Vietnam's CEOs


Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp luôn có nhiều đóng góp cho việc lèo lái doanh nghiệp từ ngày đầu thành lập đến khi doanh nghiệp có vị trí vững chắc trên thị trường. Nhiều doanh nghiệp có nhà sáng lập [Founder hay Entrepreneur] và củng là nhà quản lý [CEO] trong một thời gian dài. Nhưng củng có doanh nghiệp khi mới thành lập còn qui mô nhỏ, hoạt động đơn ngành, thì nhà sáng lập củng là nhà quản lý. Như khi doanh nghiệp phát triễn lớn hơn, kinh doanh đa ngành, thì nhà sáng lập có thể chuyển thành chủ tịch hội đồng quản trị và chọn nhân tuyển có chuyên môn cao làm nhà quản lý (CEO). Trong cả hai trường hợp đều do hội đồng quản trị quyết định dựa trên thành tích kinh doanh, lợi nhuận thu vào, sự thành công và cơ hội phát triễn trong việc hoạch định chính sách kinh doanh mới. Vì nếu một sai lầm của một kế hoạch sẻ dẩn tới hậu quả là bị giam vốn, ngăn cản sự hoạt động hiệu quả của các loại hình kinh doanh khác, tạo ra điểm dừng cho các đối thủ vượt qua. Mà thực tế có thể nhận ra tại thị trường quốc tế như công ty Sony, Nokia, Blackberry, Hewlett Packard, Dell, General Motor, Yahoo. Các công ty này đả bỏ qua nhiều cơ hội thành công trong vị trí dẫn đầu thị trường toàn cầu.

Với vai trò là nhà lãnh đạo của mội doanh nghiệp, thì Vietnam CEO sẻ làm gì trong hoàn cảnh hiện tại?

Giãi Pháp

Khi số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản trong năm 2012 trung bình là hơn 5000 đơn vị cho một tháng, có lẻ nên làm con số tinh nhẩm là:
  1. Có số lượng lớn nhân viên bị thất nghiệp
  2. Chủ doanh nghiệp hay cổ đông bị mất vốn, công sức bỏ ra trong thời qua – từ khi doanh nghiệp hình thành đến lúc đóng cửa
  3. Lảng phí cơ sở vật chất và các thiết bị không còn xử dụng hay phải thanh lý
  4. Tạo ra tâm lý bất ổn trong thị trường
  5. Ngoài ra còn chưa thanh toán nợ tại các ngân hàng
  6. Tạo áp lức lên xã hội khi số nhân viên bị thôi việc phải đi tìm công việc mới
  7. Chính phủ phải can thiệp trong một khả năng nào đó – giảm thuế, giảm lải xuất cho vay vốn
Đâu là giãi pháp lâu dài cho các doanh nghiệp tại Việt Nam?

Nếu mỗi doanh nghiệp chọn cho mình một chổ đứng tốt ngay từ đầu thì số doanh nghiệp bị phá sản sẻ ở mức thấp hơn là con số 5000 đơn vị trong một tháng trong năm 2012.


Đối Tác
Khi một doanh nghiệp muốn gia tăng khả năng vận hành trong một thì trường có mức độ cạnh tranh cao, doanh nghiệp đó cần các đối tác khác nhau. Các đối tác này có thể giúp vốn, công nghệ, tư vấn chuyên môn, phân phối sản phẩm, quảng cáo hay trợ giúp trên một khía cạnh nào đó. Điều tất nhiên xảy ra là doanh nghiệp phải chia lợi nhuận cho các đối tác của mình theo tỉ lệ thõa thuận hay theo tỉ lệ đầu tư.

Khi xét về lâu dài, một doanh nghiệp cần có nhiều đối tác, vì nó sẻ tạo thêm sức mạnh cho doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh khác nhau. Nếu doanh nghiệp sợ đối tác thâu tóm doanh nghiệp của mình, thì củng có nhiều biện pháp để ngăn ngừa chuyện đó xảy ra.

Đối tác củng là một doanh nghiệp hoạt động tại thị trường trong nước hay nước ngoài. Họ có tiềm năng trên các lĩnh vực khác nhau. Do đó khi doanh nghiệp thiết lập đối tác, họ sẻ mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của mình theo mối quan hệ thị trường tương tác. Ngân hàng củng thường là đối tác trong các doanh nghiệp khác nhau, vì ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho các doanh nghiệp kinh tế.
Chiến Lược
Khi kinh doanh, nhà quản lý hay chủ doanh nghiệp luôn áp dụng các khái niệm cơ bản sau:
  1. Lợi nhuận ngắn hạn dùng chi trả cho các hoạt động kinh doanh
  2. Lợi nhuận trung hạn dùng chi trả các chi phí có qui mộ hoạt động dài hơn là ngắn hạn
  3. Lợi nhuận dài hạn dùng cho việc nâng cấp công nghệ, mở rộng thị trường và các dự án mang tính lâu dài
Tiếp theo là các chiến lược kinh doanh, quản lý, đầu tư, hợp tác, phát triển sản phẩm dự trên sự phân tích thị trường trong và ngoài nước, sự thay đổi các chính sách của chính phủ. Khi cạnh tranh trong cùng một thị trường các công ty phải chọn chiến lược kinh doanh của họ nhằm khái thác các giá trị sau:
  1. Tận dