cảnh quan, quảng cáo trên các hệ thống thông tin đại chúng, nhưng do nhà quản lý vốn công trình đả dùng vốn vào mục đích riêng như mua số lượng lớn cổ phiếu nhằm kiếm tiền lời trênh lệch. Nhưng kết quả cổ phiếu rớt giá làm mất đi số vốn cần thiết cho công trình, làm trì hoản đi việc thi công hay công trình bị đình hoản lại. Do đó không nên để một người hay một nhóm nhỏ người khai thác những khe hở về nguồn vốn cho những mục đích riêng không có sự đồng ý của toàn thể hội đồng quản trị.


Giá Trị Trao Đổi Tiền Tệ cho Xuất Khẩu

“Khả năng thanh toán cho mậu dịch xuất nhập khẩu thông qua các quá trình trao đổi tiền tệ trước khi các hàng hóa hay dịch vụ được chuyển giao.”

*****

Khi một nền kinh tế có giao tiếp với các nền kinh tế khác, có nghĩa sẻ có mối quan hệ trao đổi tiền tệ giửa các doanh nghiệp nội địa và quốc tế. Các doanh nghiệp sẻ quan tâm đến giá trị trao đổi tiền tệ vì sự cạnh tranh còn quyết định trên giá thành tính ra bằng ngoại tệ tại thị trường sản phẩm được xuất sang cho việc thiêu thụ. Nếu chính phủ có thể duy trì tỉ giá của đồng tiền nội địa thấp so với các đồng tiền ngoại tệ của thị trường nhập khẩu hàng hóa được sản xuất trong nội địa, thì các nhà doanh nghiệp xuất khấu sẻ có lợi thế về mặt cạnh tranh giá cả. Nhưng nếu vật liệu hay các phụ kiện nhập từ nước ngoài sẻ tạo ra chi phí cao khi đổi ra giá trị của đồng tiền nội địa. Ngoài ra, chính phủ còn dùng các quĩ ngoại tệ do thu nhập từ thặng dư mậu dịch để tạo ra những lợi thế cho xuất khẩu sang các thị trường khác.

Chính phủ vẩn có những biện pháp về chi phí bù lổ trong ngành kinh tế nội địa về vốn và giảm giá bán các loại sản phẩm trên thị trường trong nước nếu hàng nhập khẩu có khuynh hướng rẻ hơn hàng nội địa, hay ở thị trường nước ngoài cho việc giảm giá để tăng múc cạnh tranh. Chính phủ dùng tỉ giá hối đoán để ảnh hưởng đến nhà nhập khẩu và xuất khẩu trong việc định ra giá bán hàng của họ trên thị trường. Nếu tổng số xuất khẩu tăng lên so với chi phi hổ trợ của chính phủ trong vấn đề tỉ giá hối đoái, thì chính phủ sẻ tiếp tục áp dụng việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái. Trung Quốc đả áp dụng chính sách tiền tệ và tỉ giá hối đoái có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu.Bên cạnh tỉ giá hối đoái, chính phủ còn hổ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu bằng vốn vây lải xuất thấp giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm tạo ra sức mạnh cạnh tranh với các đối tác khác.

Ngoài ra, nếu chính phủ để cho thị trường bị các nguồn tài chính từ nước ngoài tham gia vào việc khống chế các nguồn cung và cầu của tài chính, thì không chánh khỏi việc lạm phát và sự không ổn định trong tất cả các chỉ số tiêu dùng vược ngoài khả năng thanh toán của hệ thồng ngân hàng trung ương, và ngân hàng tư nhân nội địa. Thường hiệu quả của việc quản lý các nguồn vốn trôi nổi tại thị trường nội địa nhất định thông qua ngân hàng trung ương theo nghỉa là kiểm soát nguồn vốn luôn động. Ngân hàng trung ương sẻ yêu cầu các ngân hàng tư nhân hay nước ngoài ký thác tiền vốn bằng ngoại tệ tại ngân hàng trung ương, rồi ngân hàng trung ương sẻ mở tài khoảng bảo đảm của chính phủ cho khách hàng. Khi ngân hàng khách hàng yêu cầu sử dụng ngoại tệ với số lượng cao, họ sẻ chuyển lệnh đến ngân hàng trung ương cho việc rút tiền mặt nhanh gọn và hợp lý cho các nhu cầu trong ngày hay tuần.

Chính sách quản lý tiền tệ về mặt hợp pháp và linh động sẻ gặp nhiều yếu tố tiêu cực như hối lộ hay tham ô khi các nhân viên quản lý có thể lợi dụng cho việc yêu cầu khách hàng chi trả tiền cước phí hay lệ phí miệng cho việc thanh toán ngoại tệ. Sự linh động về mặt kinh tế là tạo thuận tiện cho các ngân hàng và tư nhân hoạt động trên các phương thức chuyển khoảng, tín dụng, và bảo chứng vì giá trị tài chính chuyển đổi từ tay người này sang người khác trên hình thức, nhưng thực sự lượng tiền mặt vẩn nằm trong các két bảo mật của ngân hàng trung ương. Các ngân hàng tư nhân và nước ngoài sẻ sử dụng các các tài khoảng và giá trị điện tử để giao dịch và thực hiện các việc mua bán của minh.

Chính sách tiền tệ, tài chính mới sẻ tăng cường lượng tiền mặt và ngoại tệ vào tay ngân hàng trung ương tạo ra khả năng thanh toán và các phương thức hiệu quả của chính phủ trên thị trường tài chính của quốc gia. Bởi vì nguồn vốn đều là những con số điện tử nằm trong hệ thống ngân hàng quốc gia, giúp hạn chế sự đầu cơ, tích lủy trong các hoạt động đầu cơ ngắn hạn. Mô hình này sẻ đòi hỏi sự an toàn, hiệu quả, và sử lý chuyên nghiệp của mạnh lưới thông tin và dử liệu của hệ thống ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương sẻ mở ra các tài khoản cho các ngân hàng trong nước bao gồm ngân hàng tư nhân và nước ngoài. Các ngân hàng tư nhân và nước ngoài sẻ tạo ra tài khoảng cho khách hàng. Ngân hàng sẻ yêu cầu những lượng tiền mặt thích hợp cho việc chi trà cho khách hàng. Ngân hàng trung ương chỉ quản lý nguồn gốc của nguồn vốn của các ngân hàng tư nhân, và giám sát những chuyển đổi tài khoản với số lượng lớn. Dựa trên hệ thống mới, chính phủ dể dàng đóng thuế thu nhập và kinh doanh của cá nhân và doanh nghiệp. Những ví dụ hay gợi ý về khả năng và cách thức quản lý vốn ngoại tệ mạnh ở ngân hàng trung ương và các ngân hàng tư ngân hay quốc doanh luôn nhằm tạo ra sự an toàn cho khả năng thanh toán, trao đổi tiền tệ có lợi cho nền kinh tế quốc dân. Nhất là hạn chế những công ty tài chính có xử dụng vốn nước ngoài hay tiền của các tổ chức tội phạm quốc tể dùng lủng đoạn thị trường tài chính trong nước.

Sự quản lý tài chính sẻ hạn chế việc xử dụng nguồn vốn không rỏ ràng của các công ty đầu tư và tài chính có những hành vi lũng đoạn thị trường địa ốc, cổ phiếu và tài chính. Hiệu quả mà ngân hàng trung ương có thể hoàn thành là hạn chế nguồn vốn lưu thông phi pháp hay không có lợi cho nền kinh tế quốc gia. Nhưng củng đồng thời đảm bảo là không ảnh hưởng đến hoạt động hiệu quả của các ngân hàng trong thị trường nội địa. Các thủ tục quan liêu, giấy tờ sẻ bị hạn chế và thay thế bằng các phương pháp điện toán có độ bảo mật cao, có tính truy cập theo các thời điểm khác nhau của các tài khoản này. Ngân hàng trung ương chỉ giám sát theo phương thức khách quan, không gây ra các rào cảng làm thiệt hại giá trị kinh tế cho quốc gia tính theo doanh thu của các ngân hàng tư nhân và doanh nghiệp kinh doanh, Nhưng củng hạn chế các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra khi các sự ảnh hưởng của hối lộ và tham nhủng.

Tỉ giá tiền tệ thanh toán giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài sẻ có lợi khi doanh nghiệp trong nước muốn bán sản phẩm ra nước ngoài có giá thành thấp.Trong khi đó doanh nghiệp trong nước muốn nhập hàng hóa, vật liệu từ nước ngoài muốn bán ra với giá thành rẻ thì phải mong là đồng tiền nội địa có giá trị cao. Nhưng cả hai trường hợp luôn bị chi phối bởi cán cân thanh toán quốc tế. Có nghĩa nếu Việt Nam nhập khẩu 50 tỉ USD một năm và xuất khẩu 60 tỉ USD một năm, chính phủ trung ương và ngân hàng nhà nước sẻ tính ra từng loại hàng xuất và nhập từ quốc gia nào, và phương thức thanh toán bằng ngoại tệ nào, để giúp ngân hàng nhà nước có thể điều chỉnh tỉ giá hối đoái cho có lợi. Có nghĩa mức xuất khẩu lớn hơn mức nhập khẩu tạo ra cán cân thanh toán dương, duy trì nguồn vốn trong nước và sự giàu có của nền kinh tế nội địa. Các nhà nhập khẩu nguyên liệu cho việc chế biến và lấp ráp cho xuất khẩu sẻ quan tâm đến giá trị thành phẩm sau này. Nhưng hàng hoá và dịch vụ cho xuất khẩu sẻ chịu ảnh hưởng của tì giá hối đoái mà định giá bán tại thị trường nước ngoài.

Trung Quốc luôn áp dụng mức dự trữ ngoại tệ lớn, gần 3 ngàn tỉ USD, để kềm tỉ giá hốit đoái của đồng Nhân Dân tệ với đồng USD có lợi cho hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ và các quốc gia dùng đồng USD trong thanh toán quốc tế. Nhưng muốn kềm tỉ giá hối đoái của đồng tiền nội địa so với đồng tiền nước ngoài, ngân hàng trung ương phải thu mua đủ lượng tiền ngoại tệ để điều chỉnh tỉ giá theo từng giờ, ngày có lợi cho việc thanh toán quốc tế. Các doanh nghiệp củng phải có trách nhiệm ủng họ chính phủ trong việc quản lý số lượng lớn ngoại tệ dùng cho việc hiệu chỉnh tỉ giá hối đoái có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu. Các nhà doanh nghiệp thành công thường có thói quen mua sắm các món hàng mắc tiền có giá trị vài triệu USD như xe hơi, máy bay, du thuyền và nhà nghĩ mát. Nhưng có lẻ Nền kinh tế của Việt Nam vẩn cần nhiều sự hy sinh về sức người, tiền bạc và trí tuệ cho các thành quả lâu dài. Nó là một trong các yếu tố giúp Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đức, Singapore có thể vực dậy sau những khó khăn ban đầu cho việc phát triển nền kinh tế thịnh vượn. Khi chính phủ hoạch định bảng đồ phát triển kinh tế của các tỉnh và vùng từ bắc vào nam, thì bộ phát triển và đầu tư sẻ dể dàng tạo ra môi trường hoạt động kinh tế hiệu quả cho sự tăng trưởng GDP của Việt Nam. Có thể nói đơn giản là bộ kế hoạt và đầu tư sẻ lên kế hoạch cho mục tiêu GDP đạt được của từng tỉnh,vùng trong giai đoạn 2011-2030. Bên cạnh đó, củng nên chọn vị trí, địa đểm cho việc xây dựng ba thành phố kinh tế đặc biệc với việc thu hút vốn từ nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Nếu số vốn cần cho mỗi thành phố mới này là 60 tỉ USD, thì dần dần sự tăng trưởng GDP của mỗi thành phố sẻ tự động đóng góp và việc hoàn thiện việc xây dựng và mở rộng của từng thành phố riêng biệc. Đó củng là cách thu hút vốn và quản lý vốn có hiệu quả cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế lâu dài.


Kinh Doanh Tiền Tệ và Khả Năng Thanh Toán

“Giá trị trênh lệch, hay mối quan hệ giữa mức cung và cầu của một loại tiền tệ sẻ quyết định giá trị trao đổi của đồng tiền đó. Nhưng do sự khác biệt về thông tin mà tỉ giá hối đoái của một loại tiền tệ có thể khác nhau giữa hai thị trường giao dịch. Ngoài ra giá trị vay mượn luôn tồn tại trong thị trường tiền tệ cho các phương thức thanh toán.”
*****

Giá trị tiền tệ thay đổi dưới ảnh hưởng của khả năng tiêu thụ và thanh toán mậu dịch quốc tế trên thị trường quốc tế của quốc gia đó. Tại sao đồng đô la của Hoa Kỳ có giá trị thanh toán cao trên các hệ thốnh tiền tệ quốc tế? Bởi vì chính phủ Hoa Kỳ bảo đảm cho việc thanh toán với các quốc gia sở hữu đồng đô la Mỹ. Tỉ giá của đồng tiền nội địa với các ngoại tệ mạnh luôn thay đổi tạo ra điều kiện cho các nhà đầu tư kiếm lời. Ngoài ra, các nhầu đầu tư vào tiền tệ luôn tính toán sự thay đổi tỉ giá theo nhiều thông số phân tích khách nhau: (a) tình hình chính trị của một quốc gia, (b) các thay đổi trong chính sách của chính phủ đề ra, (c) khả năng thanh toán của nợ đáo hạn như công trái, trái phiếu tại thị trường đó, (d) cán cân mậu dịch quốc tế, (e) chỉ số tiêu dùng, và (f) dự trử ngoại tệ của quốc gia đó.

Khả năng thanh toán quốc tế do yêu cầu người mua và người bán theo các điều khoảng ghi trong hợp đồng và trong văn bảng giao dịch. Có những trường hợp khách hàng chỉ mượn chứng phiếu về giá trị ngoại tệ trong việc thanh toán. Ngân hàng và công ty tài chính giúp sự giao dịch giữa các bên được thuận lợi. Tiền mặt hay thanh toán tài chính dựa trên quí kim luôn có điểm yếu và mạnh của nó. Sự hoán chuyển từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác trong các hoạt động tài chính đều dựa vào tỉ giá ngoại tệ giữa hai đồng tiền trong giao dịch. Chẳn hạn nhà xuất khẩu Nhật Bản và nhà nhập khẩu Việt Nam sẻ xử dụng tỉ giá giữa đồng Việt Nam và Yên Nhật. Còn nhà xuất khẩu Việt Nam và nhà nhập khẩu Châu Âu sẻ xử dụng tỉ giá giữa đồng Việt Nam và đồng Euro cho các thanh toán. Khi các hoạt động thanh toán thông qua ngân hàng thường được xem như là sự vận chuyển, sự cất giử mang tính an toàn và tiện lợi cao tạo ra sự tin tưởng cho hai bên đối tác hay nhiều đối tác cùng tham gia trong các giao dịch thương mại và đầu tư.

Nhà đầu tư sẻ làm gì cho sự khai thác lợi nhuận thông qua việc kinh doanh, đầu tư tiền tệ nhất là khi tỉ giá ít có sự khác biệt giữa các thị trường tài chính nhằm tạo ra sự quân bình của giá trị trao đổi của các loại tiền tệ. Ngoài giá trị tỉ giá ngoại tệ hay tỉ giá giữa đồng tiền trong nước và các đồng tiền mạnh, nhà đầu tư còn quan tâm đến hai chỉ số khác là sự lạm phát của vật giá trong thị trường của loại tiền tệ đó, tỉ lệ lải xuất tiền vay và tiền gửi của tiền tệ đó. Nếu cả ba chỉ số này được phân tích và khai thác sẻ tạo ra những loại bom vô hình trong các cuộc khủng hoản kinh tế tài chính. Điển hình là khủng hoản tài chính ở Nam Triều Tiên, Thái Lan và các quốc gia Đông Nam Á. Có nghĩa, nhà đầu tư sẻ áp dụng các biện pháp như vay mượn bằng đồng tiền này, rồi gửi vào một ngân hàng, sau đó dùng tiền này để mượn một ngoại tệ khác, rồi lại gửi vào ngân hàng khác kiếm lợi thông qua sự chênh lệ về tỉ giá và mức tiền lời thay đổi từng ngày dưới sự ảnh hưởng của lạm phát và tỉ giá ngoại hối. Trong khi đó Trung Quốc nắm quá nhiều dự trử ngoại tệ lên gần 3,000 tỉ USD thông qua các thặng dư mậu dịch quốc tế, đã giúp ngân hàng Trung Quốc có thể khống chế tỉ giá ngoại hối với đồng đô-la của Hoa Kỳ. Ngoài ra Trung Quốc còn áp dụng với các loại ngoại tệ khác như đồng Yên Nhật Bản, đồng Euro của Châu Âu có lợi cho cả hai mặt là mua bán ngoại tệ và tăng mức xuất khẩu cho hàng hóa Trung Quốc sang các quốc gia này. Mỗi chính phủ tự nhận ra thăng dư mậu dịch hay sự không bình thường của cơ chế quản lý thị trường nội địa sẻ dẩn đến những nguy cơ về lâu về dài sẻ có những tác dụng ngược lại. Nhất là qui mô của thị trường nội địa bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế thế giới. Khi chính phủ Việt Nam có sự quan sát về tình hình phát triển tại Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Ấn Độ, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, sẻ có nhiều quan điểm khác nhau để hoà hợp với các giá trị chính trị, kinh tế và xã hội của Việt Nam.

Sự lớn mạnh của Trung Quốc do nhiều lý do sâu xa hơn là bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc tạo ra. Không thể không bỏ qua của ba giá trị, giá trị thức nhất là 'Toàn Cầu Hoá' cao trong thập niên 1990s và 2000s; giá trị thức hai là khai thác vô tận của internet trên các lĩnh vực kinh tế, xả hội, chính trị, văn hóa và thương mãi tại các thị trường trên thế giới. Khó ai hình dung ra nền kinh tế thế giới sẻ thế nào khi không có hệ thống internet và các dịch vụ điện thoại di động. Sự phát triển kinh tế không biên giới thông qua hai môi trường này tạo ra một khái niệm mới là giá trị siêu lợi nhuận của 'Chủ Nghĩa Kinh Tế Đế Quốc' tạo ra cơn sống 'cung cấp sản phẩm giá rẻ, vốn vay rẻ' cho các tập đoàn đa quốc gia, và xí nghiệp gia công và sản xuất. Đó là lý do mà Trung Quốc đả thành công trong việc biết quản lý nền kinh tế theo ba chiều không gian – con người, quyền lợi và khả năng. Hộ khẩu là một đặc ân thứ nhất cho một người có thể làm việc tại một thành phố. Quyền lời là phạm trù khi một người có nhiệm vụ giữ một chức vụ quan trọng cho các hoạt động kinh tế và an ninh xã hội. Khả năng là các ưu đải có được giúp cho một cá nhân, tập thể, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tại thị trường trong và ngoài nước. Cả ba giá trị này cùng lúc tạo ra nguồn lợi tức cho chính phủ, và giúp chính phủ phân bố tài nguyên cho từng vùng hay khu vực dân cư theo các ưu tiên cần thiết của nền kinh tế quốc gia. Qui mô lợi nhuận mà Việt Nam có thể gặc hái được sẻ tùy vào qui mô phát triển của ba giá trị vừa nêu nhằm tạo ra các giá trị liên đới theo hiệu ứng domino giúp Việt Nam có được các nguồn thu tài chính, tiền tệ như sau: xuất khẩu, tiền gửi về của thân nhân và nhân viên ở nước ngoài, đầu tư nước ngoài, du khách nước ngoài đến Việt Nam, lợi nhuận từ các quĩ đầu tư tại nước ngoài.

Khi mậu dịch quốc tế gia tăng ở con số hơn 10000 tỉ USD hay mức giao dịch tiền tệ hàng ngày ở con số hơn 1000 tỉ USD cho nhiều loại tiền tệ khác nhau. Nhất là giá trị xuất nhập khẩu dựa trên một loại tiền tệ trao đổi nào đó, sẻ tạo ra những giá trị khai thác cho ngân hàng, nhà đâu tư tiền tệ trong việc tạo ra lợi nhuận. Trong năm 2001, mức độ lệ thuộc vào việc trao đổi tiền tệ quốc tể ở các quốc gia trên thế giới vào đồng đô-la Hoa Kỳ là 68.3%, Bảng Anh là 4%, Yen Nhật là 4.9%, Euro là 13%. So với các quốc gia công nghiệp thì tỉ lệ này là 74.5% cho đồng đô-la Hoa Kỳ, 1.8% cho Bảng Anh, 5.5% cho Yen Nhật, 9.7% cho Euro. Trong khi giao dịch tiền tệ ở các quốc gia đang phát triển là 64.1% cho đồng đô-la Hoa Kỳ, 5.5% cho Bảng Anh, 4.5% cho Yen Nhật, 15.3% cho Euro. Nhìn vào tỉ lệ này, có thể nhận ra sự giao dịch hàng hóa, tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới có liên quan đến các đồng tiền mạnh của Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản và Anh Quốc. Nhất là nhìn qua mức độ trao đổi tiền tệ hằng ngày ở các thị trường tài chính trên thế giới như thị trường tài chính Luân Đôn lên đến 504 tỉ USD (tháng 19 năm 2001), Nữu Ước là 254 tỉ USD, Nhật là 147 tỉ USD, Singapore là 101 tỉ USD, Đức là 88 tỉ USD, Thụy Sĩ là 71 tỉ USD, Hồng Kông là 67 tỉ USD, Australia là 52 tỉ USD. Thị trường Luân Đôn chiếm đến 31% thị trường tài chính thế giới, so với Hoa Kỳ là 16%, Nhật là 9%, Singapore là 6%, Singapore là một quốc gia Đông Nam Á nhưng đả biết cánh phát triển thị trường tài chính một cách hiệu quả và lớn mạnh phục vụ cho khách hàng trong khu vực và trên thế giới. Như vậy khi nền kinh tế có nhỏ như Singapore vẩn có một lượng lớn giao dịch tiền tệ lên đến con số 6% của thị trường thế giới cho thấy khả năng xây dựng một thị trường tài chính cần có nhiều tác nhân như hệ thống hành chính, tỉ lệ tham nhủng thấp, hiệu quả quản lý của các chuyên viên làm việc trên thị truờng giúp cho nhà đầu tư có thể gia tăng hoạt động kinh doanh của họ trong các thị trường mậu dịch trung gian.

Nhà nhập khẩu và xuất khẩu cần lượng ngoại tệ để mua hàng hoá hay trao đổi. do đó mức cầu của các loại tiền tệ luôn thanh đổi theo từng các giai đoạn phát triển của các thị trường nối kết với nhau. Nhà đầu tư vào thị trường tiền tệ luôn quan sát và dự đoán nhu cầu mua hay bán của từng loại tiền tệ mà có hành động thu mua hay bán ra. Nền kinh tế của một quốc gia củng ảnh hưởng đến giá trị của đồng tiền quốc gia đi kèm với sự ổn định của cơ cấu chính trị và mức lạm pháp thấp. Tỉ lệ lạm phát cao sẻ làm giảm đi giá trị đầu cơ của một loại tiền tệ. Singapore đả biết khai thác giá trị vận hành của một thị trường tài chính phục vụ các khách hàng nước ngoài. Giá trị của Singapore có thể giúp Việt Nam hình thành một loại thị trường độc lập về dịch vụ tài chính và cổ phiếu tạo ra các giá trị sau cho kinh tế Việt Nam: (a) công ăn việc làm, (b) cạnh tranh sức đầu tư từ nước ngoài, (c) khai thác vốn vay trong và ngoài nước, (d) thu hút khách hàng cho việc mua bán cổ phiếu và giao dịch tài chính, (e) tạo ra ngân sách thuế cho chính phủ và lợi nhuận cho các quĩ đầu tư có vốn của chính phủ khi được cho vay và đầu tư tại các quốc gia nước ngoài.

ViệtNammuốn có nhiều nhà đầu tư Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Ấn Độ tham gia vào các ngành kinh tế như công nghệ sản xuất, gia công sản phẩm, nghiên cứu sản phẩm, đến các công ty tài chính và bảo hiểm tài chính, thì môi trường kinh doanh tại Việt Nam cần có các yếu tố lợi nhuận, yếu tố chuyển đổi vốn, yếu tố sở hữu tài sản và pháp luận thống nhất. Điều quan trọng mà thị trường ViệtNamvẩn cần làm là xây dựng một nền tản ổn định của hệ thống thanh toán quốc tế và hệ thống tài chính có mức chuyên nghiệp cao và tỉ lệ tiết kiệm cao trong thời gian tới. Mức đầu tư của chính phủ, tư nhân và mức tiết kiệm của người dân phải cao. Mà đầu ra cho lợi nhuận thu được là xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sang các thị trường trong khu vực và quốc tế. Việt Nam có thể gia tăng cạnh tranh các sản phẩm của Trung Quốc tại thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, Nga, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á. Nguồn tài chính mà Việt Nam có thể thu về sẻ có nguồn từ các thị trường tài chính lớn trong khu vực và thế giới. Chính phủ cần đào tạo ít nhất là các nhóm kinh tế, đầu tư người Việt Nam hay chuyên gia nước ngoài làm việc cho Việt Nam có văn phòng hoạt động tại các quốc gia có nguồn vốn mạnh. Những hoạt động về tiền tệ và trao đổi mậu dịch luôn đi liền với nhau, do đó chính phủ Việt Nam sẻ cần nguồn thông tin chính xác cho các hoạt động mua bán, giao dịch tài chính giữa thị trường Việt Nam và các thị trường quốc tế. Sự tin tưởng và khả năng quản lý nguồn thông tin và thao tác chuyên nghiệp cho các giao dịch này sẻ là lợi thế cho thị trường Việt Nam thu hút nhiều hơn các nguồn tài chính quốc tế. Việt Nam sẻ có một thị trường tài chính lớn mạnh và hoạt động hiệu quả trong vòng 20 năm, có lẻ sẻ lớn hơn cả thị trường Singapore, Hồng Kông gộp lại trong năm 2030. Nhưng chính phủ phải có sự hổ trợ về kinh phí cho việc đào tạo đội ngủ chuyên viên có trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ này.

Các Thông Số của Thị Trường Tài Chính

“Công thức giúp sự dự đoán lợi nhuận và rủi ro trong khung cho phép, trước khi các quyết định của bản năng, kinh nghiệm, và trao đổi được áp dụng.”

******

Những chính sách của kinh tế vĩ mô tạo ra nền tản cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả khi các doanh nghiệp có được sự hổ trợ của chính phủ và hệ thống tài chính mạnh giúp họ có được sự linh hoạt trong việc vay vốn, phát hành cổ phiếu, thanh toán quốc tế, thuế, tỉ giá ngoại tệ cho xuất nhập khẩu, và các an toàn trong việc chuyển dịch tài sản trong và ngoài nước. Cán cân thu chi nội địa là sự hiệu quả của các chính sách giúp chính phủ luôn ổn định mức lạm phát thấp và tỉ lệ thất nghiệp thấp. Trong khi đó cán cân thanh toán quốc tế luôn ở mức ổn định trong việc thu hút vốn nước ngoài và mức thặng dư mậu dịch quốc tế. Ngoài ra mức tăng trưởng kinh tế GDP và tỉ giá trao đổi đồng tiền nội địa và ngoại tệ mạnh như USD, Yen, Bảng Anh, Đức Mã.

Một trong các chỉ số thay đổi của một nền kinh tế ổn định và hiệu quả khi phương trình của biến số lượng tiến (MS), lượng hàng hóa (GS), và lượng thanh toán (PB) sẻ thay đổi khi tỉ giá lải xuất ngân hàng thay đổi và mức thu nhập thay đổi. Điểm giao nhau của ba phương trình này khi ở mức tiền lời là bao nhiêu và thu nhập là bao nhiêu thì có một đáp số chung. Hay đối chiếu với sự cân bằng của lượng hàng sản xuất bằng lượng hàng yêu cầu, số tiền cung cấp bằng số tiền nhu cầu, cán cân thu chi phải cân bằng. Trong đó sự cân bằng hoàn hảo lý tưởng theo phương trình sao:
S +T + IM = I +G + X  (1)
Trong đó, S là mức tiết kiệm nội địa, T là giá trị ngân sách từ thuế, IM là mức thu nhập do nhập khẩu, I là tổng số tiền đầu tư, G là ngân sách mà chính phủ chi tiêu, X là thu nhập từ xuất khẩu. Với những chỉ số cần thiết chính phủ sẻ áp dụng các chính sách nhằm bổ xung biến số nào theo sự thay đổi của các biến số khác trong phương trình trên để ổn định cán cân căng bằng của thanh toán quốc tế và nội địa giúp giá trị của đồng tiền nội địa ổn định và tạo ra sự thu hút đầu tư nước ngoài của thị trường nội địa.

Ngoài ra nếu có sự khác biệc của mức lải xuất ngân hàng ở thị trường nội địa cao hơn các thị trường khác, sẻ thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, nhất là khi tỉ giá ngoại hối được thả nổi theo giá thị trường. Các ngân hàng của Thái Lan đả tạo ra lổ hỏng cho việc tạo ra sự khủng hoản của tiền tệ khi các nhà đầu tư nước ngoài biết khai thác sự trên lệch giữa việc vay vốn bằng tiền Bath, sau đó mua tiền đô-la Hoa Kỳ và ký gửi lại ngân hàng Thái Lan tạo ra lợi nhuận trên lệch giữa tài khoản ngoại tệ và tài khoản tiền nội địa khi có mức lạm phát cao. Trong khi đó nếu chính phủ phát hành lượng tiền lớn sẻ làm cho giá trị tỉ giá đồng tiền nội địa mất giá so với các ngoại tệ khác. Ngân hàng trung ương sẻ bán ngoại tệ ra thị trường, nhằm mua lại tiền nội địa giúp tạo sự ổn định giá trị của đồng tiền nội địa. Sự chuyển dịch này tạo ra những tác động đến nền kinh tế của quốc gia.

Tuỳ theo chính sách kinh tế mà chính phủ sẻ chọn điều chỉnh toàn bộ các biến số của phương trình (1) hay cố định một biến số và thay đổi các biến số khác trong việc kích thích nền kinh tế phát triển. Phương trình (1) còn thể hiện cho việc chính phủ chọn tăng mức tiết kiệm S, giảm thuế để tác động đến mức gia tăng mức đầu tư I (như trường hợp chính phủ Hoa Kỳ giảm thuế cho các doanh nghiệp và tầng lớp trung lưu), gia tăng thu nhập của xuất khẩu X khi các doanh nghiệp lợi thế về giá thành do đóng thuế thấp, và giảm chi tiêu ngân sách của chính phủ G đển giảm lượng phát hành công phiếu hay trái phiếu. Do nền kinh tế của một quốc gia càng có nhiều liên hệ và giao dịch với các quốc gia khác, do đó phương trình (1) chỉ áp dụng cho mô hình đơn giản khi quản lý nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô theo các thanh toán nội địa, quốc tế và các nguồn thu chi khác.

Ở cấp vi mô, các bước kế tiếp là phân tích các hoạt động của một doanh nghiệp và thói quen của người tiêu dùng trong việc tác động đến nền kinh tế quốc gia. Thêm vào đó là sự so sánh với một quốc gia khác có quan hệ mậu dịch với thị trường nội địa. Trong sự phân tích có tính phức tạp hơn là mức thu nhập, giá tiêu dùng, sức mua của người tiêu dùng, và ti giá ngoại tệ. Sự khác nhau về giá cả trong một quốc gia do nhiều lý do. Giá cả trong một quốc gia sẻ chênh lệch với các quốc gia khác khi hoán đổi ra đồng ngoại tệ như đô-la Hoa Kỳ. Chẳn hạn trong năm 2002, giá trung bình một chai nước giải khác 2 lít bán ở Chicago là 1.45 USD, ở Tokyo là 3.55 USD, và Sydney là 1.27 USD. Những sự khác biệt này không thể tạo ra sự chuyển đổi mậu dịch từ nơi này sang nơi khác, nhưng nó giải thích giá sinh hoạt tiêu dùng giữa các quốc gia hay thành phố với nhau. Trong cùng một thị trường Việt Nam, người tiêu dùng dể dàng nhận ra giá cả sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh sẻ cao hơn các thành phổ ở các tĩnh trong cả nước, nhưng ngược lại các thành phố du lịch như Vũng Tàu, Nha Trang, Phan Thiết, Huế, Hội An, Vịnh Hạ Long, Đà Lạc, Phú Quốc sẻ có giá cả sinh hoạt cao hơn vì nhu cầu của khách du lịch làm tăng giá cả sinh hoạt lên. Do đó có sự hiệu chỉnh về mức sinh hoạt hay mức lương giữa các thành phố, tỉnh và vùng với nhau.
Do các chính sách về quản lý tài chính, mà ngân hàng sẻ áp dụng các mức chi phí khác nhau tạo ra sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong cùng một thị trường hay giữa các thị trường. Các nhà đầu tư có vốn lớn sẻ tìm ngân hàng tại các quốc gia có mức đóng thuế thấp hay chi phí thấp mà ký gửi. Các ngân hàng Châu Ấu có lợi thế là không bị ràng buộc bởi những nguyên tắc và hạn chế giống như các ngân hàng tại Hoa Kỳ cho nên có thể cạnh tranh với các ngân hàng Hoa Kỳ trong việc thu hút khách hàng cho mức lời của tiền gửi cao hơn các ngân hàng Hoa Kỳ, và mức tiền lời cho các vốn vay thấp hơn các ngân hàng Hoa Kỳ. Theo viễn tường đó, các ngân hàng Châu Âu cạnh tranh trong việc thu hút vốn gửi bằng đô-la Hoa Kỳ theo hai trường hợp: (1) mức tiền lời cho người gửi luôn cao hơn ngân hàng Hoa Kỳ, (2) mức tiền lời cho người vay vốn theo đô-la Hoa Kỳ sẻ thấp hơn ngân hàng Hoa Kỳ. Hay nói cách khác khoảng rộng của tỉ giá vay vốn và tiền lời của ngân hàng Hoa Kỳ lớn hơn khoảng rộng của tiền lời vay vốn và tiền lời cho người gửi của ngân hàng Châu Âu. Hay các ngân hàng Châu Âu giảm lợi nhuận của họ nhằm thu hút nhà đầu tư và khách hàng từ khắp nơi trên thế giới. Có thể ví dụ sau để minh họa. Một ngân hàng ở Hoa Kỳ có mức tiền lời cho người gửi là 1% một năm và mức tiền lời cho người vay là 5% một năm. So với ngân hàng ở Châu Âu là mức tiền lời cho người gửi là 1.5%, và tiền lời cho người vay là 4.5%. Khoảng rộng của ngân hàng Hoa Kỳ là 5% - 1% = 4%, so với khoảng rộng của ngân hàng Châu Âu là 4.5% - 1.5% = 3%. Như vậy ngân hàng Châu Âu phải làm việc hiệu quả hơn để giảm chi phí hành chính và giảm tiền thưởng cho các nhân viên của họ.

Rủi ro của việc cho vay vốn các khách hàng nước ngoài hay trong nước đều mang tính rủi ro cao. Như trường hợp các cuộc khủng hoản tài chính trên thế giới, đả tạo ra những khoản thiệt hại cho các ngân hàng quốc tế, trong đó có các ngân hàng Hoa Kỳ. Sự thiệt hại hay rủi ro này ở tỉ lệ vốn vay so với vốn lưu động của ngân hàng. Như trường hợp khủng hoảng trong năm 1982 ở Argentina, vốn vay chiếm đến 12% vốn ngân hàng của Hoa Kỳ; ở Brazil chiếm đến 26%, Mexico chiếm đến 37%; khủng hoảng tại Châu Á năm 1997, Indonesia chiếm 2%, Korea chiếm 3%, và Thái Lan chiếm 1%. Điều này củng thể hiện sự nối kết của hệ thống tài chính quốc tế gắn liền với nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. So với Nhật Bản, thị trường cổ phiểu, tài chính, và đầu tư nước ngoài do các nhà đầu tư Nhật Bản quản lý, do đó các món nợ thường do các chủ nợ là người Nhật hơn là các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ thường áp dụng các khoảng cho vay lải xuất thấp hay không hoàn lại cho các quốc gia Châu Á theo một phương thức khác với các quốc gia công nghiệp Phát triển như Hoa Kỳ và Châu Âu. Tạo ra các hoạt động kinh tế hiệu quả cho các công ty Nhật Bản tham gia vào các thị trường trong khu vực này.

Sự đầu tư về vốn sẳn có mang nhiều rủi ro và lợi nhuận tạo ra sự cạnh tranh của các công ty tài chính có chuyên môn cao trong việc quản lý tài sản và nguồn vốn ký gửi từ khách hàng. Thị trường Việt Nam vẩn còn chưa khai thác hết các giá trị về thị trường tài chính theo nghĩa - hạn chế giữ tiền mặt trong các doanh nghiệp ở một mức là bao nhiêu và hạn chế việc các doanh nghiệp dùng việc thế chấp cho việc kinh doanh ở mức không an toàn. Cả hai trường hợp có thể tạo ra hai kết quả - không khai thác hết khả năng vận dụng vốn lưu động và tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư, hay tạo ra nguy cơ phá sản kéo theo sự khủng hoản kinh tế về tài chính và địa ốc tại các quốc gia. Nam Triều Tiên gặp sự khủng hoản khi các doanh nghiệp lệ thuộc vào vốn vay của ngân hàng, vì các doanh nghiệp Nam Triều Tiên không thể huy động vốn từ thị trường chứng khoán hay tín dụng. Nhật Bản và Hoa Kỳ gặp cơn khủng do tỉ lệ đầu tư cao vào thị trường địa ốc mà phần lớn các công ty lớn đều có các tài khoản đầu tư này tạo ra sự thiệt hại khi các ngân hàng không thu hồi vốn vay từ các dự án địa ốc.

Sự khác biệt giữa một nhà đầu tư và người sở hữu vốn là hoạt động tái xử dụng vốn theo thời gian và không gian. Trong giai đoạn phong kiến, các nhà đầu tư Châu Âu đả thông qua các triều đại vua hay hoàng hậu để mở rộng thị trường khai thác lợi nhuận. Một trong số này là công ty Đông Ấn với cổ phần của nhiều quí tộc thành lập cầu nối cho việc khai thác lợi nhuận từ vùng Châu Á Thái Bình Dương sang Ấn Độ, Trung Đông, Châu Phi và Bắc Mỹ. Khái niệm này có thể lý giải việc các nhà đầu tư phương tây đả biết mở rộng thị trường sang các quốc khác hay châu lục khác cho lợi nhuận cao hơn. Từ khái niệm đó các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam củng có thể khai thác trên qui mô toàn cầu ở nhiều phương thức khác nhau. Không có một công thức nào là hoàn hảo, nhưng nó có thể được biến đổi phù hợp với hoàn cảnh của thị trường Việt Nam. Khi cán bộ Việt Nam biết áp dụng các phương thức thành lập quĩ đầu tư vào thị trường trong và ngoài nước, thì bản thân họ sẻ nhận ra giá trị kinh tế luôn gắn liền với giá trị liên kết giữa các thị trường. Điều này có lợi cho nền kinh tế Việt Nam, bởi vì các quĩ đầu tư không chỉ mở rộng khả năng khai thác lợi nhuận ở nhiều thị trường khác nhau mà nó còn kích thích sự liên kết hay giao lưu văn hóa và mậu dịch giữa các quốc gia khác nhau. Nếu cán bộ Việt Nam thành lập khoảng 10 quĩ đầu tư có số vốn hơn 100 triệu USD, và chọn các dự án đầu tư tại các quốc gia như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Bra-xin, Nga, Đức, Anh, Pháp, Ý thì giá trị kinh tế và ngoại giao của 10 quĩ đầu tư này vô cùng to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cần khuyến khích các quĩ đầu tư này hoạt động ở nước ngoài vì nó là cầu nối cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển trong tương lai.

Khái niệm thứ hai là tiền vốn không bao giờ nằm một chổ, vì nó phải được lưu chuyển tạo ra lợi nhuận theo các phương thức đầu tư khác nhau. Nhưng hệ thống luật pháp và khả năng chuyên môn quản lý vốn của các ngân hàng sẻ tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư. Nếu không có niềm tin thì không nhà đầu tư nào giám bỏ tiền vào ngân hàng hay các công ty tài chính. Sự hiệu quả của hệ thống luận pháp, sự quản lý của các cơ quan giám sát kinh tế sẻ giúp ngăn ngừa các tội phạm kinh tế lừa gạt tiền gửi của nhà đầu tư. Sự khác nhau mà Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Úc, Tân Tây Lan, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore có thể làm được là sự uy tín và chuyên môn hóa cao trong môi trường luật pháp chặc chẻ để đảm bảo các mối quan hệ kinh tế luôn hoạt động minh bạch, hiệu quả, tôn trọng và tuân thủ theo pháp luật. Khả năng vận chuyển vốn cho lợi nhuận cao chỉ có thể tồn tại khi hệ thống luật pháp hoạt động hiệu quả cùng với sự giám sát có tính chuyên nghiệp và khách quan của các cơ quan kinh tế và tài chính của chính phủ. Khi đó nhà đầu tư Việt Nam sẻ yên tâm đầu tư vào nhiều hạn mục kinh doanh và tài chính nhiều hơn.

Các khái niệm tài chính sẻ được phổ cập từ lớp 6 giúp học sinh có một cái nhìn mới và tích cực cho các hoạt động kinh tế từ các loại thị trường – tài chính, địa ốc và cổ phiếu. Học sinh lớp 11, 12 và đại học củng nên mở rộng các khái niệm đầu tư, hoạt động tài chính, tín dụng và mậu dịch quốc tế. Nó sẻ giúp rất nhiều cho sinh viên và học sinh và khi nhận biết các giá trị cơ bản của ba loại thị trường. Củng có nghĩa thái độ của họ sẻ thay đổi trong việc mua sắm, tiết kiệm và đầu tư, và sẻ tạo ra một khái niệm mới cho thế hệ trẻ biết xử dụng tiền một cách hiệu quả, kinh tế và tránh nhiệm và mang tích khoa học cao. Khái niệm tiết kiệm, tiền lời, tiền lời tích lũy, quỉ an sinh xã hội, tiền bảo hiểm nhân thọ và các loại đầu tư so sách ngắn hạn và dài hạn nên được phổ biến càng rộng lớn bao nhiêu càng có lợi cho nền kinh tế của Việt Nam. Chỉ cần có sự chuyển đổi về mức tiết kiệm và mức chi tiêu và mức đầu tư của người dân Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030 sẻ tác động tích cực cho việc giúp Việt Nam gia tăng mức tăng trưởng GDP từ 104 tỉ USD lên hơn 900 tỉ USD.

Bên cạnh việc tham gia vào thị trường tiền tệ, cán bộ và quản lý doanh nghiệp nên chú ý các phân tích cho giá trị rủi ro liên quan đế tỉ giá hối đoái của tiền tệ: (a) sự khác nhau giữa tài sản tính theo giá trị của một tiền tệ và nợ tính theo giá trị của một tiền tệ khác, (b) sự không chắc chắn của giá trị trao đổi của đồng tiền nội địa và đồng tiền nước ngoài vào thời điểm thanh toán trong tương lai, (c) giá trị tài sản của doanh nghiệp hay vốn đầu tư tính theo tỉ giá trao đổi của đồng tiền địa phương và đồng tiền nước ngoài có sự thay đổi khi tỉ giá này không cố định. Đó là ba loại rủi ro khi nhà đầu tư tính giá trị của các khoảng giao dịch và tài sản dựa trên các tỉ giá trao đổi giữa các tiền tệ khác nhau trong một thời điểm nào đó. Các nhà xuất khẩu luôn muốn có lợi thế về việc mua bán ngoại tệ trong các thanh toán thông qua ngân hàng trong và ngoài nước. Tỉ giá ngoại tệ luôn thay đổi, do đó sẻ ảnh hưởng đến sự cạnh tranh về giá bán và giá mua cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Các hợp đồng mua bán thường có bảo hiểm khi tỉ giá thay đổi.


Các Khái Niệm Giả và Thật Trong Hoạt Động Kinh Tế
“Có nhiều loại thông tin là đúnh, hay các lập luận có vẻ mang tính lo-gic, nhưng nó chỉ phục vụ tác động tâm lý cho các chính sách kinh tế. Do đó chính phủ luôn biết chọn lựa các chính sách có lợi cho nền kinh tế về lâu dài hơn là ích lợi ngắn hạn.”

*****
Khi chính phủ áp dụng các chính sách kinh tế vĩ mô, thì có các giá trị mà chính phủ hy vọng sẻ đạt được, nhưng bên cạnh đó có những giá trị vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính phủ. Vì vậy sự phân tích của mổi chính sách mới luôn mang giá trị lâu dài chẳn hạn như mức thuế tiêu dùng, thuế thu nhập, thuế nhập khẩu, thuế môi trường, thuế sử dụng đất đai, và thuế sang nhượng hay mua bán. Sự thay đổi của các loại thuế này sẻ kéo theo các kết quả kinh tế khác nhau. Ví dụ, chính phủ muốn hạn chế nhà đầu tư mua bán bất động sản trong thời gian ngắn, nên ra chính sách là không được chuyển nhượng tài sản trong vòng 3 tháng hay 6 tháng sau khi sở hữu tài sản đó. Và đóng mức thuế mua bán là 30% giá trị tiền lời giửa giá mua và giá bán, sẻ làm giảm hoạt động mua bán bất động sản. Đồng thời chính phủ tăng mức tiền lời cho các khoảng vay mua bất động sản, và giảm mức tiền lời cho các hoạt động vay vốn trong kinh doanh sản xuất. Đó là các giá trị thật khi một chính sách kinh tế mà chính phủ muốn thực hiện để quản lý các hoạt động kinh doanh trong thị trường.

Thị trường tài chính về tiền tệ mang hai giá trị - hiệu quả và không hiệu quả. Nếu gọi là hiệu quả thì những thông tin liên quan đến mức cung và cầu của lượng tiền trong và ngoài nước sẻ dẩn đến sự thay đổi về tỉ giá ngoại hối, lẩn giá cả các sản phẩm tiêu dùng trong nước. Mức lạm phát củng một phần do lượng tiền lưu thông nhiều, mà khả năng thay toán của chính phủ thấp. Mà chính phủ thường có sức mua thông qua ngân sách từ thuế, tiền lời đầu tư từ các nguồn vốn của chính phủ trong các hoạt động kinh tế, doanh thu từ các doanh nghiệp thuộc chính phủ, tiền thuê đất đất đai của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đó là lý do mà chính phủ phải quản lý số lượng tiền lưu thông trong nước để hạn chế mức lạm phát không vượt quá mức tăng trưởng của nền kinh tế. Ví dụ, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng một năm là 8%, thì mức lạm phát phải dưới 7%. Lý tưởng nhất là từ 1% đến 3% một năm. Vì có như vậy thì nhà đầu tư mới đầu tư vào thị trường Việt Nam lẩn mua trái phiếu và cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Nếu mức tiền lời là 10% một năm, và mức lạm phát là 5%, thì xem như nhà đầu tư chỉn lời khoảng 5%. Ngược lại, nếu mức lạm phát là 12%, thì xem như nhà đầu tư lổ 2% một năm. Do đó khi xét đến sự tăng trưởng của nền kinh tế, chính phủ luôn quan tâm đến các yếu tố sau: (a) mức tăng trưởng của GDP có lớn hơn mức lạm phát hay không, (b) mức lạm phát có nằm trong khoảng 1% đến 3% một năm hay không, (c) tỉ lệ tiết kiệm có vượt qua con số 20% một năm trên thu nhập bình quân của người dân hay không, (d) mức tăng trưởng của xuất khẩu tính theo tỉ lệ GDP là bao nhiêu, (e) tổng số vốn đầu tư của nước ngoài gia tăng số với năm trước là bao nhiêu và bao nhiêu phần trăm của GDP, (f) tỉ lệ vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh sản xuất là bao nhiêu, (g) tỉ lệ phần trăm của nền kinh tế sản xuất và dịch vụ tính theo mức GDP là bao nhiêu, lý tưởng là 60% đến 80%, (h) mức tăng trường của thu nhập người dân, (i) tỉ lệ người dân tốt nghiệp lớp 12 là bao nhiêu so với tổ số dân ở tuổi thành niên (trên 18 tuổi). Đó là các giá trị quan trọng cho các thông số để đánh giá nền kinh tế phát triển của thị trường Việt Nam.

Các nhà đầu tư Việt Nam thường chọn các dự án trong nước vì tin rằng lợi nhuận họ dể thu được hơn là đầu tư ở thị trường nước ngoài. Ngoài ra, các nhà đầu tư khai thác mọi cơ hội để kiếm lời nhuận thông qua việc sang nhượng đất đai, địa ốc, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên cho doanh nghiệp khác hay nhà đầu tư nước ngoài. Khi giá cả thay đổi do nhiều lý do, các nhà đầu tư Việt Nam sẻ tìm mọi cách mua bán các dự án đầu tư càng nhanh bao nhiêu, hay bấy nhiêu, vì họ chỉ cần có lợi nhuận là thực hiện các hợp đồng sang nhượng như vậy. Trong lúc đó có những nhóm tài chính quốc tế sẻ chuyển tiền ngoại tệ vào thị trường Việt Nam để khai thác cơ hội kiếm lời khi có sự trên lệch về giá cả khi thị trường biến động theo các cơn sốt giá. Nhưng phần lớn các cơn sốt giá do các nhóm đầu tư có số vốn vài trăm triệu USD mới có thể khống chế các giá cả biến động cả ở thị trường địa ốc, cổ phiểu, xí nghiệp sang nhượng, mua bán nguyên vật liệu và các dự án mua giấy phép kinh doanh.

Cán bộ quản lý của chính phủ và các quĩ đầu tư sẻ làm gì khi muốn thực hiện các mục tiêu sau có lợi cho nền kinh tế về lâu dài: (a) gia tăng GDP của Việt Nam, (b) gia tăng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, (c) gia tăng khả năng thanh toán của Việt Nam, (d) gia tăng khả năng sản xuất các mặt hàng chủ lực cạnh tranh với các quốc gia khác trong khu vực, (e) gia tăng lợi nhuận từ các thị trường phát triển trong khu vực và các thị trường công nghiệp phát triển. Muốn có được khả năng đánh giá của các mục tiêu trên, chính phủ phải có một đội ngủ chuyên viên hoạt động trên toàn thế giới, đặc biệc là có văn phòng đại diện tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Nga, Canada, Úc, Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải, Đài Loan, Ấn Độ, Anh, Pháp, Đức, Trung Đông, Bra-xin để thu hút nguồn vốn đầu tư và bỏ vốn đầu tư vào các quốc gia này. Lợi nhuận của các nhà đầu tư Việt Nam sẻ vượt ra các con số về lợi nhuận, vì nó còn mang giá trị ngoại giao và mở rộng thị trường ra toàn thế giới. Đó là lý do mà các quĩ đầu tư nên hình thành tại Việt Nam, vì ban quản lý quĩ đầu tư sẻ chọn các phương thức đầu tư khác nhau tại nhiều thị trường để hạn chế rủi ro thu lổ, và gia tăng khả năng lợi nhuận trong thời gian dài. Có nhiều giá trị lợi nhuận mà nhà đầu tư Việt Nam cần chú ý khi đầu tư ra nước ngoài: (a) mức thuế lợi tức giữa Việt Nam và thị trường đầu tư nước ngoài, (b) lệ phí khi mua bán cổ phiếu, trái phiếu và công phiếu của nước ngoài, (c) mức doanh thu khi có sự thay đổi của khả năng sản xuất tại thị trường nước ngoài.

Ngoài ngân hàng trung ương cho các hoạt động phân phối lượng tiền trong nước và tỉ giá lải xuất cho vốn vay và tiền tiết kiệm và các hoạt động giám sát tài chính, thị trường còn cần các loại ngân hàng như – ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Ngân hàng thương mại bao gồm hai loại ngân hàng - lẻ và sỉ. Ngân hàng thương mại lẻ sẻ phục vụ khách hàng là cá nhân, người tiêu dùng trong các thanh toán và gửi tiền. Còn ngân hàng thương mại sỉ sẻ phục vụ khách hàng là các doanh nghiệp, tập đoàn lớn và các loại cho vay có giá trị lớn. Tiếp theo là ngân hàng đầu tư nhận tiền đầu tư từ cá nhân và doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp vay vốn, mua bán trao đổi trái phiếu cho doanh nghiệp, quản lý đầu tư cho khách hàng, thu xếp các loại vốn vay, thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ, và các hoạt động khác. Các loại ngân hàng này tạo ra kết cấu xương sống của việc phân phối tiền tệ cho mọi hoạt động của một nền kinh tế. Mà hầu như cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, bệnh viện, trường học đều phải liên hệ đến các hoạt động thanh toán của ngân hàng. Không có ngân hàng thì nền kinh tế xem như bị tê liệt. Mọi người sẻ lệ thuộc nhiều vào tiền mặt hay một phương thức trung gian để mua bán là vàng, bạc hay quí kim. Tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế có thể nói do sự quản lý hiệu quả và khả năng cung cấp các loại dịch vụ tài chính phụ hợp cho từng đối tượng khách hàng giúp cho mọi hành vi hoạt động trong xã hội có thể thực hiện dể dàng. Nhất là các hoạt động này mang giá trị kinh tế và giá trị trao đổi trong mối quan hệ lâu dài cung cầu trong thị trường.

Nghiệp vụ mà các loại ngân hàng vừa nêu luôn có những giá trị cụ thể và tầm hoạt động hiệu quả khác nhau. Nhưng các trường đại học có thể liên hệ với các ngân hàng cùng thực hiện các chương trình thực tập và trao đổi giúp cho sinh viên tốt nghiệp dể dàng hòa nhập vào môi trường làm việc với hiệu quả nhất trong thời gian ngắn nhất. Các thành phố, tỉnh tại Việt Nam có thể phát triển hiệu quả hệ thống ngân hàng có vốn của nhà nước hay vốn tư nhân nhằm gia tăng lượng tiền tiết kiệm từ người dân củng như các doanh nghiệp trong nước. Số vốn này sẻ được phân ra nhiều loại vốn vay ưu tiên cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Việt Nam cần nối kết với các nền kinh tế lớn mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Úc, Ấn Độ, Pháp, Anh, Đức, Trung Đông cho việc gia tăng khả năng tiếp thị các loại tiềm năng tại thị trường Việt Nam. Khi nguồn vốn của các ngân hành Việt Nam tham gia vào các dự án nước ngoài sẻ giúp cho nền kinh tế xuất khẩu tiêu dùng và du lịch của Việt Nam phát triển ở tốc độ cao hơn và qui mô toàn cầu hơn.


Thị Trường Cổ Phiếu và Khả Năng Huy Động Vốn

 “Vốn vay hay sở hữu một phần giá trị của doanh nghiệp là hính thức sở hữu mới trong thị trường có mức lưu thông cao về vốn và các tác nhân thu chi tài chính khác nhau. Sự ràng buộc vể luật pháp sẻ giúp người sở hữu chuyển đổi quyền sở hữu dể dàng cho việc thay đổi giá trị vốn xử dụng.”
 *****
 Xí nghiệp cổ đông hiện đại đầu tiên được đề xuất bởi Sebastian Cabot, nhà thám hiểm người Anh, để thiết lập xí nghiệp khai thát con đường mậu dịch đông bắc đến Trung Quốc và Phương Đông. Vào năm 1553, 250 nhà buôn đả đóng góp cho mổi người là 25 bảng Anh cho việc trang bị 3 con tàu cho cuộc hành trình mậu dịch bằng đường biển. Họ chia đều chi phí và lợi nhuận. Sau đó một công ty mậu dịch nổi tiếng ra đời mang tên công ty Đông Ấn vào năm 1600 và chiếm giử hầu như các hoạt động mậu dịch trên thế giới đến năm 1850. Các lợi ích thu từ hoạt động mậu dịch quốc này được chia lại cho các cổ đông. Từ đó dần dần có sự hình thành một loại thị trường mới gọi là thị trường cổ phiếu ra đời vào năm 1611 ở Hòa Lan, ở Áo vào năm 1771. Chủ yếu gây quỉ tài chính cho chính phủ phục vụ chiến tranh. Thoạt đầu các nhà môi giới và giao dịch gặp nhau tại các tiệm café ở Luân Đôn cho việc mua bán cổ phiếu, nhưng sau đó họ chính thức thành lập thị trường chứng khoán đầu tiên vào năm 1773. Thị trường chứng khoán ở Nửu Ước vào năm 1871. Vào năm 1850 toàn nước Mỹ có khoảng 250 nơi giao dich chứng khoán. Nhưng đến năm 1900 thì thị trường chứng khoán được tập trung về thành phố Nữu Ước.

Vai trò của thị trường chứng khoán giúp điều phối việc hoạt động giao dịch cổ phiếu của các công ty, doanh nghiệp. Cơ cấu thông tin giá cổ phiếu, giám sát cho việc giao dịch, cho phép các thành viên tham gia vào thị trường, giải quyết các mối giao dịch và phát hành giá và dử liệu của trái phiếu. Ngoài ra thị trường chứng khoán có thể do một bộ phận được sự hổ trợ của chính phủ giám sát. Thị Trường vốn được chia ra làm hai loại thị trường : (1) thị trường tài chính cho vay và đầu tư, (2) thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Tùy theo trường hợp của doanh nghiệp hay chính phủ (thành phố, tỉnh, và trung ương) có thể gây quỉ, ngân sách, vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu, công trái, giấy nợ bảo chứng. Chỉ có chính phủ bù ngân sách thiếu hụt bằng cách phát hành công trái với mức lợi suất tiền gửi và hạn kỳ thanh toán cho việc tạo ra ngân sách cho các chương trình phúc lợi xã hội, xây dựng công trình quốc gia và nâng cấp an ninh quốc phòng.

Doang nghiệp chỉ phát hành cổ phiếu và trái phiếu với giá trị hay các quyền lợi cụ thể cho từng loại khác nhau. Người đầu tư muốn mua cổ phiếu có giá trị tăng dần, nhưng thực tế thì kết quả thay đổi tùy vào kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp phát hành cổ phiếu và thị trường biến động. Những thông tin về kết quả kinh doanh, những thông tin về kinh tế của thị trường và các chính sách chính phủ liên quan đến ngành kinh doanh của doanh nghiệp, chính sách thuế, giá nguyên liệu, vật liệu, tỉ giá đồng tiền nội địa  với các ngoại tệ mạnh. Các thông số về thị trường và chính sách nếu thuận lợi cho doanh nghiệp thì giá trị của cổ phiếu của doanh nghiệp đó tăng lên, ngược lai sẻ làm giảm giá trị của cổ phiếu.

Thông tin rất quan trọng cho các nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu. Ai nắm thông tin trước sẻ quyết định mua hay bán cổ phiếu của một doanh nghiệp. Đó củng là tệ nạn của việc mua bán cổ phiếu nội bộ có lợi cho các cá nhân biết giá giao dịch trước khi cổ phiếu được phát hành trên thị trường chứng khoán. Chơi cổ phiếu đòi hỏi cả hai yếu tố nhạy bén và dùng bản bản năng cảm nhận. Ngoài ra các yếu tố phân tích theo các biểu số của thị trường và biểu đồ giá trị thay đổi trong quá khứ củng được áp dụng.

Thị trường cổ phiếu ngoài các lợi ích cho doanh nghiệp huy động vốn duy trì hoạt động sản xuất và kinh doanh thuận lợi, nó còn là một môi trường đòi hỏi sự tính toán, phân tích, và nhạy bén các thông số kinh tế, kinh doanh, chính sách của chính phủ. Thị trường tiêu thụ thế giới giúp doanh nghiệp có thể liên kết với doanh nghiệp khác trong các hình thức đầu tư tài chính, công nghệ và mở rộng thị trường. Thị trường chứng khoán còn có các biện pháp quản lý nhằm đảm bảo sự tính nhiệm của các loại cổ phiếu phát hành trên thị trường với từng giá trị tín dụng theo thang điểm A, B, C, D để giúp nhà đầu tư hay người mua cổ phiếu biết rủi rỏ và khả năng thu lợi nhuận vào từng loại cổ phiếu.

Do nhu cầu muốn mở rộng thị trường tạo ra sự ảnh hưởng của thị phần mà các công ty đa quốc gia luôn tìm cách phát hành cổ phiếu trên nhiều thị trường tài chính thế giới. Nó giúp cho nhà đầu tư mang các quốc tịch khác nhau mua bán, trao đổi cổ phiếu của công ty. Ngoài ra nó còn khai thác nguồn vốn ở các thị trường quốc tế, không bị ràng buộc bởi sự hạn chế vốn của thị trường nội địa. Ví dụ một công ty Trung Quốc có thể niêm yết bán cổ phiếu và giao dịch trên thị trường Hoa Kỳ. Do đó doanh nghiệp Trung Quốc này dể dàng huy động vốn trực tiếp từ các nhà đầu tư Hoa Kỳ và quốc tế. Ngược lại, một doanh nghiệp Việt Nam muốn có nguồn đầu tư từ Nhật Bản hay Hồng Kông, thì sẻ niêm yết cổ phiếu của mình tại thị trường Hồng Kông và Tokyo. Nhưng mỗi thị trường giao dịch cổ phiếu có các điều lệ tham gia và tiền lệ phí khác nhau. Do đó giữa các thị trường vẩn mang giá trị cạnh tranh cao thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường của mình. Thị trường chứng khoán của Việt Nam củng sẻ chuyển dần thành một thị trường có tầm cở trong khu vực như Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên.

Giá trị cổ phiếu của một công ty càng chiếm tỉ lớn theo % của thị trường cổ phiếu nào đó, thì sự thay đổi giá của loại cổ phiểu này sẻ ảnh hưởng lớn đến chỉ số điểm hay giá trị của thị trường giao dịch cổ phiếu đó. Ví dụ, thị trường Nikkei Dow 225 ở Tokyo, là chỉ số giá trị của cổ phiếu của 225 công ty phát hàng giao dịch trên thị trường Tokyo, nó là chỉ số giá cả bình quân của 225 loại cổ phiếu. Vào năm 1984, Nikkei 300 là loại chỉ số dựa trên giá trị thị trường của 300 loại cổ phiếu. Có nghĩa tính chỉ số trung bình của giá trị toàn bộ cổ phiếu của 300 công ty để nhận định khả năng kinh tế của một thị trường giao dịch cổ phiếu. Thị trườngTokyocòn có loại chỉ số TOPIX là chỉ số của các loại cổ phiếu giao dịch trong phiên giao dịch đầu tiên tại thị trường Tokyo (TSE). Nếu các công ty đứng đầu bảng niêm yết giá của Nikkei hoạt động có lời và hiệu quả, sẻ gia tăng điểm của Nikkei theo nghĩa giá trị của thị trường cổ phiếu Nhật Bản sẻ có sức mua cao cho nhà đầu tư. Tốc độ tính các chỉ sổ sẻ tùy theo mỗi thị trường. Ở thị trường New York, các chỉ số sẻ được tính cho mỗi 15 giây từ 8.30 sáng đến 4.30 chiều. Nó bắt đầu ở tỉ số 1000, và phản ánh khoảng 75% toàn bộ giá trị cổ phiếu của thị trường.

Tùy theo cơ cấu mà chính phủ một quốc gia muốn việc cổ phần hoá các ngành kinh tế hay tư nhân hóa hệ thống kinh tế thông qua việc thực hiện giá trị sở hữu của các cổ phiếu nằm trong tay tư nhân hay nhóm đầu tư. Ở Hoa Kỳ, tư nhân chiếm số cổ phiếu khoảng 50% thị trường chứng khoán, ở Đức là 13%, Pháp là 31%, và Anh là 25% trong năm 2002. Ngoài ra giá trị mà thị trường chứng khoán so với tổng sản phầm quốc gia củng nói lên khả năng huy động vốn của mỗi loại thị trường. London có giá trị là 160% GDP, New York là 120%, Tokyo 55%, Paris 50% và Frankfurt là 39% trong năm 2002. Bây giờ giá trị này đả thay đổi do nhiều lý do, như chích sách của chính phủ, số lượng công ty phát hành cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường chứng khoán, củng như số lượng công ty trong và ngoài nước niêm yết phát hành cổ phiếu.

Quĩ hưu chí là nguồn quĩ cần thiết cho việc mổi quốc gia, thành phố, công ty, cộng đồng địa phương xử dụng vào việc đầu tư hiệu quả trong nhiều loại đầu tư khác nhau để tạo ra lợi nhuận chi trả cho các nhu cầu của thành viên khi họ nghĩ hưu. Trong năm 2000, Anh Quốc có quĩ hưu trí khoảng 1128 tỉ USD chiếm 81% GDP, Hòa Lan 417 tỉ USD chiếm 110% GDP, Thụy Sĩ 321 tỉ USD chiếm 128% GDP, Đức 294 tỉ USD chiếm 15% GDP. Mà các quĩ hưu trí thường được đầu tư vào thị trường chứng khóang, địa ốc, thị trường ngoại tệ và các loại thị trường đầu tư khác.

Ngoài ra, sự đầu tư vào thị trường chứng khoán ở các quốc gia củng khác nhau do nhiều lý do, Hoa Kỳ có mức sở hữu cổ phiếu nội địa là 52%, cổ phiếu nước ngoài là 10%, trái phiếu trong nước là 29%, trái phiếu nước ngoài là 1%, tiền mặt là 5%, và bất động sản là 3%. So với Nhật Bản, đầu tư vào cổ phiếu trong nước là 38%, cổ phiếu nước ngoài là 19%, trái phiếu nội địa là 31%, trái phiếu nước ngoài là 8%, tiền mặt là 3%, bất động sản là 1%. Ngoài quĩ hưu trí, còn có mutual fund cho các nhà đầu tư lớn hay nhỏ. Một công ty thành lập mutual fund sẻ chia vốn ra nhiều hạn mục đầu tư, sau đó định giá cho một cổ phiếu là 100 USD hay một giá trị nhất định nào đó và bán ra trên thị trường. Lợi nhuận từ dự án đầu tư tạo ra sẻ chia đều cho tổng số cổ phiếu phát hành. Do đó người sở hữu cổ phiếu sẻ nhận tiền lời theo số lượng cổ phiếu mà mình nắm giữ. Ví dụ công ty mutual fund A bán ra thị trường số lượng cổ phiếu của mình là 1 triệu cổ phiếu có giá là 5 USD một cổ phiếu, thì nhà đầu tư có thể giao dịch theo các giá trị thỏa thuận tuỳ theo giá trị mà công ty mutual fund quản lý hiệu quả cho vốn đầu tư của mình. Ví dụng số vốn 5 triệu USD mà công ty mua các loại cổ phiếu của 20 công ty khác nhau, và giá trị của 20 công ty này tăng lên tạo ra giá trị hiện thời của 1 triệu cổ phiếu của công ty mutual fund là 10 triệu USD. Như vậy một nhà đầu tư sở hữu 1000 cổ phiếu trước đây chỉ trả có 5000 USD, bây giờ sở hữu một giá trị là 10000 USD. Do đó có thể bán ra cho nhà quản lý của công ty mutual fund A với giá cả thảo thuận từ 8000 USD đến hơn 10000 USD. Nếu nhu cầu mua loại cổ phiếu của công ty mutual fund A đang gia tăng, thì giá trao đổi cổ phiếu của công ty này củng gia tăng. Ngoài ra, các quĩ hưu trí có hai cách đầu tư – chủ động và thụ động.

Đầu tư chủ động sẻ có xử dụng hệ thống computer cho việc chuyển đổi việc mua bán cổ phiếu theo sự thay đổi giá cả của thị trường, do đó rủi rỏ sẻ giảm, hơn là sự đầu tư thụ động chỉ dựa vào việc mua các loại cổ phiếu của một nhóm cổ phiếu nhất định nào đó như S&P 100. Do đó kết quả lợi nhuận sẻ hoàn toàn lệ thuộc vào S&P 100 (là cổ phiếu của 100 công ty phát hành tại thị trường New York). Các công ty tài chính và ngân hàng có bộ phận phụ trách quản lý quĩ hưu trí, mutual fund và các loại quĩ khác. Như ngân hàngNew Yorkvào năm 1998 quản lý các loại quĩ này có giá trị khoảng 5610 tỉ USD.

Do cả hai phía khách quan và chủ quan, giá trị của cổ phiếu sẻ dể dàng bị ảnh hưởng do nhiều tác nhân gây ra tạo ra những cơn sốt vế giá trị gia tăng hay giảm đi chỉ trong vài phút hay trong một thời gian ngắn. Chẳn hạn tin tức chiến sự xả ra ở khu vực có các hảng xưởng của công ty đó. Hay các vụ lạm dụng công quỉ hay giao dịch cổ phiếu nội bộ của công ty đó củng dẩn đến các biến động về giá cổ phiếu đang giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán. Một mạng lưới thông tin tốt sẻ giúp nhà đầu tư phân tích các trị số để quyết định mua hay bán cổ phiếu của một doanh nghiệp. Cùng một thì trường, nhưng giá cổ phiếu của mổi doanh nghiệp thay đổi bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Để đầu tư vào cổ phiếu, các nhà đầu tư sẻ dùng nhiều công thức đầu tư khác nhau để chia rủi rỏ qua việc mua nhiều loại cổ phiếu trên thị trường. Cổ phiếu của các công ty phần mềm, công nghệ thông tin, công nghiệp xuất khẩu, ngân hàng hay công ty tài chính dịch vụ đều mang những yếu tố lợi nhuận và rủi ro đi kèm với nhau. Tuỳ theo mỗi công ty phát hành loại cổ phiếu mà có chia lợi tức cho cổ đông hay không. Với những khả năng thay đổi giá trong quá khứ và dự kiến cho tương lai giúp các nhà đầu tư chọn những sự kết hợp theo tỳ lệ khác nhau trong việc mua cổ phiếu của công ty nào để hạn chế rủi ro giá cổ phiếu bị rớt.

Nhà đâu tư thường hạn chế rủi ro bằng việc chia vốn đầu tư ra nhiểu công thức đầu tư khác nhau. Sau đây là ví dụ minh họa cho ba công thức đầu tư (1) 80% mua cổ phiếu của các công ty có sự biến đổi giá cả trong khoảnh hẹp, cộng 20% mua cổ phiếu của công ty có giá cổ phiếu thay đổi trong khoản rộng, (2) 40% cho cổ phiếu có giá thay đổi trong khoản hẹp, 30% cho giá ở mức trung bình, 30% cho giá thay đổi lớn, (3) 40% mua cổ phiếu có giá thay đổi nhỏ, 40% có giá thay đổi lớn, 20% giá trung bình. Hiểu nghĩa giá trị của cổ phiếu còn dựa trên thang điểm tín dụng của doanh nghiệp đó được xếp theo loại A+++, A++, A+, A, rồi giảm dần theo B, C, và D. Những công ty có thị phần cao và sự phát triển ổn định luôn có giá cố phiếu ổn định. Ngoài ra các công ty có sự gia tăng giá trị do ảnh hưởng trực tiếp của giá cả nguyên liệu, hay nhu cầu nào đó, hay do các chính sách của chính phủ củng làm biến động giá cả. Nhà đầu tư sẻ chọn rủi ro theo ba công thức trên cho việc quyết định quản lý nguồn vốn đầu tư trong việc kinh doanh và đầu tư cổ phiếu. Như vậy trong thực tế không có gì là chắc chắn 100% sẻ xảy ra như ý muốn ban đầu trong việc chọn rủi ro cho đầu tư. Điều đó lý giải cho khái niệm lợi nhuận cao đi kèm rủi ro lớn, hay ngược lại.

Sự ảnh hường của giá trị trên thị trường cổ phiếu thường do các yếu tố: (1) chính sách thay đổi của chính phủ, (2) lượng vốn cho ngành kinh doanh đó, (3) thị trường tiêu thụ của thị trường kinh doanh đó bao gồm số lượng doanh nghiệp và triển vọng tiêu thụ của sản phẩm hay dịch vụ cho thị trường trong tương lai. Các nguyên vật liệu luôn ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường thế giới như công ty khai thác dầu hay sản xuất xe hơi đều chịu ảnh hưởng của mức tiêu thụ và giá dầu thô trên thế giới.

Bull Market hay gọi là thị trường đang lên giá trong đó các loại cổ phiểu và tín phiếu trong các ngành kinh doanh mạnh đang thu hút nhà đầu tư. Ngược lại là Bear Market là thị trường đang tuột giá của các loại cỗ phiếu và tín phiếu tạo ra sự mất lòng tin ở nhà đầu tư. Do vậy chu kỳ của hai loại thị trường là những dự đoán quan trọng cho việc đầu tư dài hạn hay ngắn hạn trước khi giới hạn tăng hay giảm của mổi chu kỳ đạt được và củng là thời điểm của việc mua hay bán có lợi cho nhà đầu tư. Khi người đầu tư thấu hiểu các nguyên tắc vận hành của thị trường cổ phiếu lên xuống do những tác động chủ quan và khách quan sẻ hạn chế sự thất bại cho các dự án đầu tư. Mổi xi nghiệp phát hành cổ phiếu luôn thực hiện các chính sách kinh doanh có lợi cho việc tăng giá trị cổ phiếu để thu hút nguồn đầu tư lẩn giá trị tin tường cho việc mở rộng kinh doanh qua các khoảng vay ngân hàng. Các nhà quản lý Hoa Kỳ thường chú trọng việc tạo ra giá cổ phiếu gia tăng vì họ được thưởng cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt từ hội đồng quản trị của công ty hay cổ đông. Do đó họ sẻ luôn chú trọng vào lợi nhuận ngắn hạn hơn là lợi nhuận dài hạn. Khác với các nhà quản lý người Nhật Bản, họ chú trọng vào lợi nhuận dài hạn hơn là ngắn hạn vì họ không có chính sách thưởng tiền, trái phiếu và các dịch vụ khác cho chủ tịch hội đồng quản trị như các công ty của Hoa Kỳ.



Huy Động Vốn Linh Động

“Sự phát triển kinh tế thông qua vốn, kỷ thuật, lao động và thị trường. Nếu nguồn vốn không lưu động có nghĩa kinh tế sẻ không hoạt động theo ý nghỉa thị trường là mối qua hệ giữa cung và cầu.”

*****
Kinh tế thị trường và tự do mậu dịch tạo ra cơ hội và rủi ro cho nhà đầu tư và doanh nghiệp. Vì lợi nhuận các doanh nghiệp và nhà đầu tư sẻ tìm mọi biện pháp cho việc huy động vốn để đảm bảo hoạt động kinh doanh và sản xuất cho sự lớn mạnh về năng xuất, mức tiêu thụ, mở rộng thị trường, nâng cấp thiết bị kỷ thuật, và cải thiện môi trường làm việc cho hiệu xuất sản xuất và dịch vụ. Doanh nghiệp luôn dự đoán khả năng mở rộng thị trường hay các nhu cầu cần thiết cần cần nguốn vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đòi hỏi có các phương thức huy động vốn linh động.

Để đảm bảo quyền lợi cho các bên trong việc cho vay và được cho vay, các giấy tờ pháp luật luôn được khuyến khích xử dụng để xát định rỏ quyền lợi và trách nhiệm rỏ ràng của từng đối tác. Sự năng động của doanh nghiệp trong việc tìm giải pháp cho việc huy động vốn là điều cần thiết, nhưng điểm mấu chốt ở chổ là giải pháp nào có mức rủi ro thấp nhất và lợi nhuận cao nhất. Sư mượn vốn qua bạn bè, gia đình củng là những phương thức vay vốn, nhưng rủi ro của doanh nghiệp sẻ đổ lên người sáng lập hay thành lập doanh nghiệp bời vì doanh nghiệp chưa được cổ phần hóa. Ngoài ra tìm các hổ trợ tài chính của các doanh nghiệp khác,


Trao Đổi Cổ Phiếu Trong Kinh Doanh
“Với những cơ hội có thể mang lại lợi nhuận lớn hơn tạo cho người sở hữu có các tư tuởng tạo ra lợi nhuận của các giá trị trao đổi.”
*****

Do những hạn chế về vốn và ảnh hưởng của việc tham gia điều hành của doanh nghiệp, các doanh nghiệp có thể dùng lượng cổ phiếu nắm giử để khống chế hay ảnh hưởng các doanh nghiệp khác trong cách thức kinh doanh và vận hành. Các doanh nghiệp nếu có thể dùng ảnh hưởng của hội đồng cổ đông cho các chính sách kinh doanh, sẻ dùng biện pháp mượn cổ phiếu tạm thời với những thỏa thuận với nhau. Nhưng tùy theo luật pháp của mỗi thị trường mà có hạn chế phương thức này. Bên cạnh đó các qui tắc sẻ được áp dụng cho sự trao đổi cổ phiếu trên thị trường.

Ngân hàng hay một tập đoàn tài chính có thể dùng tiền để điều chỉnh giá của cổ phiếu theo ý muốn của họ. Nếu người mua cổ phiếu không hiểu giá trị thật sự của công ty phát hành cổ phiếu thì sẻ khó biết được lý do tại sao lại mua cổ phiếu của công ty đó. Khi muốn mua cồ phiếu của công ty xây dựng, thì người mua cổ phiếu cần tham khảo các thông tin về các hoạt động kinh doanh của công ty đó trong các năm vừa qua, doanh thu, tổng số nợ trên tổng giá trị của tài sản, mức độ phát triển của thị trường xây dựng trong tương lai, khách hàng chính của công ty là cá nhân, tư nhân, doanh nghiệp hay là chính phủ. Tất cả các thông tin này sẻ giúp người mua cổ phiếu có quyết định khách quan và phân tích kỷ càng trước khi mua cổ phiếu. Bất cứ thông tin nào có lợi cho công ty đó, thì giá cổ phiếu sẻ tăng lên, ngược lại sẻ làm giá cổ phiếu tuột xuống.

Các công ty lớn có vốn mạnh, thị trường trong và ngoài nước, sẻ có những thay đổi về giá lệ thuộc vào cả thị trương trong và ngoài nước. Ngược lại các công ty phục vụ trong nước sẻ ảnh hưởng nhiều từ các yếu tố trong nước. Ở ViệtNamcó các doanh nghiệp có thể tạo ra những con số lợi nhuận tăng liên tục nếu họ biết cánh giữ số lượng đơn đặc hàng từ các thị trường nước ngoài: sản phẩm thủy sản, nông nghiệp, và gia công các vật dụng trong nhà. Dịch vụ y tế và các công ty phần mềm ứng ứng dụng cho khách hàng trong và ngoài nước đều có những nhu cầu tiêu thụ cao, do đó tùy theo mỗi doanh nghiệp có những phương cánh quản lý hiệu quả cùng với các chương trình quản cáo có thể tạo ra sự lớn mạnh trên thị trường. Lợi nhuận và thị phần thị trường của một doanh nghiệp củng tạo ra tác động tăng giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó. Công ty Apple có giá trị gia tăng lên hơn 300 tỉ USD trong tháng 1 năm 2011 bởi vì các sản phẩm của họ được tiêu thụ hầu như ở mọi thị trường tạo lòng tin cho nhà đầu tư và các cổ đông.


Kinh Doanh Cổ Phiếu
“Sự đầu tư cổ phiếu có giá trị may rủi cao theo ý nghỉa không dự đoán được các yếu tố may rủi. Nhưng đem lại lợi nhuận cao cho các yếu tố may rủi đoán trước được.”
*****

Rủi ro của cổ phiếu thường thể hiện qua sự thay đổi giá bán và giá mua. Người mua thường hy vọng giá cổ phiếu sẻ tăng lên rồi bán ra. Giá cổ phiếu do nhiều nguyên nhân tạo ra: chính sách và các khoảng kinh doanh, kế hoạch của doanh nghiệp, các chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến doanh nghiệp, doanh thu của doanh nghiệp, và các tin đồn về doanh nghiệp, thị trường tương lai của doanh nghiệp. Nếu các nhà đầu tư muốn kiếm lợi nhuận trong việc kinh doanh cổ phiếu, họ cần có những khái niệm căn bản về hoạt động kinh doanh hiệu quả của doanh nghiệp thông qua các chỉ số thống kê của từng doanh nghiệp. Chẳn hạn như tiền lời và doanh thu năm vừa rồi, kết qua thu chi của các quí trong 6 tháng vừa qua, tỉ lệ của tổng số nợ và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, các đối thủ cạnh tranh trong cùng một thị trường.

Những thay đổi nếu có thể xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình chính trị và chính sách của chính phủ là những vấn đề luôn được đề cập trước khi muốn mua cổ phiếu của công ty đó trên thị trường chứng khoán. Giá trị của cổ phiếu mang ba giá trị tượng trưng: (1) giá trị tin tưởng của tâm lý, (2) giá trị thực của khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp trên thị trường, (3) giá trị tương lai cho doanh nghiệp trong môi trường thay đổi trong tương lai. Nhà đầu tư hay người kinh doanh cổ phiếu sẻ luôn mong muốn giá cổ phiếu của mình lên giá để bán ra kiếm lời. Trong khi đó người mua kế tiếp lại hy vọng cổ phiếu lên giá để tiếp tục mua thêm. Có nghĩa ai củng hy vọng giá cổ phiếu thay đổi có lợi cho mình. Những sự khác biệt giửa thị trường địa ốc và cổ phiếu là thị trường địa ốc là sản phẩm xử dụng lâu dài, giá trị xử dụng cao tính ra tiền mặt rất lớn, và hạn chế lưu chuyển trong nội bộ một thị trường nhất định. Trong khi đó các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ có giá trị trao đổi thấp hơn như sự đa dạng mẫu mã, lẩn chu kỳ sống ngắn hơn, và khả năng lưu thông giữa nhiều thị trường khác nhau. Do đó giá cổ phiếu thường giao động do cả hai yếu tố chủ quan và khách quan. Nhưng giá trị còn chịu nhiều ảnh hưởng của phương thức quản lý và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Cổ phiếu có chia lợi nhuận hàng năm thường có giá trị trao đổi cao. Nhà đầu tư có những khoảng lời mà không cần bán đi những cổ phiếu của mình. Nhưng tùy theo doanh nghiệp mà chọn phương thức tăng lượng cổ phiếu và thưởng cho cổ động thay vì chi trả tiền mặt qua lời nhuận hàng năm và dùng tiền đó để mở rộng kinh doanh và các hạng mục đầu tư khác.

Nhằm hạn chế các tiêu cực hay tội phạm thương nghiệp, chính phủ có thể tạo ra 2 loại thị trường cổ phiếu. Thị trường thứ nhất sẻ cho phép các doanh nghiệp hoạt động ổn định trong 5 năm có lời trước khi được niêm yết lên bảng giao dịch chứng khoán. Thị trưởng thứ hai sẻ cho phép các doanh nghiệp hoạt động 3 năm có lời trước khi được phép niêm yết lên bảng giao dịch chứng khoán. Công ty hoạt động hiệu quả trên thị trường 3 năm sẻ có thể chuyển dịch lên thị trường 5 năm cho giá trị ổn định và các tiêu chuẩn gắt gao hơn. Ở Nhật tiêu chuẩn xin gia nhập hay phát hành cổ phiếu có những yêu cầu rất cao, do đó số lượng công ty nước ngoài phát hành cổ phiếu trên thị trườngTokyorất ít, cộng thêm lệ phí tham gia cao.

Nhà đầu tư dể dàng lựa chọn công ty đầu tư trong hai loại thị trường dựa trên mức độ rủi ro và khả năng quản lý trong kinh doanh. Với sự khác biệt giữa hai loại thị trường cổ phiếu, các doanh nghiệp ViệtNamsẻ tự lượng sức mình cho việc gia nhập thị trường khi họ hội đủ các điều kiện yêu cầu. Ngoài ra, ngân hàng và quỉ đầu tư cần tạo ra niềm tin cho người tiêu dùng hay khách hàng trong việc ủy thác và đầu tư vốn. Chính phủ có thể đảm bảo các tài khoản của người tiêu dùng để tạo khả năng thu hút vốn trong thị trường cho nhu vầu vốn vay trong các ngành kinh tế mủi nhọn cho thị trường xuất khẩu.

Kinh doanh cổ phiếu, tư vấn giao dịch cổ phiếu, quản lý quỉ đầu tư đều gắn liền đến yếu tố con người khi lượng vốn lớn có thể bị lạm dụng hay xử dụng sai trái trong các giao dịch phi pháp không đúng với chức năng và luật pháp cho phép. Thị trướng cổ phiếu sẻ tạo ra môi trương giúp các doanh nghiệp huy động vốn, còn ngươì tiêu dùng có thể linh hoạt tham gia vào việc đầu tư gián tiếp cho các công ty mình tin tưởng bằng cách mua cổ phiếu phát hành của họ. Trường học, bệnh viện, tạp chí, hay đài truyền hình đều có thể phát hành cổ phiếu khi họ thỏa mản các yêu cầu tài chính, quản lý, và kế toán. Nhưng các ngành công nghiệp và thông tin quan trọng luôn được sự quan tâm của chính phủ trong việc nắm giữa phần lớn cổ phần của công ty hay doanh nghiệp, chỉ để một lượng nhỏ giao dịch trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra sự đầu tư chéo, có nghĩa các doanh nghiệp mua cổ phiếu lẫn nhau để hạn chế việc doanh nghiệp đối thủ độc quyền hay thôn tín doanh nghiệp của mình. Tùy theo sự phân tích và nhận định tình hình kinh doanh trong tương lai mà nhà đầu tư chọn lựa mua cổ phiếu như thế nào có lợi vốn đầu tư cho  họ. Nhất là khả năng mua cổ phiếu theo nhóm của các ngành công nghiệp và dịch vụ có mức thu nhập gia tăng theo sự phát triển của nền kinh tế của thị trường đó.



Phát Hành và Giao Dịch Cổ Phiếu trong Doanh Nghiệp

“Biết tận dụng giá trị sở hữu theo ý nghĩa tích cực giúp doanh nghiệp phát triển cả số lượng và chất lượng. Cổ phiếu có thể giúp doanh nghiệp phát triển trên thị trường và nâng cao tinh thần làm việc cho nhân viên của doanh nghiệp.”
*****

Hoạt động kinh doanh cần vốn để duy trì các khâu sản xuất, dịch vụ, kinh doanh hiệu quả. Ngoài ra, doanh nghiệp sẻ có những kế hoạch xử dụng vốn cho nên họ cần tạo ra các phương thức huy động vốn hiệu quả. Phát hành cổ phiếu và các loại bảo chứng là sự vay vốn có sự bảo đảm pháp lý sở hửu cho người cho vay hay sở hữu các loại giấy sỡ hữu tài chính  này. Tiền mặt có giá trị xử dụng linh hoạt nhưng lại không an toàn cho người sở hửu vì người sở hữu có nhiều rủi ro trong việc cất giữ và vận chuyển. Khi tín nhiệm của ngân hàng, các công ty tài chính được nâng cao và có sự bảo đảm của chính phủ hay ngân hàng trung ương, thì người tiêu dùng và các doanh nghiệp sẻ tin tưởng cho việc ủy thác tiền gửi, tiết kiệm ,và mở quĩ đầu tư. Bên cạnh việc tạo ra uy tín, tín dụng của các ngân hàng, doanh nghiệp tài chính, chính phủ củng có những biện pháp pháp lý, xử phạt, và ngăn ngừa các hành vi có thể lạm dụng vốn của người gửi cho mục đích kiếm lời cá nhân. Các quốc gia kinh tế và kỷ nghệ phát triển đều dựa vào chử tín và nguyên tắc để phát triển cho việc khai thác vốn của tư nhân. Nếu số lượng tiền mặt trong tay tư nhân và người tiêu dùng được ký thác hay gửi tiết kiệm, mở quĩ đầu tư tại các ngân hàng, công ty tài chính thì nền kinh tế quốc dân sẻ phát triển nhanh hơn.

Khi doanh nghiệp muốn phát triển mở rộng trên thị trường là điều cần tham gia vào thị trường cổ phiếu để tạo ra những nguồn vay vốn đa dạng hơn khi quá trình phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa, lẩn quốc tế. Thông qua thị trường cổ phiếu, doanh nghiệp có thể mở rộng qui mô sản xuất và kinh doanh bằng việc phát hành thêm cổ phiếu hay trái phiếu có bảo chứng. Sự thanh toán, kế toán và các báo cáo về tài chính cung cấp thông tin chính xát và xác thực giúp cho các nhà đầu tư tham khảo trước khi quyết định mua bán cổ phiếu. Doanh nghiệp muốn tạo niềm tin cho nhà đầu tư hay cổ đông sẻ luôn có các buổi họp định kỳ để thông báo các kết quả kinh doanh, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp. Nhờ các kết quả này, mà nhà đầu tư có thể quyết định ủng hộ cho các kế hoạch mà ban điều hành của doanh nghiệp muốn thực hiện. Đại hội cổ đông là một trong các hình thức công khai giúp nhà đầu tư hiểu cách thức hoạt động của doanh nghiệp hơn.

Tùy theo các qui định của luật giao dịch chứng khoán và điều kiện cho việc xin giấy phép tham gia thị trường chứng khoán của Việt Nam trong mỗi sàn giao dịch chứng khoán, mà doanh nghiệp chuẩn bị các yếu tố cần thiết để được xét duyệt. Sự quảng cáo và các thông tin cung cấp phổ biến trên các hệ thống thông tin đại chúng rất cần thiết cho việc thiết lập các mối quan hệ tin tưởng giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư trên các sàn giao dịch. Việc giúp doanh nghiệp xin đưọc giấy phép phát hành cổ phiếu sẻ giúp doanh nghiệp huy động vốn dể dàng hơn, củng như gắn liền việc hoạt đồng doanh nghiệp trong tương lai với các nhà đầu tư cổ phiếu. Quan trọng là tạo niềm tin ở các nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của doanh nghiệp. Dù đối diện các nguy cơ khó khăn, nhưng các cổ đông có thể vẩn giữ cổ phiếu không bán ra, nếu họ tin vào phương cách quản lý của hội đồng quản trị. Giá trị của cổ phiếu được quyết định do khả năng kinh doanh và tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng doanh nghiệp cần sử dụng vốn huy động từ phát hành cổ phiếu cho các hoạt động kinh doanh có lợi cho mình. Nếu một doanh nghiệp biết khai thác vốn từ phát hành cổ phiếu, và làm ăn có lời thì giá trị cổ phiếu sẻ gia tăng lên. Bên cạnh đó, giá trị thị trường của doanh nghiệp củng tăng theo. Khi một doanh nghiệp Việt Nam biết khai thác các giá trị tích cực của việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoáng, thì điều mà họ có thể thành cônng là mở rộng khả năng kinh doanh và thâm nhập vào thị trường nước ngoài là điều hiển nhiên. Một công ty may mặc hay gia công hàng điện tử tiêu dùng có thể có giá trị của tồng số cổ phiếu cho ngành phát hành đầu tiên là 20 triệu USD, nhưng khi hoạt động kinh doanh của họ được đưa lên quĩ đạo, thì họ có thê gia tăng vốn bằng việc phát hành cổ phiếu mới có giá trị lên 50 triệu USD hay 100 triệu USD. Điều này tùy thuộc vào khả năng vận hành mà hội đồng quản trị làm được. Các công ty có giá trị hàng trăm tỉ USD trên thế giới củng lớn dần thông qua hoạt động kinh doanh có lời và gia tăng quĩ đầu tư bằng phát hành cổ phiếu, trái phiếu.

Doanh nghiệp có nhiều cách cùng lúc đạt mục tiêu về doanh thu, và áp dụng các biện pháp kích thích giá của cổ phiếu tăng lên hay ổn định các chỉ số tài chính cần thiết. Mỗi chính sách đầu tư, kinh doanh, dự đoán thị trường phát triển ra sao, đều tạo ra những niềm tin cho sự phát triển và mở rộng thị trường tìm năng của doanh nghiệp tạo niềm tin cho nhà đầu tư mua vào các cổ phiếu của doanh nghiệp. Trong trường hợp khi nhà đầu tư dự đoán thị trường dầu lửa sẻ nguội lạnh dần, các sản phẩm xe hơi chạy điện của Nhật Bản tạo ra sẻ có nhu cầu tăng dần trong tương lai, do đó giá cổ phiếu của các công ty xe hơi của Nhật Bản sẻ ổn định hay tăng từ từ. Bên cạnh đó các công ty chế bình điện cho xe hơi và linh kiện cho xe hơi củng sẻ có giá trị ổn định. Còn về thị trường viễn thông, nếu một công ty của Việt Nam chiếm lĩnh thị trường điện thoại di động với tiềm năng lớn cho số lượng thuê bao của khách hàng, sẻ có giá trị gia tăng trong tương lai. Khi đầu tư vào thị trường cổ phiếu sẻ dựa trên nhiều yếu tố - độ bảo hòa của thị trường, tỉ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp trên doanh thu, tỉ lệ chiếm lĩnh thị trường, tiềm năng phát triển công nghệ mới. Công ty Apple của Hoa Kỳ có nguy cơ phá sản giữa thập niên 1990, nhưng do nhà quản lý giỏi Steve Jobs đả đảo ngược tình thế của công ty với giá trị thị trường vược qua con số 300 tỉ USD trong năm 2011 với các sản phẩm được ưa chuộn trên thế giới – iBook, iPod, iPad, iPhone. Giá trị của một công ty có thể thay đổi 180 độ với các bước nhảy về công nghệ và sản phẩm tiên phong trên thị trường do sáng kiến và mẩu mã và tính năng của sản phẩm mới tạo ra.

Nhà quản lý gỉỏi sẻ cân đối sự phát triển của doanh nghiệp trên cả hai mặt giá trị thật và giá trị ảo. Giá của cổ phiếu sẻ do nhiều biến số tạo thành, đó là những khả năng của mỗi doanh nghiệp có thể giữ vững giá cổ phiếu tăng giá trên sàn giao dịch. Các công ty kinh doanh có thể liên kết với nhau để giữ giá cổ phiếu ổn định có lợi cho việc kinh doanh và phát triển trên thị trường. Ngoài ra ban hội đồng quản trị có thể tạo động lực làm việc và khả năng sáng tạo và trách nhiệm của nhân viên bằng việc thưởng nhân viên một số cổ phiếu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được đưa lên giao dịch ở thị trường chứng khoán là điều cần thiết, nhưng củng sẻ gặp những thử thách và khó khăn khi việc kinh doanh sẻ bị chi phối bởi các tác động trên thị trường. Nhưng bù lại doanh nghiệp có cơ hội thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước khi họ nhận ra các tiềm năng chưa khai thác của doanh nghiệp.

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cổ đông thể hiện qua nhiều khía cạnh tích cực. Doanh nghiệp có khả năng hoạt động hiệu quả hơn, mở rộng thị trường lớn hơn, và gia tăng thị phần của doanh nghiệp nhờ nguồn vốn do việc phát hành cổ phiếu. Cổ đông là người có tiền để đầu tư, tin tưởng vào khả năng quản lý của hội đồng quản trị của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp làm ăn có lời, thì chia lợi tức cho cổ đông hay tạo ra các hoạt động phục vụ ích lợi khác nhau cho cổ đông và cho xã hội. Mối quan hệ này cần nuôi dưỡng và gìn giữ nhằm tạo ra sự thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển không ngừng. Vay vốn ngân hàng và phát hành cổ phiếu hoàn toàn khác nhau. Vì cổ đông có sự khác nhau về quốc tịch, giới tính, chuyên môn, ý thích và ảnh hưởng của cả vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, và các giá trị khác. Còn ngân hàng thường thể hiện qua sự tin tưởng, quen biết hay có mối liên hệ riêng tư giúp doanh nghiệp vay vốn để thu lợi nhuận. Trong khi đó cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ có thế mua bán trao đổi hàng ngày hay hàng giờ từ tay cổ đông này sang cổ đông khác. Các cổ đông lớn có thể tạo ra ảnh hưởng cho các chính sách của mà hội đồng quản trị phải áp dụng cho doanh nghiệp hoạt động.


Vây Vốn Bằng Thế Chấp Cổ Phiếu và Trái Phiếu

“Giá trị lợi nhuận luôn tạo ra các phương thức vay vốn giúp doanh nghiệp tồn tại. Nhưng kết quả cuối cùng là sự sở hữu của doanh nghiệp được bảo đảm.”
*****

Khi vay vốn, người vay luôn gặp các trở ngại cho việc vay vốn vì người cho vay không muốn mạo hiểm đưa vốn vay cho ngươì vay với một điều khoảng nào bảo đảm thu hồi vốn trong trường hợp xấu xảy ra. Để được chấp thuận cho việc vay vốn, người vay cần có vật thế chấp. Cổ phiếu và trái phiếu có thể được phép xử dụng cho việc vay vốn, nếu người vay không muốn bán hoặc có những lý do riêng.

Giá của cổ phiếu thay đổi theo thị trường giao dịch chứng khoán. Trong khi giá trái phiếu được thảo thuận giữa người bán vàn người mua nhưng giá trị của trái phiếu sẻ thanh toán đúng với gíá của nó khi đến kỳ đáo hạn. Tùy theo người cho vay hay ngân hàng cho vay có muốn nhận cổ phiếu hay trái phiếu cho việc thế chấp vay mượn, do đó người sở hữu trái phiếu hay cổ phiếu có thể vay mượn vốn cho những trường hợp khẩn cấp. Nhưng câu trả lời là giá trị lợi nhuận của việc vay vốn và tiền lời phải trả cho việc vay mượn. Nếu câu trả lời là kết quả khả thi và ít rủi ro, thì người vay có thể chọn giải pháp này cho việc thế chấp cổ phiếu, trái phiếu cho việc vay vốn.
�3*1� ��W ��V thấp hay cao, số lượng các công ty tài chính, ngân hàng, lượng vốn lưu chuyển trong ngân hàng hay cất giử trong tư nhân, mức độ rủi ro của thiên tai như động đất, bảo, lục và các thiên tai khác. Đó là một phần tác động đến giá trị của thị trường địa ốc tại nơi đó.




Giá Trị Ảo và Giá Trị Thật

“Người tiêu dùng có thể mua những loại hàng hoá không cần thiết, nếu họ tin là ngày mai loại hàng hóa đó không được sản xuất nửa. Giá trị khan hiếm giả tạo sẻ tạo ra giá trị ảo của loại hàng hóa đó.”
*****

Nhà đầu tư hay doanh nghiệp cần hiểu nguyên tắc cung và cầu - trong giá trị ảo và giá thật - để khai thác cơ hội kiếm lời. Nếu nhà đầu tư cố tình tạo ra nhu cầu ảo để kiếm lời mau và nhiều, sẻ tạo ra nguy cơ khủng hoảng trên thị trường vì càng nhiều người tin rằng giá trị sẻ tăng lên, thì mức độ sang tay hay chuyển nhượng tài sản sẻ tăng lên. Có nghĩa lượng vốn trên thị trường sẻ bị cuốn hút vào các khoảng vay mượn cho nhà đầu tư, vì họ tin giá trị tăng lên đủ sức giúp họ chi trả tiền lời và vốn cộng với tiền lời cho bản thân họ. Thực chất là trò chơi đầu tư sẻ kết thúc khi các công ty tài chính không còn đủ lượng tiền mặt để hoạt động do vốn đả bị trôn trong các khoảng vay trong các dự án kinh doanh bất động sản. Bên cạnh đó các dự án nhỏ do các nhà đầu tư cá nhân với số vốn ít, củng bị ảnh hưởng tạo ra tâm lý bi quan và giảm đi nguồn tài chính mà các cá nhân này có thể dùng để mua sắm các chi tiêu hằng ngày. Nhất là có nhiều người còn rủ gia đình bà con, bạn bè, hàng xóm bỏ tiền vào các dự án địa ốc có qui mô nhỏ tạo ra sự rối loạn trong xã hội khi số lượng lớn người tiêu dùng bị mất vốn của mình. Trong khi đó các con nợ không thể trả tiền lời hay tiền vốn, bởi vì họ không tìm được người mua sẳn sàng trả giá cao hơn giá mà họ đả bỏ ra cộng với lãi suất.

Sự khác biệt giữa giá trị ảo và giá trị thật là lượng vốn đầu tư sẻ lớn hơn do tâm lý tăng giá nhà hay đất. Giá trị ảo tạo ra lợi nhuận khi thị trường có nhiều người mua có sẳn tiền mặt để thanh toán. Nhưng tiếp thep là các tay môi giới muốn kiếm lời, nên vay vốn ngân hàng hay tư nhân đển mua vào và kiếm lời khi sang tay. Nhưng lúc đó số lượng người mua bằng tiền mặt lại khan hiếm đi, tạo ra cơn shock trong việc tìm người mua, với số lượng người bán nhiều hơn. Các thành phố có giá trị đầu tư lâu dài như New York, San Franscico, Los Angeles, Hawaii, London, Tokyo, Thượng Hải, Hồng Kông đả thu hút nhiều người mua và người bán khác nhau. Thường người mua để ở là người thành công trong kinh doanh, nghệ thuật, hy vọng có một nơi ở khi đi du lịch hay các mùa lể. Còn môi giới muốn mua bán các giao dịch này để kiếm lợi nhuận. Nhưng có những tâm lý về khách quan là độ khan hiếm làm gia tăng giá trị, đồng thời củng có những yếu tố chủ quan là tâm lý muốn thay đổi điều kiện sống và địa vị xã hội theo khả năng kinh tế tạo ra sự cạnh tranh về mua nhà ở ở các vị đẹp, sang trọng và có phong thủy tốt.

Nhưng các giao dịch này có thể tạo ra lợi nhuận nhưng vẩn cần có sự giám sát của chính phủ thông qua các chính sách và biện pháp để đạt được mục đích là chuyển tài sản từ tay người khác sang tay của mình một cách hợp pháp và đúng luật trên thị trường. Kinh doanh bất động sản là giá trí ảo khi nó vược ra ngoài nhu cầu sử dụng bình thường. Nhà và đất có hai giá trị cơ bản: giá trị xây dựng tính theo vật liệu sử dụng, và chi phi thi công; và giá trị đất đai và mức độ khan hiếm. Một căn biệc thự nằm ở giữa một cánh rừng hay một đồng ruộng sẻ có giá trị thấp hơn là ngôi biệc thự đó nằm ở một trung tâm thành phố hay nơi nghĩ mát nổi tiếng. Ngoài ra, giá trị của nhà hay đất có thể cải tạo và biến đổi để gia tăng giá trị theo thị hiếu của người mua. Tâm lý của người mua khác nhau sẻ tạo ra giá mua khác nhau. Sự thay đổi chức năng như từ một trường học củ được phá bỏ xây thành một khách sạn hay trung tâm thương mại. Đó là giá trị sử dụng làm thay đổi giá trị của khu đất xung quanh và toàn nhà mới xây. Giống như một khu vực vửa gần trường học, bệnh viện, chợ, trung tâm thương mại sẻ có giá cao hơn các nhà nằm xa. Nhưng cung có nhà nằm xa khung trung tâm nhưng vẩn có giá cao, vì nó nằm trong khu vực biệt lập mang giá trị xã hội như xung quanh là nhà các nhân vật có tên tuổi và địa vị trong xã hội. Lúc này giá trị của ngôi nhà do vị trí của tâm lý mà tạo ra không mang giá trị thuận lợi như ngôi nhà gần trường học hay bệnh viện hay chợ.

Vì vậy, người mua có thể nâng cấp nhà củ thành nhà mới hay đập bỏ nhà củ xây dựng với chức năng mới khác với chức năng củ. Nhưng muốn nhà và đất có giá trị thật thì nó thật sự được biến đổi phục vụ khách hàng hay người tiêu dùng. Chẳn hạn xây dựng khu thương xá, nhà ở, khách sạn, du lịch, khi giải trí, khu ăn uống, trường học, bệnh viện để phục vụ nhu cầu cần thiết của con người và ngươì tiêu dùng. Các khoản đầu tư này tạo ra nguồn doanh thu ổn định tức là nhà cho ngươì thuê hay mua, văn phòng có người mướn, thương xá có người thuê,  trường học có học sinh học, bệnh viện có bệnh nhân, khách sạn có khách ở, khu du lịch có khách đến vui chơi, khu giải trí có khách đến hưởng thụ và nghĩ ngơi.

Nếu các công trình trên được xây dựng tạo ra giá trị ảo tức là hy vọng sẻ tạo ra cơn sốt nhà và đất do nhu cầu tâm lý rồi sang tay cho chủ đầu tư khác, rồi sau đó các bất động sản này không bán được hay nhu cầu thị trường chưa thật sự có nhu cầu lớn như vậy sẻ tạo ra sự dư thừa của lượng cung mà nhu cầu mua thị thấp. Giá nhà và đất sẻ từ từ tuộc dần về với giá trị thật của nó. Nhiều quốc gia đả rơi vào cơn sốt nhà và xây dựng công trình tiêu tốn hàng tỷ USD nhưng cuối cùng không có khách hàng. Đảo quốc Ai-len là một ví dụ điển hình, và khu nhà ở và các dịch vụ cao cấp ở Du-Bai Trung Đông là ví dụ thứ hai. Khu Las Vegas ở Hoa Kỷ là ví dụ thứ ba. Giá trị thật luôn có mối quan hệ mật thiết giữa nhu cầu của thị trường người tiêu dùng và khả năng cung ứng của doanh nghiệp sản xuất hay dịch vụ.

Nếu số lượng du khách đến Việt Nam tăng lên, thì nhu cầu về khách sạn, nhà hàng, tiệm bán hàng lưu niệm và hệ thống vận chuyển hàng không, xe điện, xe hơi, xe taxi se gia tăng lên. Như vậy nhà đầu tư sẻ nhảy vào các thị trường cung cấp các loại dịch vụ liên quan đến ngành du lịch. Nhưng nhu cầu du lịch có sự thay đổi theo mùa và tình hình kinh tế. Bởi vì khách chỉ đi nghĩ khi có phép hay trường hợp đặc biệc. Thường là theo mùa, do đó những tháng không đúng mùa sẻ vắng khách. Như vậy các khách sạn và hảng hàng không phải áp dụng khuyến mãi vào mua này để thu hút khách hưu trí không đi làm hay học sinh, sinh viện đến nghĩ trọ. Ngoài ra còn lý do về tài chính. Các thành phố du lịch thường tạo ra thu nhập các tháng có doanh thu cao, sẻ bù lại các thàng vắng khách. Đó là một trong những tháng mà người dân hay doanh nghiệp cần chọn các hoạt động khác để kinh doanh và tồn tại.

Thường các doanh nghiệp phát triển dựa trên kinh doanh lợi nhuận của giá trị ảo, người quản lý và các chuyên gia tài chính luôn thu được các khoảng huê hồng hay tiền thưởng lớn tính trên phần trăm của tổng số vốn được quản lý. Ví dụ nhà quản lý quĩ đầu tư cho khách hàng có tổng số vốn là 300 triệu đô la, thì ngoài các lệ phí hành chánh từ 2% đến 6%, các nhà quản lý có thể hưởng tiền thưởng từ 1% đến 10% của lợi nhuận tạo ra. Có nghĩa nếu lợi nhuận tạo ra là 30% của 300 triệu đô la là 90 triệu đô la sẻ đem lại tiền thưởng cho nhà quản lý là 900 ngàn đô la đến 2.7 triệu đô la. Chính vì vậy, các nhà quản lý luôn nổ lực áp dụng tài năng của họ trong việc hạn chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận để thu lợi nhuận cao và tạo ra uy tính cho công ty với khả năng áp dụng các công thức siêu lợi nhuận từ 25% đến 50% trong những thời gian nhất định. Chưa kể các quĩ được đầu tư vào các loại cổ phiếu Junk có rủi ro cao, nhưng củng có cơ hội tạo ra lợn nhuận gấp 100% hay 200%. Các công ty đầu tư vào thị trường địa ốc luôn biết hạn chế rủi ro khi chọn mua các loại nhà có thể cho thuê kiếm lời hay tu sửa lại để bán. Như thương xá có thể cho doanh nghiệp thuê. Cao ốc kinh doanh cho thuê văn phòng cho các công ty làm việc. Hảng xưởng cho các doanh nghiệp sản xuất thuê. Nhà trọ cho công nhân viên chức thuê. Bệnh viện cho mướn để phục vụ bệnh nhân. Phi trường cho các hảng máy bay thuê bải đậu, cất cánh hay bảo trì. Cầu cảng cho thuê bốc giở công-ten-nơ và vận chuyển hàng hóa. Kho bải cho thuê cất hàng. Và các quĩ đầu tư củng phân ra nhiều khoảng đầu tư vào nhiều khu vực khác nhau để giảm rủi ro khi một sự cố nào đó xảy ra tại một vùng, hay thành phố có vốn đầu tư của họ. Thành phố Detroi ở Hoa Kỳ một thời biểu tượng cho sự thành công của công nghệ xe hơi đầu thế kỷ 20. Như khi các công ty GM, Chrysler và Ford đóng cửa nhiều nhà máy tại đây, thì số công nhân thất nghiệp phải dọn đi nơi khác tìm việc bỏ lại những khu vực hoan sơ tiêu điều một thời vang bóng của công nghệ xe hơi. Có những căn nhà chỉ có giá vài trăm USD hay vài ngàn USD mà không có ai mua. Vì công việc không có, thì ai đến đó sinh sống.

Giá trị ảo có giá trị tạm thời cho việc phát triển thị trường, nhưng cùng lúc giá trị thật củng cần được nâng cấp tương đương giá trị ảo. Thị trường địa ốc có thể nói gắn liền giá trị với hai loại thị trường tài chính và cổ phiếu. Mà thị trường tài chính do số lượng vốn lưu động với lợi nhuận cao tạo ra sức mạnh ảnh hưởng trong một quốc gia hay toàn khu vực hay toàn thế giới. Thị trường cổ phiếu lại gắn liền với thị trường kinh doanh sản xuất, giao dịch tài chính, nghiên cứu sản phẩm, và các loại hình kinh tế khác nhau. Nó củng là nơi bán các loại nợ của chính phủ, thành phố, tập đoàn lớn gọi là công trái, trái phiếu. Nếu một thành phố tập trung cả hai loại thị trường tài chính, cổ phiếu thì làm tăng giá trị của thị trường địa ốc như thành phố New York, Tokyo, Hồng Kông, London, Singapore, Thượng Hải.

Khi nhìn qua thị trường Việt Nam, có nhiều loại đầu tư địa ốc mà Việt Nam có thể phát triển nhằm tạo ra các khu nghĩ mát và an dượng cho du khách nước ngoài hay người nghỉ hưu tạo nguồn thu nhập dịch vụ cho các cộng đồng địa phương giải quyết công ăn việc làm và phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ. Nhật Bản có mức giá sinh hoạt cao, do đó nếu các tiêu chuẩn sống ở Việt Nam cho du khách Nhật Bản có giá trị cạnh tranh, thì hàng năm người Nhật sẻ sang du lịch hay sinh sống ở Việt Nam nhiều hơn. Các loại hình xây dựng cho các mục tiêu thương mại như bệnh viện quốc tế củng tạo ra nguồn doanh thu cho nhu cầu chửa bệnh cho các du khách khi giá thành y tế tại các quốc gia này quá cao. Bệnh nhân người Mỹ có thể sang chửa bệnh ở các bệnh viện tại Mexico có giá rẻ hơn các bệnh viện ở Hoa Kỳ, mà chất lương tương đương, vì bác sỉ tốt nghiệp y khoa ở đại học Hoa Kỳ. Có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư Việt Nam khai thác khả năng của thị trường địa ốc theo các giá trị lâu dài với các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu trong việc phối hợp đầu tư qua lại như việc gia tăng số lượng sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ hay Nhật Bản và các loại đầu tư nhà ở cho sinh viên Việt Nam.

Nguồn đất nông nghiệp có thể dùng cho các dự án trồng lương thức cao cấp cho thị trường nước ngoài với công nghệ tiên tiến. Các giá trị đầu tư này sẻ cao hơn là trồng rừng công nghiệp cho sản phẩm gổ chế biến. Nhu cầu thực phẩm, thịt, cá, ngũ cốc, rau quả sẻ gia tăng torng các năm tới, do đó thị trường Việt Nam có thể gia tăng thị trường đầu tư cho sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Châu Âu, Nam Triều Tiên, Ấn Độ và Nga. Chính phủ có thể phối hợp với các tổ chức nông nghiệp của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu trong việc thành lập các trung tâm nghiên cứu gen di truyền, cấy ghép cho các sản phẩm nông nghiệp, thịt gia xúc để có năng xuất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho nhu cầu càng gia tăng về lương thực thực phẩm trên toàn thế giới. Khi đó người nông dân Việt Nam cần có thêm kiến thức khoa học để áp dụng công ghệ, kỷ thuật cơ giới vào các hoạt động canh tác, chăn nuôi gia cầm của mình. Chính phủ vừa tăng khả năng phát triển kinh tế của nông dân, vừa tăng khả năng xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng các dự án này luôn cần sự hợp tác giữa bốn tác nhân: vốn của chính phủ, vốn của tư nhân, vốn của nước ngoài, công nghệ khoa học kỷ thuật nước ngoài.

Số lượng trường học và các trung tâm nghiên cứu và giải trí sẻ gia tăng khi thu nhập của người dân tăng lên. Ngoài ra, các trường có thể tạo ra nguồn thu nhập bằng các hoạt động sau: ngân sách chính phủ, hổ trợ của phụ huynh học sinh, mạnh thường quân tài trợ hàng năm, quĩ đầu tư để tạo ra lợi nhuận chi phí cho các chương trình giảng dạy và nâng cấp. Do đó số lượng phòng học, thư viện, phòng tập thể dục, phòng thí nghiệm và các hổ trợ khác sẻ được đầu tư đúng mức. Số lượng giáo viên sẻ tăng lên để giảm số lượng học sinh mỗi lớp xuống trong khoảng 25 hay 30 học sinh, để tăng chất lượng giáo dục. Thư viện công cộng là nhu cầu kiến thức, khoa học, giải trí cho dân cư trong vùng. Số lượng thư viện sẻ tính trên số dân cư trong vùng. Còn ngân sách thì do nhà nước hổ trợ, doanh nghiệp tư nhân trong khu vực, các mạnh thường quân đóng góp, tiền thuế của dân trong vùng đóng góp. Thư viện là nơi gia tăng kiến thức phổ thông cho mọi thành viên trong xã hội. Nếu người dân đóng thuế trong khu vực đó là phường, quận, xã là 10 ngàn người hay 20 ngàn người nên có một thư viện công cộng. Ngoại trừ các nơi đả có sẳn chợ như chợ Bến Thành, Chợ Lớn, Chợ An Đông, Chơ Cầu Ông Lảnh; chính phủ trung ương và địa phương nên phối hợp phát triển các chợ theo mức dân số trong vùng có hệ thống để dể quản lý các hoạt động như mức độ giao thông, thuế, công việc, an toàn thực phẩm, mỷ quan đô thị cho việc qui hoạt phát triển đô thị. Sự gia tăng dân số, lưư lượng xe máy, xe hơi sẻ tăng lên, mà đường xá nhỏ hẹp không thể giải toản để phát triển. Đo đó các giấy phép xây dựng nên hạng chế tại các khu vực nội thành, để khuyến kích mở rộng phát triển đô thị ra vùng ngoại thành dể dàng trong việc qui hoạch và xây dựng đường xá có động rộng phù hợp, củng như bải đậu xe, các phương tiện công cộng như xe buýt, xe taxi, xe điện chạy trên đường treo hay dưới hầm, hay Sân bay và trạm xe điện quốc gia.
>


Sự phát triển kinh tế của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á cần được sự giúp sức về vốn, khoa học kỷ thuật từ Nhật Bản, củng như các trao đổi mậu dịch song phưong và đa phương. Khi Nhật Bản nhận ra giá trị gia tăng cho thị trường nội địa thông qua chính sách đầu tư và trao đổi mậu dịch với các thành viện Đông Nam Á, thí họ sẻ giảm nguồn đầu tư vào Trung Quốc và chuyển sang đầu tư vào khu vực ASEAN. Điều quan trọng kế tiếp là chính phủ các quốc gia ASEAN cần tăng cường vấn đề an ninh trong việc ổn định tình hình chính trị trong nước sẻ thu hút nhiều hơn nguồn đầu tư lâu dài từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, và Trung Đông. Những khủng hoảng chính trị trong khu vực như vụ đánh bom ở Ấn Độ, Indonesia, và Áp-ga-nis-tan là những việc làm mang tính chính trị. Nhưng đằng sau là phục vụ cho mục đích kinh tế của các nhóm tài chính đa quốc gia. Cuộc nội chiến ở ViệtNamtừ 1945-1975 có thể giải thích cho việc có nhiều quốc gia làm giàu thông qua các cuộc chiến ở quốc gia lân cận. Bên cạnh đó các nhóm công nghiệp quốc phòng và tài chính luôn có khả năng kiếm lợi nhuận do các cuộc chiến gây ra vì họ có thể cung cấp quân cụ, thiết bị, quần áo, thức ăn, và các loại dịch vụ khách cho chính phủ thông qua các hợp đồng với bộ quốc phòng.

Do đó muốn gia tăng phát triển kinh tế Việt Nam cần gia tăng tinh thần yêu nước, trách nhiệm, tính chân thật, nhiệt tình, say mê, học hỏi, đoàn kết để mở ra cánh cửa mời chào các quốc gia có nền công nghệ tiên tiến vào đầu tư, đồng thời cùng nâng cao trình độ dân trí trong nước để đảm đương các trách nhiệm to lớn và lâu dài hơn. Nhật Bản có lẻ là một vị dụ cho việc phát triển kinh tế và tăng cường các chính sách quản lý thị trường cổ phiếu, bất động sản, tài chính, chính sách tiết kiệm và phát triển kinh tế toàn diện. Hiện tại nền kinh tế Nhật Bản gặp nhiều thử thách cho việc khuyến khích mức tăng trưởng dân số để giảm gánh nặng cho chính phủ trong việc cung cấp tiền hưu trí, dịch vụ sức khỏe và các chi phí xã hội khác. Đồng tiền Yen củng tăng giá làm giảm đi sự cạnh tranh của hàng hóa của Nhật Bản tại các quốc gia. Các công ty của các quốc gia củng chiếm dần các thị trường mà trước đây Nhật Bản từng là nhà vô địch như xe hơi từ Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ; máy truyền hình và điện thoại di động và máy phục vụ gia đình từ Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan.

Muốn hiểu nền kinh tế Nhật Bản vận hành thế nào là quá trình nghiên cứu tốn nhiều công sức, thời gian, tiền bạc, và sự giúp đở của người Nhật. Khi nhìn qua hai bức hình của thành phố Tokyo năm tháng 8 năm 1945, và Tokyo tháng 12 năm 2009, một cán bộ quản lý hay nhân viên Việt Nam sẻ luôn tư hỏi điều gì đả giúp Nhật Bản thay đổi và thành công như vậy. Đó là sự kỳ diệu cho quá trình phát triển kinh tế của xứ sở hoa Anh Đào. Sau chưa đầy 25 năm, nước Nhật đả đạt được tổng sản phẩm quốc dân sau Hoa Kỳ trong đầu thập niên 70s, và vược qua mức thu nhập của Hoa Kỳ vào giữa thập niên 80s. Hiện nay có nhiều sự chọn lựa cho việc học hỏi từ các thành phố như Thượng Hải của Trung Quốc, Singapore của Singapore và Hồng Kông, Hán Thành của Nam Triều Tiên và Đài Loan. Nhưng có nhiều giá trị mà Việt Nam có thể thêm vào từ các bài học kinh nghiệm của Nhật Bản hay các quốc gia trong khu vực là văn hóa dân tộc và truyền thống chính trị quốc gia.

Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển mối quan hệ vơí Nhật Bản nếu các doanh nghiệp biết cách phát triển các thế mạnh của mình để tạo uy tín cho đối tác Nhật Bản. Ở Đông Nam Á, Đông Á có nhiều quốc gia củng có nguồn lao động dư thừa hay nhân công rẻ, lẩn nguồn tài nguyên sẳn có, nhưng điểm mấu chốt thu hút đầu tư là sự ổn định về chính trị, luật lệ của môi trường kinh doanh và đầu tư, cùng với những chính sách giáo dục đào tạo của chính phủ giúp nâng cao tay nghề, kiến thức cho người lao động sau khi tốt nghiệp ra trường phổ thông trung học cấp ba. Ngoài ra nhân công củng cần có thái độ làm việc nhiệt tình, say mê với tinh thần trách nhiệm cao. Với quan niệm là dù làm việc cho ai, người làm công củng phát huy tinh thần say mê, hăng say, và nhiệt tình trong làm việc, lao động và cải thiện. Chính phủ có thể làm việc với các cơ quan chính quyền Nhật Bản và các công ty trong việc phát triển các khu công nghiệp chuyên môn cao. Cùng phía Nhật Bản phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng rất cần thiết cho nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng từ 104 tỉ USD lến hơn 900 tỉ USD trong năm 2030.

Điểm quan trọng là các bước phân tích chiều sâu dựa trên các báo cáo thực tế và so sánh mà chính phủ Việt Nam thực hiện cho các khâu chuẩn bị của chiến lược phát triển thị trường nội địa, cải thiện môi trường đầu tư, hệ thống giáo dục đào tạo công nhân các kiến thức chuyên môn, ngôn ngữ giao tiếp căn bản, thái độ làm việc nhiệt tình, tôn trộng cấp trên và đồng nghiệp. Các doanh nghiệp Nhật Bản sẻ cảm thấy dể dàng giao tiếp với đối tác và nhân viên ViệtNamhơn. Trung Quốc thu hút nhà đầu tư Nhật Bạn vì có thị trường 1.3 tỉ người, ngoài ra nhiều tài nguyên cho các sản phẩm tiêu dùng trên thế giới. Chử viết  Kanji của Nhật củng có nguồn gốc từ chử Hán, giúp người Nhật hiểu người Trung Quốc hơn là các quốc gia khác. Trung Quốc có khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ canh tranh trên toàn cầu tư thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Nam Mỹ đến các quốc gia Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, Châu Phi và Đông Âu giúp nâng mức tiêu thụ của người dân Trung Quốc để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản trong các loại kinh doanh mậu dịch, bán lẻ, thức ăn nhanh, nhà hàng Nhật Bản và dịch vụ tài chính.

Yếu tố kiên nhẩn, luôn nắm vững các khả năng của đối tác trước khi thương lượng giúp các doanh nghiệp Nhật Bản thiết lập mối giao dịch lâu dài với các đối tác quốc tế. Việt Nam có thể liên doanh với các công ty Nhật Bản nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh mới trên thị trường toàn cầu với mục tiêu doanh thu của hàng xuất khẩu hằng năm từ 5 tỉ đến 60 tỉ USD trong kế hoạch phát triển 5 năm. Cùng với các đối tác như Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Châu Âu, Úc, Hàn Quốc, Đài Loan, Phi Châu, Trung Đông, Trung Quốc, Việt Nam có thể đạt được mức tổng sản phẩm quốc dân là 1000 tỉ USD vào khoảng vào năm 2030. Tỉ lệ gia tăng này do sự đóng góp của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân. Nhân viên của lảnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài sẻ làm thêm nhiệm vụ là gia tăng tiếp thị và mở rộng thị trường của các thương hiệu Việt Nam tại các quốc gia trên thế giới. Các lãnh sự quán sẻ thành lập các hội thảo hay chương trình khuyến khích đầu tư tại các khách sạn lớn tại New York, Luân Đôn, Paris, Tokyo, Singapore, Thượng Hải nhằm thu hút nhà đầu tư trên thế giới. Có rất nhiều nhà đầu có vốn và khả năng phát triển tại Việt Nam, nhưng do thiếu thông tin và sự bất ổn định về hệ thống pháp luật cho quyền sở hửu và tài chính tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài vẩn chưa dám đầu tư vào thị trường Việt Nam. Chính phủ cần quảng cáo hiệu quả các dự án đầu tư vào Việt Nam tại các thị trường có nguồn vốn lưu động cao. Bên cạnh đó các lãnh sứ quán Việt Nam tại các thị trường có sức tiêu thụ mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Đông, Nam Mỹ, Canada, Úc nên nghiên cứu các yêu cầu vền mẫu mã, chất lượng, giá cả của sản phẩm tại thị trường này để cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị để tiếp thị trong các hội chợ triển lãm quốc tế. Tiêu chuẩn cao, chất lượng thiết kế, chất liệu sử dụng, độ bền, màu sắc, giá cả là điều quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng và phát huy tiềm năng của mình.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam có thể cải cách trong các môn về hướng nghiệp như điện, hoá sinh, nử công gia chánh, điện công nghiệp, cơ khí, ngoại ngữ, kế toán, mậu dịch, nông nghiệp cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12, các môn học này sẻ củng cố những kiến thức cần thiết cho học sinh trong việc tiếp cấn các công đoạn làm việc hiện đại có hiệu xuất cao hơn và hiệu quả hơn. Để giúp học sinh có thể xin việc làm ngay sau khi tốt nghiệp lớp 12. Họ có thể vào làm việc cho các khu chế xuất trong các lĩnh vực điện tử tiêu dùng, cơ khí máy móc xe hơi và xe gắn máy, hoá sinh cho công ty dược phẩm và hóa chất, may mặc. Sự tiết kiệm về thời gian và điều kiện cơ sở vật chất giúp các học sinh lớp 12 có được một tay nghề cơ bản khi tốt nghiệp ra trường. Nhất là môn ngoại ngữ, giao tiếp, phục vụ khách hàng trong các ngành kinh tế dịch vụ hay du lịch ăn uống. Bộ Giáo Dục sẻ dựa trên sự phân tích của nhu cầu thị trường cho các ngành điện tử, hóa sinh, dịch vụ, may mặc mà có ngân sách và các chính sách hợp lý đào tạo giáo viên, chuyên viên có năng lực giảng dạy tại các trường trung học và trung tâm dạy nghề với sự đầu tư thiết bị, phòng thí nghiệm, tài liệu giảng dạy thực tế và mang tính chuyên môn cao.

Đây củng là một bước phát triển cho việc tạo ra nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp và kinh tế đặc khu trong tương lai. Nhất là khả năng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản. Những đức tính mà cán bộ và nhân viên cần phát triển là trách nhiệm, trung thành, và hợp tác tôn trọng cho lợi ích chung của doanh nghiệp Nhật Bản và nhân viên Việt Nam. Với dân số 126 triệu người, nền kinh tế lớn hơn nền kinh tế Việt Nam 53 lần là điều mà mọi người Việt Nam sẻ luôn phấn đấu cho hai mươi năm sắp tới. Khả năng phát triển kinh tế của Nhật Bản phát xuất từ giá trị con người, khiêm tốn, văn hoá, truyền thống, lịch sử, gia đình, công ty, chính phủ trong suốt giải đoạn sau thế chiến thứ hai. Nếu niềm tin và sự cởi mở từ phía Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật Bản củng như các cơ quan chính phủ Nhật Bản được gia tăng thì sự hợp tác phát triển sẻ còn đi xa hơn nửa.



Các Giá Trị Kinh Tế và Văn Hóa của Nhật Bản Cho Sự Phát Triển Kinh Tế ở Việt Nam

“Học hỏi và so sánh là các đức tính cần thiết cho một nhân viên giỏi. Hơn thế nửa là kiên nhẩn và tôn trọng sẻ giúp ngưòi nhân viên nâng cao khả năng của mình.”

*****

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chuyển sang các giai đoạn thiết yếu: (1) tái xây dựng nền kinh tế, (2) cải cách quản lý, đầu tư, và phát triển kinh tế, (3) gia tăng tốc độ phát triển kinh tế, (4) mở rộng thị trường thế giới trên nhiều lĩnh vực tài chính, công nghiệp, hóa sinh, sản phẩm giải trí và văn hóa, (5) điều chỉnh vai trò của Nhật Bản trong khu vực Châu Á và thế giới trong cả hai mặt kinh tế và ngoại giao. Khi các nhà kinh tế và nghiên cứu Hoa Kỳ và Châu Âu thường nhận ra sự thành công của Nhật Bản do sự đóng góp phần nhiều bởi các tập đoàn kinh tế, công nghiệp, mậu dịch của Nhật Bản. Nhưng Giáo Sư Takafusa Nakamura ở đại học Tokyo tái khẳng định giá trị này bao gồm chính sách của chính phủ, sự hợp tác trong các khu vực kinh tế tư nhân và chính phủ, mối quan hệ tốt đẹp của quản lý lao động, và nhiều tác nhân khác tạo ra một sự hòa hợp hiệu quả cho sự gặc hái các thành công trong kinh tế ở Nhật Bản. Bên cạnh đó giáo sư củng giải thích hai giá trị khách quan là môi trường quốc tế thuận lợi trong giai đoạn này và sự nổ lực của người dân Nhật Bản đả góp phần cho sự phát triển kinh tế kỳ diệu của Nhật Bản.

Trong giai đoạn sau chiến tranh, Nhật Hoàng Hirohito bắt đầu công việc của mình là viến thăm nhiều nơi trên đất Nhật, tạo ra sự động viên về tinh thần cho mọi người dân như là một người đại diện của hoàng tộc, một thành viên trong xã hội Nhật Bản với tính khiêm nhường, thông cảm, những sở thích học thuật như nghiên cứu sinh hóa hải dương. Người dân Nhật luôn đặt ra những mục tiêu khó khăn hơn cho mục tiêu trước mắt, nhất là phải theo kịp các quốc gia phưong tây và vược qua các quốc phương tây. Làm việc cậc lực, suy nghĩ liên tục không ngừng cho những vấn đền mà họ cần hoàn thành và vượt qua. Có thể nói là hơn cả hy sinh đơn thuần. Nhật Bản chia ra ba khu vực kinh tế - (1) khu vực kinh tế cần nhiều sức lao động, (2) khu vực kinh tế cần nhiều nguồn vốn, (3) khu vực kinh tế cần nhiều kiến thức. Khu vực kinh tế cần kiến thức là mục tiêu mà Nhật Bản đả đầu tư với nhiều ưu tiên trong việc  hàng năm dành ra số ngân sách của chính phủ và tư nhân cho các công trình nghiên cứ và phát triển khoa học công nghệ và sản phẩm. Các ngân hàng có nhiệm vu thu hút vốn từ tiền tiết kiệm của người dân để cung cấp các loại vốn vay cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhờ vậy tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế xuất khẩu phát triển rất mau, giúp Nhật Bản không chỉ theo kiệp các quốc gia công nghiệp tiên tiến mà còn vượt qua các quốc gia này trên nhiều khía cạnh.

Thuê mướn làm việc suốt đời là đặc tính thứ nhất của Nhật Bản, giúp cho sự trung thành của nhân viên vào sự thành công của công ty. Nếu công ty phát triển và làm ăn có lời, thì mọi thành viên của sẻ được hưởng lợi ích. Ngoài ra nếu khi nhu cầu tiêu thụ giảm, các doanh nghiệp vẩn ít khi xa thải nhân viên, chỉ có thể giảm giờ làm trong giai đoạn này. Các công ty lớn thường cung cấp nhà ở cho nhân viên và các điều kiện giải trí thể thao khác, hay tổ chức các lớp học cấm hoa, cách thức pha trà và câu lạc bộ thể thao cho nhân viên và gia đình nhân viên tham gia. Các công ty nhỏ có thể không có nguồn kinh phí lớn như công ty lớn, do vậy sự quan tâm của công ty có thể là các buổi du lịch hay dã ngoại ở ngoài biển do chủ công ty hay vợ của giám đốc tổ chức. Sự gắn chặc mối quan hệ giữa công ty và nhân viên thông qua nhiều hình thức và hoạt động. Như sự hổ trợ cho nhân viên tu nghiệp hay đi học. Công ty thường có bài hát riêng cho đầu giờ của một ngày làm việc. Đồng phục, phần thưởng của công ty luôn gắn chặc nhân viên trong mối quan hệ tập thể và sự phấn đấu không ngừng. Nhân viên sau giờ làm thường cùng nhay đi ăn tối hay uốn rượu bia ở các quán bar. Do sự thuê mướn suốt đời, nên các công ty có trên 100 nhân viên sẻ áp dụng sự nghỉ hưu bắt buộc, khi nhân viên bước sang tuổi 55 hay 60 tuổi. Nhưng hiện nay do sự khan hiếm về lao động, các nhân viên qua tuổi 60 vần còn tiếp tục làm việc. Một số công ty do thiếu nhân viên, đả gia tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi. Nhưng người nghỉ hưu ít khi nghỉ ở nhà, mà họ sẻ tìm một việc khác để làm như làm nhà tư vấn, làm bán thời gian, mở một doanh nghiệp nhỏ nơi mà không có sự ràng buộc phải nghĩ hưu ở tuổi nào.

Giá trị thứ hai của văn hoá trong kinh tế Nhật Bản là phân công đoạn sản xuất ra nhiều công đoạn nhỏ và chuyển cho các công ty khác gia công sản xuất. Có nghĩa một công ty sản xuất tivi hay xe hơi sẻ không nhất thiết chế tạo ra 100% linh kiện và bộ phận rồi lấp ráp lại, mả chỉ sản xuất một phần của các linh kiện, phần còn lại sẻ giao cho các công ty khác làm. Các công ty nhỏ gia công linh kiện cho các công ty lớn không phải tốn các chi phí về nghiên cứu củng như các chi phí hành chính khác, vì các chi phí này đều do công ty lớn lo, hay còn gọi là công ty mẹ. Như hảng Toyota sẻ có rất nhiều công ty con cung cấp linh kiện cho việc sản xuất xe hơi Camry hay Corrola hay Prius. Nhưng các công ty nhỏ lệ thuộc vào sự thành công của các công ty lớn cho việc tiếp tục có đơn đặc hàng cho các linh kiện cần gia công và cung cấp. Cơ cấu quản lý trong các tập đoàn của Nhật giống như một gia đình, có người cha quả lý ở trên, và các người con quản lý các bộ phận bên dưới, rồi tỏa xuống theo thứ bậc. Đó là các nhóm công nghiệp keiretsu bao gồm công ty tài chính, nhà sản xuất, công ty gia công công đoạn, nhà phân phối và nhà mậu dịch xuất nhập khẩu. Một ví dụ cho nhóm tập đoàn Sumitomo, trong năm 1991, Sumitomo bao gồm nhiều nhóm xí nghiệp và công ty nhỏ nằm trong gia đình Sumitomo: công ty mậu dịch xuất nhập khẩu Sumitomo, ngân hàng Sumitomo, hảng sản xuất điện tử NEC, những công ty nhỏ trong hệ thống – Kojima Corp, Sumitomo Chemical, Sumitomo Metals, Sumitomo Heavy, Sumitomo Cement, Sumitomo Bakelite, Sumitomo Precision, Nippon Glass và các công ty khác. Ngoài ra các công ty mậu dịch lớn của Nhật Bản có doanh số thu nhập rất lớn, sau đây là các công ty C. Itoh 115.71 tỉ USD, Mitsui & Co 110 tỉ USD, Sumitomo 109 tỉ USD, Mitsubishi 107.86 tỉ USD, Marubeni 105.71 ti USD trong năm 1989, có nghĩa cách đây 21 năm, khi đó tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản là 2386 tỉ USD trong năm 1987. So với hiện tại GDP của Nhật trong năm 2009 là 5.05 ngàn tỉ USD. Các mối quan hệ này tạo ra một đóng góp đồng bộ giúp cho nền kinh tế của Nhật Bản phát triển trong giai đoạn 1945-1990 với sự đóng góp của các gia đình công nghiệp và keiretsu là khoảng 20% GDP của Nhật Bản.

Mức tiết kiệm cao ở Nhật Bản giúp cho các ngân hàng và công ty tài chính có vốn tái đầu tư trong các ngành kinh tế xuất khẩu, tiêu dùng và nghiên cứu. Từ 1961 đế 1979, mức tiết kiệm khoảng 18.2 % đến 22.1% thu nhập của người dân Nhật. So với Hoa Kỳ là 5.4% đến 8.8%. Nhờ vậy Nhật Bản tự túc được nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế giúp quốc gia tăng nhanh năng xuất sản xuất của nền kinh tế và giá trị GDP tăng hàng năm. Chính một trong các giá trị mà doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng trong giai đoạn gia tăng tốc độ phát triển kinh tế là hoạt động trên 20% vốn tự có và 80% vốn vay, cùng lúc luôn giữ mức nguyên vật liệu ở mức thấp cho thời gian sản xuất là 5 ngày đến 7 ngày trước khi đơn đặc hàng mới được chuyển đến. Như vậy tính theo giá trị kinh tế thì vòng xoay vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản rất cao.

Sự hợp tác quốc gia dưới sự điều phối của các cơ quan chính phủ Nhật Bản trong các chính sách ưu tiên cho ngành nghề nào cần phát triển và xử dụng vốn và công nghệ như thế nào. Sự thành công trong việc hợp tác giữa chính phủ, giới công nghiệo và nhóm tài chính, và lực lượng lao động tạo ra một sự hoàn hảo của mức đầu tư cao, chất lượng nghiệp vụ của lực lương lao động, sự kết hợp chặc chẻ và thống nhất của các tổ chức doanh nghiệp, và tốc độ điều phối công nghệ và khoa học kỷ thuật cho các ngành kinh tế chủ đạo có giá trị xuất khẩu cao. Ngoài ra sự hiệu quả của việc xử lý các vấn đề mà giám đốc, trưởng xưởng đối với nhân viên luôn tiết kiệm thời gian nhất là nhân viên có thể thảo luận với cấp trên nhanh hơn cho các biện pháp xử lý. Tức là khoảng cách mà nhân viên có thể liên lạc với cấp hiệu quả hơn so với các quốc gia khác. Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích sự phát triển của hệ thống giáo dục chú trọng đến khoa học kỷ thuật và ngôn ngử quốc tế, tăng cường hợp tác và cạnh tranh nhưng không phải đối chọi trên thị trường, cung cấp vốn cho các ngành xuất khẩu, hổ trợ các dự án hợp tác với chính phủ nước ngoài, luôn khuyến khích thị trường nước ngoài mở cửa.

Khi tham khảo các vấn đề trong công việc, nhân viên cấp dưới có thể thảo luận với cấp trên trong thái độ khiêm tốn và lặng lẻ, và đưa ra các ý kiến cho cấp trên biết trước khi vấn đề được bàn thảo công khai. Đó là một trong các bước mà nhóm làm việc tạo ra, hơn là tự đưa ra ý kiên để lấy điểm trước tập thể. Các thay đổi và sửa chữa sẻ có người chịu trách nhiệm xử lý. Các ý kiến và kế hoạch luôn được thông qua cho tất cả mọi thành viên tham khảo để biết trước nội dụng. Còn quyết định cuối cùng vẩn là ở cấp trên. Sự làm việc của các nhân viên Nhật Bản ở mức độ cao trên thế giới so với các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp. Quá trình làm việc theo chu kỳ vòng tròn từ khởi điềm cho đến khi quyết định cuối cùng trải qua nhiều bước cho toàn thể công ty cùng tham khảo trước khi được phê chuẩn cho việc áp dụng và thực hiện.

Giá trị và nhiệm vụ của kỷ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bơỉ vì Nhật Bản nhận ra đất nước của họ không có nhiều tài nguyên như các quốc gia khác, khả năng mà họ phải đạt được là phát triển các ngành khoa học nghiên cứu, công nghệ kỷ thuật cao, hệ thống tính toán theo thần kinh logic, hóa sinh, gia tăng giá trị cho các sản phẩm ưu việc phục vụ thị trường trên thế giới. Nền kinh tế Nhật Bản và xã hội Nhật Bản đang chuyển sang gia đoạn hoàn thiện của các giá trị xuất phát từ con người hay người tiêu dùng và ứng dụng các lợi ích của thông tin và trong sinh hoạt cuộc sống và kinh doanh. Có nghĩa khoa học công nghệ sẻ nối kết tất cả mọi hoạt động với nhau và mục tiêu cuối cùng là phục vụ con người. Trong năm 2008 giá trị kinh tế của nông nghiệp chỉ chiếm có 1.5% GDP, công nghiệp chiếm 26.3% GDP, và các loại kinh tế dịch vụ cần nhiều giá trị kiến thức và khoa học kỷ thuật đóng góp đến 72.3% GDP. So với Úc thì kinh tế dịch vụ đóng góp là 69.8% GDP, còn Trung Quốc là 40.1% GDP, Ấn Độ là 53.4% GDP.

Đó là một số điểm khái quát về văn hóa trong kinh doanh và hoạt động kinh tế Nhật Bản có thể giúp nhân viên và cán bộ quản lý Việt Nam có một niềm đam mê học hỏi ở Nhật Bản. Điều quan trọng là làm sao tạo ra khả năng của một con người có thể nối kết với công ty hay tập thể để cùng nhau phát triển về tương lai. Sự trung thành, hy sinh, tôn trọng, khiêm nhượng, và kiên nhẩn luôn là sự kết hợp hoàn hảo. Ở Nhật Bản, sự phát triển là vận đống thăng tiến liên tục. Việt Nam cần có khái niệm hy sinh cho công ty, cho doanh nghiệp, cho tổ chức cơ quan nhằm khuyến khích mọi thành viên đóng góp nhiều hơn, làm việc nhiệt tình hơn, biết phát huy sáng kiến cho lợi ích chung. Trung Quốc, Ấn Độ là hai bài học cho Việt Nam phát triển về công nghệ thông tin và kỷ nghệ sản xuất cho xuất khẩu ở giá thành cạnh tranh và tiêu chuẩn quốc tế.


Các Giá Trị Của Trung Quốc Mà Việt Nam Cần Học Hỏi

“Không có công thức nào giúp một quốc gia thành công hoàn toàn, nhưng quốc gia đó có khả năng khai thác tiềm năng của mình thông qua việc khai thác tài nguyên, quản lý con người, và tạo điều kiện cho con người kinh doanh thành công.”

*****
John Naisbitt và Doris Naisbitt, giảng sư tại đại học Nanjing, Nankai và Tianjin ở Trung Quốc. Họ thành lập ra viện nghiên cứu Naisbitt China ở Tianjin cho việc nghiên cứu, giảng dạy về kinh tế tại Trung Quốc. Mặc dù họ là người Áo, nhưng sự say mê của họ về Trung Quốc đưa họ đến quốc gia này làm việc và sống trong thời gian dài. Chính vì lẻ đó cái nhìn của họ về Trung Quốc khác với các tác giả khác. Tôi chi nêu lại các kết luận mà hai giáo sư này nhận xét và phân tích lý do nào mà Trung Quốc thành công trong việc phát triển kinh tế của mình trong giai đoạn 1979-2010.

Họ ca ngợi các giá trị mà chính phủ Trung Quốc làm được trong việc giảm đi số lượng dân có mức thu nhập nghèo vượt qua con số 300 triệu người trong vòng 3 thập niên. Mà trong đó có sự di chuyển của hơn 200 triệu người từ vùng nông thôn lên thành thị cung cấp nguồn lao động cho sự tăng trưởng GDP liên tục ở mức trên 10% trong suốc hơn 2 thập niên và giảm dần cho mức 9%, 10% trong các năm gần đây. Bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc củng biết khai thác cơ hội để phát triển ra thị trường nước ngoài. Mặc dù có nhiều ý kiến về các giá trị văn hóa, xã hội tại Trung Quốc không tương đồng với các giá trị tại Phương Tây, như kết quả mà Trung Quốc làm được có thể khẳng định một điều là Ấn Độ củng có số dân đông như Trung Quốc nhưng không phát triển mạnh và nhanh như Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ có chế độ chính trị đa đảng, còn Trung Quốc chỉ có một đảng chính trị. Sau đây là một phần tóm lược ý kiến của hai giáo sư này cho các giá trị mà Trung Quốc đả làm được trong ba thập niên qua.

Khái niệm tái kiến thiết Trung Quốc ra đời vào năm 1979. Các công ty hay xí nghiệp đang hoạt động trên bờ vực bị phá sản. Người điều hành doanh nghiệp hay xí nghiệp đả chọn ra những kế hoành đầy tham vọng, có tầm nhìn xa, kiên quyết, nhất quán để biến đổi lực lượng lao động của họ trong tình trạng có trình độ kém, luôn bị quản thúc hay quản chế cho từng hành vi, quá dể dải thành một lực lượng làm việc với những phương thức, tinh thần hoàn toàn khác.

Bước đầu tiên mà nhà quản lý muốn làm là chọn ra cho mình một đội tinh nhuệ nồng cốt có thể đảm nhận công việc hiệu quả, và nắm rỏ mục tiêu mà doanh nghiệp họ muốn hoàn thành. Nhân viên cấp dưới biết suy nghĩ mạnh mẻ hơn để cung cấp sáng kiến và cải tiến trong công việc. Khả năng tự chủ, tự tin này giúp nhân viên tăng them tinh thần làm việc và long tự trọng trong công việc. Mọi người can đảm hơn trong việc có trách nhiệm đóng góp cho doanh nghiệp của mình phát triển.

Bước tiếp theo là cán bộ quản lý sẻ tạo ra môi trường làm việc mới nhằm tăng cường khả năng trao đổi ý kiến, đóng góp ý kiến, truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên xuống cấp dưới, hay từ cấp dưới lên cấp trên. Sự trao đổi và đóng góp này mang tính xây dựng và hoàn thiện cho doanh nghiệp, do đó mọi người luôn tin tưởng là ý kiến của mình sẻ không gây tại họa cho bản thân. Mọi người sẻ nhiệt tình đóng góp cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Nó không tạo ra mâu thuẩn mà tạo ra quá trình lập đi, lập lại cho sự hoàn thiện mỗi ngày.

Bước thứ ba là khẳn định mục tiêu mà doanh nghiệp theo điểu. Thành lập ra giá trị riêng cho doanh nghiệp gọi là văn hóa của doanh nghiệp. Nó đảm bảo mọi người sẻ có lợi khi cùng nhau thực hiện các qui ước này một cách tự giác và có ý thức cao. Sự thành công của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, có như vậy thì doanh nghiệp mới cung cấp thu nhập, tiền thưởng và các lợi ích khách cho mọi thành viên. Mọi thành việc sẻ hoạt động theo các khuôn mẫu đả đề ra, nhưng các tài năng vẩn có thể phát triển vượt ra ngoài các khuôn mẫu này cho sự lớn mạnh của công ty. Công ty sẻ xem xét kết quả này để điều chinh lại chiều kích mới cho khuôn mẫu mới để mọi thành viên khác cùng noi theo. Như vậy khuôn mẫu giúp mọi thành viên hoạt động hiệu quả, nhưng các tài năng hiếm có vẩn có thể gia tăng sức sang tạo và giá trị cống hiến cho công ty ở mức cao và linh động.

Bước thứ tư là khả năng xây dựng niềm tin và loại dần cảm giác sợ hải. Lòng tin sẻ giúp mọi người giám làm đển chọn ra kết quả đúng. Có nghĩa làm thử để loại cái sai, chọn cái đúng được chấp nhận vì mọi người chưa tạo ra một tiêu chuẩn thống nhất cho chiến lược lâu dài. Đó là cơ hội để sự sang tạo, phát minh và sang kiến có cơ hội phát huy và tồn tại trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.

Bước thứ năm là chào đón, đón nhận các giá trị nghệ thuận và trí tuệ, mặc dù đôi lúc nó đi trước thời đại. Vì các giá trị này góp phần cho sự đa dạnh của kinh doanh trong nền kinh tế, nhất là sự hình thành nhiều loại hình kinh doanh văn hóa phong phú tạo ra tác động tích cực cho các loại hình kinh tế khác tăng trưởng. Ví dụ như hội họa có thể tăng lượng du khách nước ngoài cho việc chiêm ngưỡng hay mua các tác phẩm.

Bước thứ sáu là doanh nghiệp biết thành lập nền móng tại thị trường nội địa, sau đó mở rộng sang các thị trường nước ngoài. Đồng thời mời gọi đối tác, nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác, để học hỏi công nghệ hiện đại, công nghệ mới giúp công ty tăng khả năng cạnh tranh.

Bước thứ bảy là hành vi của một người sẻ ảnh hưởng lên người khác. Sự thành công của một người luôn tạo ra sự ganh tị cho người khác. Trong khi đó thất bại lại gây ra sự than phiền từ người khác cho hành vi của mình. Thường một người có tài sẻ leo dân lên nấc thang của sự thành công, ngược lại những người không có khả năng sẻ bị khựng lại cho ví trí của mình. Quá trình này tạo ra sự hoàn thiện của quá trình sản xuất vì mọi người nhận ra sự cải tiến, sang tạo được nhận phần thưởng là chức vụ cao hơn, lương cao hơn. Sự công bằng và tự do cho đóng góp và khen thưởng sẻ giúp sự hòa hợp tồn tại và phát triển ổn định trong doanh nghiệp.

Bước thứ tám là Khi doanh nghiệp đả tạo ra chổ đứng trong thị trường, thì doanh nghiệp phải chuyển dần từ việc bắt chước các sản phẩm nước ngoài sang việc tự chế tạo ra sản phẩm do mình nghiên cứu và tạo ra sự tin tưởng và ưa thích của người tiêu dùng. Các quá trình được cải tiến, nâng cấp để tăng chất lượng, hiệu xuất, số lượng của sản phẩm tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Như vậy cuộc sống của mọi thành viên trong doanh nghiệp củng được cải thiện và nâng cấp.

Tám giá trị này được biểu hiện không chỉ ở doanh nghiệp kinh tế, mà còn ở các cơ quan chức năng trong chính phủ. Điều này có thể nhận ra khi chính phủ luôn biết cách hổ trợ doanh nghiệp kinh tế thông qua giúp vốn vay ưu đải, công nghệ cho việc phát triển tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các giao dịch mua các thương hiệu nước ngoài, trên danh nghĩa là do các doanh nghiệp kinh tế Trung Quốc thực hiện, như vốn thu mua do ngân hàng của Trung Quốc cung cấp. Tám giá trị vửa nêu còn gọi là tám trụ cột xã hội mà nền kinh tế của Trung Quốc dựa vào để phát triển trong ba thập niên qua. Nền kinh tế của Việt Nam có thể áp dụng phần nào tám giá trị này cho việc tăng tốc nền kinh tế từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.


Ấn Độ và Giá Trị Quản Lý của Các Doanh Nghiệp Công Nghệ Thông Tin

“Khả năng sử quản lý nguồn nhân sự, tài nguyên, khai thác thị trường là một sự phối hợp không chỉ do trình độ của ban quản lý của một doanh nghiệp, mà nó còn mang giá trị văn hóa của quốc gia đó tác động lên sự thành công trên thị trường trong nước và ngoài nước.”

*****


Cán bộ quản lý củng không quên là có thể học hỏi như thế nào đối với các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc phát triển công nghệ thông tin và mở rộng sang các loại ngành kinh tế khác. Ấn Độ có tỉ lệ dân số rất lớn không tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở, do nhiều nguyên nhân. Như bù lại các thành phố lớn có tỉ lệ lớn sinh viên tốt nghiệp trong các ngành kinh tế, khoa học, nghiện cứu mũi nhọn. Nhờ đó mà nền kinh tế của Ấn Độ có khả năng cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ và công nghiệp này.

Sau đây là một trong các thành công của nền công nghiệp phần mềm mà Ấn Độ làm được trong ba thập niên vừa qua. Đó là sự thành công của công ty Wipro có giá trị thị trường hiện nay là hơn 30 tỉ USD vào tháng 2 năm 2011. Công ty công nghệ thông tin của Ân Đố này đả áp dụng các chiến lược phát triển thần kỳ tạo ra mức doanh thu và giá trị thị trường gân bằng 1/3 GDP của Việt Nam. Như vậy nếu Việt Nam có hai công ty như công ty Wipro thì củng có thể tăng lên giá trị thị trường là 60 tỉ USD.

Các giá trị nào mà công ty Wirpo đả áp dụng thành công? (a) mở rộng thị trường không tạo ra sự bất ổn và xáo trộn, (b) thực hiện các qui luật của xuất khẩu công đoạn, (c) cải tiến và nâng cấp mỗi ngày, (d) luôn quan tâm khách hàng một cách cao độ, (e) khuyến khích nhân viên làm việc theo phương thức của Wipro, (f) chuẩn bị kế hoạch trước ba năm cho tốc độ tăng trưởng nhanh. Wirpo đả chọn chổ đứng cho mình trong việc cung cấp nguồn chất xám giá rẻ thông qua kết nối mạng internet đối với khách hàng trong và ngoài nước. Trong năm 2000, công ty phát hành cổ phiếu đầu tiên tại thị trường New York, khi công ty đạt được mức doanh thu là 500 triệu USD. Năm 2006, giá trị thị trường của công ty là 20 tỉ USD, tạo ra doanh thu là 2.4 tỉ USD. Các công ty phần mềm và công nghệ thông tin của Ấn Độ thường có hai cách thành lập. Thông qua các du học sinh tại các đại học Hoa Kỳ, sau đó họ vào làm việc cho các công ty tại thông lũng Silicon ở California. Khi họ đả tích luỹ đủ kinh nghiệm, củng như tạo ra mối quan hệ làm ăn và uy tính tại thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu, thì họ quay về Ấn Độ thành lập công ty. Người bỏ vốn cho họ có thể là nhà đầu tư Ấn Độ hay Hoa Kỳ. Khi họ thành lập công ty có qui mô nhỏ, rồi phát triển dần thành một công ty quốc tế phục vụ mọi nơi thông qua nối kết mạnh cho các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Ân Độ đào tạo khoảng 120,000 sinh viên thạc sĩ và hơn 3 triệu sinh viên đại học về công nghệ thông tin hằng năm. Mức lương mà họ nhận bằng khoảng 20% mức lương của các nhân viên tại các công ty của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Có nghĩa thị trường chất xám của Ấn Độ tạo ra cơn chảy công việc từ các thị trường mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu theo giá trị so sánh: kết nối internet + chất xám giá rẻ tạo ra cơ hội kiếm tiền và tạo lợi nhuận cao. Các công ty này thuê mướn nhân viên làm việc theo ba ca, tức là họ luôn hoạt động 24 giờ một này, và 365 ngày một năm cho khách hàng trên toàn thế giới không kể sự khác biệt của múi giờ.

Tata Consultancy Services (TCS) là công ty lớn nhất về dịch vụ công nghệ thông tin tại Ấn Độ. Doanh thu của họ là 3 tỉ USD trong năm 2006. Doanh thu của họ trong năm 2010 là khoảng 6.5 tỉ USD, giá trị thị trường là khoảng 46 tỉ USD. Infosys củng là một công ty Ấn Độ có giá thị trường là 38 tỉ USD trong năm 2011, tạo ra doanh thu là 4.6 tỉ USD. Ba công ty công ty tạo ra giá trị thị trường khoảng 110 tỉ USD lớn hơn bằng GDP của Việt Nam. Cả ba công ty tạo ra doanh thu là hơn 15 tỉ USD tạo ra công ăn việc làm cho hơn 420,000 người. Đó là một trong ví dụ cho việc Việt Nam có thể phát triển các doanh nghiệp trong công nghệ thông tin có qui mô hoạt động toàn cầu. Các loại dịch vụ mà cả ba công ty này cung cấp và phục vụ khách hàng toàn cầu luôn cần nguồn cung cấp nhân tài là chất lượng mà các đại học thuộc khoa học công nghệ thông tin có thể cung cấp hằng năm cho ba loại bằng cấp: thạc sĩ, đại học và trung cấp. Mà nòng cốt là đội ngủ giảng dạy có có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp tại các đại học nước ngoài ở Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, và các quốc gia khác. www.infosys.comwww.tcs.comwww.wipro.com là ba websites của ba công ty này có thể cung cấp các loại hình dịch vụ mà Việt Nam có thể phát triển và đầu tư trong các năm sắp tới.

Cho trường hợp của công ty Wipro, cán bộ quản lý của Việt Nam có thể học hỏi các bài học sau.

Bài học thứ nhất là tạo ra khả năng cung cấp dịch vụ cho các công ty bán lẻ, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ khi giá thành cho việc chi phí ở mức thấp. Công ty có thể nhận ra tiềm năng cung cấp dịch vụ toàn cầu khi công ty thành lập bản đồ thị trường của khách hàng, qua đó sẻ chuẩn bị hệ thống kết cấu có khả năng phục vụ khách hàng ở tốc độ cao, ổn định, chất lượng bảo đảm và giá thành hợp lý. Khái niệm công ty ảo là một khái niệm mới lien quan đến sự hổ trợ của hệ thống máy tín có chức năng làm việc giải quyết các sử lý mà khách hàng yêu cầu. Những khó khăn về thời gian, ngôn ngữ, trình độ thao tác, độ chính xác luôn được quan tâm và nâng cấp không ngừng. Khách hàng là các công ty đa quốc gia do đó nhu cầu của họ không phải hạn chế hay rang buộc tại một thị trường, do đó công ty phải có khả năng hoạt động cùng lúc trên nhiều mạng khác nhau, nhằm duy trình khả năng hoạt động lien tục. Sự kết hợp trong các thao tác hay hộ trợ mang tính không biên giới cho các dịch vụ. Nhân viên có thể làm việc trong một nhóm, dù họ sống hay di chuyển tại nhiều thanh phố khác nhau, nhờ cầu nối internet toàn cầu, và bảo mật của mạnh giải mã cho các thông tin mật. Sự cải tiến là giá trị sống còn, vì các công ty đối thủ sẻ vượt qua khi công ty nhà không có biện pháp cải tiến và hoàn thiện. Sự sống của công ty nó giống như nguồn khí mà nhân viên hít thở hằng ngày, do đó tinh thần cải tiến và sang tạo luôn đi đôi với nhịp sống của mọi thành viên. Thành công là ý trí mà mọi thành viên luôn ghi nhớ và thực hiện. Nó như là khẩu hiệu, mục tiêu lâu dài cho từng cá nhân cống hiến cho công ty.

Bài học thứ hai là áp dụng các bài học chuyển tiếp cho lợi nhuận. Khai thác triệt để từng lợi nhuận dù nhỏ hay lớn để phát triển công ty. Giải thích bằng cái ví dụ giúp nhân viên áp dụng và thực hiện dể dàng. Tận dụng từng loại hình kinh doanh và áp dụng tất cả sang kiến cho việc cải thiện khả năng quản lý trong từng loại hình kinh doanh, vì khách hàng có thể hoạt động bất cứ lỉnh vực nào. Nhận ra khái niệm biến công ty thành trung tâm sang tạo và cung cấp dịch vụ toàn cần với các giá trị cạnh tranh cao nhất. Khi điều kiện cho phép, công ty sẻ tận dụng tốc độ phát triển ở mức cao nhất, nhưng đồng thời củng sẻ chuyển dần sang các loại hình kinh doanh khách nhau cho lợi nhuận được phân bổ trên nhiều loại hình kinh doanh. Nhất là khi thị trường phát triển cho các nhu cầu mới. Mục tiêu mà doanh nghiệp nên chọn ra có giá trị rỏ rệt như là giá trị thị trường của công ty, doanh thu của công ty từng năm hay kế hoạch 2 năm hay 3 năm trong tương lai. Như vậy kích thích sự phấn đấu mà nhân viên có thể đóng góp cho công ty. Khi công ty cần mở rộng thị trường, thì nên chọn giải pháp là phát hành cổ phiếu để gia tăng vốn cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Đồng thời thuê mướn nhân viên có chuyên môn cao, tay nghề, long nhiệt tình cho việc sang tạo ra các loại dịch vụ và sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của thị trường. Sáng kiến mới là nguồn động lực tiếp sức cho công ty hoạt động hiệu quả và lớn mạnh hơn. Ban lãnh đạo công ty sẻ chọn ra lý tưởng hay triết là cho công ty, mà nó được dùng như kim chỉ nam cho toàn thể nhân viên của công ty thực hiện.

Bài học thứ ba là thực hiện chiến lược để dẩn đầu một lúc tại nhiều thị trường. Sự mở rộng thị trường không có nghĩa là giảm đi sự tập trung mà doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả. Sự hoạt động hiệu quả sẻ do khả năng quản lý các nhóm hoạt động trong từng loại hình kinh doanh, như họ vẩn có thể hộ trợ cho nhau. Như vậy doanh nghiệp tận dụng hết tiềm năng và năng lực của mọi nhân viên cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng không nên phân tán ra quá nhiều tài nguyên của doanh nghiệp mà rủi ro củng có thể gây ra sự thất thu. Sự phức tạp của việc kinh doanh trong nhiều thị trường củng là một tính cách hữu ích cho doanh nghiệp, như là sự thử thách vượt qua các đối thủ khác. Khi đối diện với khó khăn, thì doanh nghiệp sẻ phân tích và rút ra các giá trị cụ thể liên quan đến ngành kinh tế dịch vụ của mình. Nó mang giá trị thiết thực, cụ thể để doanh nghiệp có thể thực hiện hiệu quả và có lợi nhuận cao hơn.

Bài học thứ tư là biết cách phát triển doanh nghiệp khi doanh nghiệp tạo ra kích thích và làm chủ tình hình trong từng loại hình kinh doanh. Nhất là từng loại thị trường kinh doanh khác nhau tạo thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Khi thâm nhập vào một thị trường mới, doanh nghiệp luôn phát triển hết khả năng nhằm gia tăng thị trường, củng nhưng chiếm lĩnh nhóm dẩn đầu trong thị trường đó. Đồng thời, doanh nghiệp củng sẻ chọn ra nhiều gói đầu tư để tấn công vào một thị trường tạo ra hiệu quả của sự thành công lớn hơn. Rút ngắn các thiếu sót mà khả năng doanh nghiệp đang gặp phải, đển nâng cấp khả năng cho sự hài lòng từ khách hàng. Đối với từng loại thị trường, doanh nghiệp có thể đi lên trong top đầu để tái khẳn định các qui tắc cạnh tranh mới nhằm qua mặt các công ty đối thủ khác. Khi muốn thu mua các công ty khác, doanh nghiệp sẻ đặc ra mục tiêu mở rộng tiềm năng rộng hơn tại thị trường. Giống như thành lập cả một mắt xích có đủ tiềm năng trong từng loại ngành kinh doanh khác nhau, nhưng lại có tiềm năng hổ trợ hài hòa bên trong doanh nghiệp.

Bài học thứ năm là biến doanh nghiệp của mình thành một thương hiệu có giá trị bằng việc áp dụng các qui tắc đạo đức, thái độ làm việc ở mức cao nhất. Hay gọi là nghiêm khắc nhất. Mọi nhân viên sẻ nhận ra họ phải làm điều đúng khi họ muốn hoàn thành công việc được giao. Chuyển dần các giá trị của công ty vào trong cuộc sống của nhân viên. Luôn khẳn định một điều là giá trị không đứng yên một chổ, mà nó phải biến đổi cho sự cải thiện và nâng cấp. Sự đồng bộ mà nhân viên có thể làm việc hiệu quả là khi các giá trị được gắn liền vào trong hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thành công, luôn tạo ra các khái niệm đóng góp cho xã hội qua nhiều hình thức khác nhau.

Bài học thứ sáu là giáo dục nhân viên mới thuê tuyển và hổ trợ họ suốt quá trình làm việc với các chương trình huấn luyện nâng cao nghiệp vụ. Có thể gọi là chuyển biến giá trị chất xám vào từng nhân viên làm việc cho công ty. Như vậy giúp công ty gia tăng hiệu quả và các mục tiêu kinh doanh lâu dài. Luôn tạo ra khoảng không gian tạo cho mọi nhân viên cảm giác họ phải vận động cho sự sang tạo không ngừng. Sự tuyển chọn nhân viên cho các vị trí cần thiết mà công ty muốn thuê tuyển. Tuỳ theo chức năng, mà tốc độ tuyển dụng nhân sự có sự thay đổi khác nhau nhằm đảm bảo chất lượng của nhân viên tuyển lựa nhân viên mới. Khi đả thuê mướn, các nhân viên luôn được tham gia các khóa đào tạo cho việc hấp thụ tinh túy là các giá trị mà công ty đả thành công và gây dựng nên. Nhân tài luôn được nuôi dưỡng và nâng cao cho từng vị trí phù hợp. Khi phát triển ở qui mô toàn cầu, sự chọn lựa nhân tuyển cho cán bộ lãnh đạo luôn được chuẩn bị trước khi cần sẻ thay thế vị trí của người lãnh đạo của công ty. Mọi nhân viên luôn có thái độ làm việc là tự nâng cao trình độ và cải thiện nghiệp vụ của mình.

Bài học thứ bảy là gợi ra các câu hỏi và phê bình từ nhân viên để giúp doanh nghiệp cùng phát triển. Khái niệm trao đổi thông tin, ý kiến, các giá trị đóng góp được phổ biến mở rộng ra trên toàn bộ các bộ phận của doanh nghiệp tạo cơ hội cho mọi người trao đổi và cải thiện lẩn nhau. Sự đóng góp này có thể tiết kiệm rất nhiều cho doanh về tiền bạc và thời gian. Vì các giá trị mà nhân viên đóng góp tương tư như ý kiến của khách hàng đóng. Do đó doanh nghiệp hạn chế mọi thiệt hại nếu các trường hợp vừa nêu không được khắc phục trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Như vậy có thể làm khách hàng bỏ đi sang các công ty cạnh tranh đối thủ khác. Các câu hỏi luôn được đưa ra từ cấp trên tạo cho nhân viên cấp dưới niềm tin cho các đóng góp của mình. Nếu cán bộ lảnh đạo nghi ngờ một cấn đề gì cho kết quả không như mong muốn, nên đưa ra câu hỏi ngay tức khắc để đón nhận ý kiến của nhân viên có thể giúp cho doanh nghiệp cải thiện hay tìm giải pháp tối ưu hơn. Ngoài ra, đi kèm với câu hỏi còn là các hành động cụ thể để tạo niềm tin và sự kích lệ cho thái độ làm việc và đóng góp của nhân viên. Trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên có một hộp thư góp ý. Như vậy mọi người sẻ dể dàng đóng góp ý kiến nâng cao chất lượng và dịch vụ một cách kính đáo không gây ra hiểu lầm, đố kỵ trong nội bộ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mọi thành viên sẻ có trách nhiệm tự giác tìm ra lổi và các thiếu sót trong từng công đoạn, để góp ý. Có nghĩa nâng cao chất lượng, cải tạo qui trình làm việc cho sự hoàn thiện trước khi khách hàng nhận ra thiếu sót của mình. Đó củng là cách mà doanh nghiệp tự hoàn thiện và tạo ra cách biệt trong cuộc chạy đua với các đối tác trong và ngoài nước.

Bài học thứ tám là khen thưởng nhân viên cho sự đóng góp trước toàn thể mọi thành viên và sự tôn trọng rỏ ràng. Gia tăng thái độ làm việc tích cực, cổ vũ những giá trị đạo đức nghề nghiệp với các phần thưởng sang tạo. Sự vui mừng hay cùng nhau tận hưởng các chiến thắng của doanh nghiệp củng tạo ra luồn sức mạnh cho mọi người, và đồng thời nhắc nhở thái độ làm việc nghiêm túc của họ sau này. Thưởng nhân viên với các giá trị cụ thể như tiền thưởng, tăng lương, đi nghĩ ở nơi du lịch nổi tiếng, hay các bổng lộc khác. Có thể tặng nhân viên xuất sắc một số cổ phiếu của doanh nghiệp để gắn liền tương lai của nhân viên với sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

Bài học thứ chính là áp dụng các giá trị so sánh phân tích nhằm hạn chế các tiêu xài không cần thiết cho cán bộ cao cấp hay đầu ngành các bộ phận. Do đó sẻ tiết kiệm tối đa các chi phí, nếu nhận thấy nó không cần thiết, củng như tạo ra lợi nhuận cho công ty. Doanh nghiệp sẻ tính toán giảm đi các chi phí trung gian khi thực hiện các giao dịch hay mua bán. Tiền hoa hồng của nhân viên trong việc tham gia các giao dịch như vậy sẻ được tính toán cho sự hợp lý tính theo số người tham gia. Khi nhận ra nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới có thể tiết kiệm từ mức tiêu thụ giấy, mực in, giấy vệ sinh, nước uống, hay các chi phí lặc vặc trong hoạt động văn phòng, thì số lượng lớn sẻ giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều. Củng như việc sử dụng điện và các thiết bị không cần thiết cho mục tiêu kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có số lượng đi lại lớn cho nhân viên giữa các văn phòng trên thế giới hay trong một quốc gia, thì sự tính toán chi phí cho việc đi lại này củng sẻ giúp tiết kiệm nhiều cho doanh nghiệp. Khi thiết kế xây dựng văn phòng, hảng xưởng, người quản lý sẻ tính đến việc rút ngắn thời gian di chuyển của nhân viên từ bộ phận này sang bộ phận khác, hay các dây chuyển gia công sản xuất có thể đảm bảo chất lượng, số lượng. Nhân viên sẻ làm việc trong môi trường có không gian và sự bố trí nhân sự và các bộ phận chức năng hợp lý cho cả việc trao đổi thông tin và di chuyển hằng ngày. Như việc thiết kế nhà vệ sinh và phòng ăn, tiện cho nhân viên có thời gian di chuyển ngắn nhất. Sự tiết kiệm sẻ đi kèm theo sự tích luỷ của ngân sách. Có nghĩa chi phí tiết kiệm được sẻ được dùng vào các dự án khác có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa bỏ qua quá trình tăng giá trị của doanh nghiệp. Mọi hành vi tiết kiệm luôn đảm bảo là chất lượng của công việc luôn phải được đảm bảo và gia tăng không ngừng. Khi cần thiết thì doanh nghiệp vẩn phải chi phí cho các hoạt động cần thiết tạo ra lợi nhuận, hay hổ trợ cho các hoạt động tạo ra lợi nhuận.

Bài học thứ mười là xây dựng nền tảng của doanh nghiệp bằng việc gìn giử các nhân tài và chuyên gia có kinh nghiệm trong công việc. Họ là nòng cốt duy trì sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Nhưng đồng thời gia tăng giá trị sáng tạo bằng cách tiếp nhận nguồn nhân lực mới từ bên ngoài. Nhân viên luôn hiểu hết giá trị lịch sử mà doanh nghiệp hình thành, phát triển, mở rộng thị trường như là niềm tự hào của mọi thành viên. Bên cạnh đó hạn chế các hành vi chia nhóm hay phân rẻ trong nội bộ doanh nghiệp tạo ra sự đình trệ và thiệt hại cho sự phát triển mang tính sáng tạo của mọi người. Nếu từng nhóm làm việc mang giá trị quan hệ như gia đình tạo ra sức mạnh phát triển của nhóm và củ cả doanh nghiệp. Hoán chuyển vị trí làm việc nhằm đổi mới và gia tăng khả năng điều hành của các giám đốc của từng bộ phận. Tạo ra giá trị lảnh đạo trong từng hơi thở của các thành viên. Bên cạnh đó củng tạo ra khái niệm khi nào thì nên theo nội qui, khi nào thì có thể linh động sử lý công việc.

Bài học thứ mười một là xây dựng dựa trên các giá trị căn bản của cạnh tranh và ưu việt. Khả năng mà doanh nghiệp có thể làm được là biết đánh giá mọi hoạt động một cách nhanh chónh. Có thể nói những con số luôn vận động và làm việc trong đầu của mọi người. So sánh với cái tốt nhất hiện có trên thị trường để cố gắn vươn lên vượt qua giá trị đó. Luôn gắn liền các giá trị chiến lược theo từng hành vi làm việc hằng ngày. Mổi nhân viên có thể tự đánh giá về mình trong công việc và đánh giá đồng nghiệp trong công việc để cùng nhau tiến bộ. Giám đốc hay trưởng nhóm luôn biết được thuộc cấp của mình nghĩ gì và làm sao để mọi người đánh giá khả năng làm việc của mình. Nếu chỉ thị cấp dưới, người lảnh đạo luôn dùng các minh họa chi tiết để hạn chế hiểu làm tạo ra sai sót gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Bài học thứ mười hai là lên kế hoạch trước ba năm cho sự tăng trưởng vượt bậc. Quan niệm những gì là quá trình chuyển biến cho giá trị chính và chiến lược của doanh nghiệp. Đề ra các mục tiêu cụ thể để khẳn định các chiến lược rỏ ràng. Trong việc thực hiện chiến lược luôn gắn liền việc phân tích từng bước. Khi nhận ra nhân viên có sáng kiến hay, nên giao cho họ tham gia vào việc hoạch định chính sách kế hoạch lâu dài.

Bài học thứ mười ba là sáng tạo sản phẩm mới, dịch vụ mới mỗi ngày. Có thể từ các chi tiết hay hoạt động nhỏ nào củng liên quan đến các giá trị lớn hơn cho sang kiến được đóng góp. Nâng cao cải tiến công nghệ là bước quan trọng. Sự gia tăng khả năng xử lý vấn đề củng mang giá trị sáng tạo và cải tiến. Tốc độ hoạt động của các khâu làm việc củng nằm trong quá trình sáng tạo và cải tiến. Thành lập trung tâm cho hoạt động cải tiến ở mức tuyệt đối như là nơi để mọi thành viên có thể học hỏi và nâng cao khả năng của mình. Sáng kiến và cải tiến luôn thông qua các chương trình khởi xướng do cấp trên đề ra. Sự cải tiến về số lượng và chất lượng luôn đi kèm với nhau trong từng bộ phận của doanh nghiệp. Khi tiếp nhậ ý kiến từ bên ngoài, doanh nghiệp sẻ chuyển đổi thành ý kiến mới mang nét riêng của doanh nghiệp. Luôn tạo ra tinh thần học hỏi từ các chuyển gia hy bậc thầy bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp. Sự kiệm thời xử lý các công đoạn hay áp dụng sự chính xác và làm việc có tốc độ cao, củng như hoàn thành công việc theo chu kỳ thời gian.

Bài học thứ mười bốn là luôn gắng liền mối quan tâm đối với khách hàng khi họ cần các dịch vụ vào bất cứ thời điểm nào. Các giá trị phục vụ cho nhu cầu của khách hàng luôn được quan tâm và thực hiện cho dù là thiên tai hay các sự cố ngoài ý muốn xảy ra, thì doanh nghiệp vẩn tiềm giải pháp thỏa mản nhu cầu của khách hàng. Tạo ra sự quan tâm từ khách hàng đối với nền tản hay giá trị của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp vẩn phải chọn các phương pháp cụ thể biến sự thất bại thành thành công với sự đóng góp của toàn thể nhân viên. Khi chọn một khách hàng khó tính nào hay có giá trị tiềm năng toàn cầu, phục vụ họ với các giá trị sang tạo vượt ngoài khả năng sẻ là phương thức quảng cáo cho giá trị của doanh nghiệp. Sự thành công này chính là chìa khóa để đón nhận khách hàng mới từ thị trường trong và ngoài nước. Trong quá trình phục vụ khách hàng, doanh nghiệp còn có khả năng tiếp xúc và giáo dục khách hàng cho các việc sự dụng sản phẩm, dịch vụ có lợi nhất cho họ. Đó củng là cách tạo ra niềm tin từ khách hàng khi thể hiện tính cách chuyên nghiệp cao của doanh nghiệp.

Bài học thứ mười lăm là áp dụng quản lý nhịp độ cao để tăng khả năng hoàn thành công việc và chỉ tiêu. Có nghĩa tạo ra tốc độ làm việc cao hơn mức bình thường, như vậy giúp nhân viên hoàn thành công việc sớm hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, gia tăng lợi nhuận. Ngay cả khi đả đạt vị trí là nhà cung cấp toàn cầu có doanh thu hàng tỉ USD, thì doanh nghiệp vẩn phải doanh nghiệp phải tiếp tục  bố trí nhân sự cho các vị trí then chốt cho các nhân tuyển có khả năng tiếp tục phát triển doanh nghiệp hiệu quả hơn. Người lảnh đạo luôn linh động trong việc quản lý và thực hiện các chính sách cho doanh nghiệp. Sự linh động này mang giá trị phù hợp theo thị trường và đối thủ cạnh tranh. Đồng thời biết điều chỉnh và tổ chức các bộ phận làm việc với nhau cho mục tiêu đạt được tốc độ của sang tạo, cải tiến phục vụ khách hàng. Sự nhảy vọt cho giá trị tạo ra sản phẩm của doanh như là mục tiêu vượt mặt các đối thủ trong thị trường.

Bài học thứ mườn sáu là áp dụng khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh như là bài học cho tương lai và giới thiệu với khách hàng khác. Doanh nghiệp sẻ phân tích từng loại khách hàng và loại hình kinh doanh của khách hàng có sự liên quan đối với khả năng phục vụ của doanh nghiệp. Đó là các ví dụ cụ thể mà doanh nghiệp dùng phát triển cho các kế hoạch phục vụ khách hàng mới. Khách hàng củng có thể giúp cho doanh nghiệp nâng cao giá trị phục vụ về chuyên môn và các giá trị khác.

Những bài học quản lý kinh doanh và mở rộng thị trường mà các công ty công nghệ thông tin có thể giúp các công ty công nghệ thông tin Việt Nam học hỏi và tạo ra thương hiệu toàn cầu cho mình. Ngôn ngử quốc tế như tiếng Anh, Hoa, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Á Rập là công cụ chính giúp các doanh nghiệp Việt Nam phục vụ khách hàng khắp nơn trên thế giới. Các bài học từ các công ty Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ giúp cho doanh nghiệp trong nước mở rộng dần từ lợi nhuận ổn định, rồi phát hành cổ phiếu ra thị trường nước ngoài. Không chỉ huy động vốn nước ngoài, mà còn thu hút khách hàng nước ngoài cho tiềm năng lớn hơn, lợi nhuận cao hơn.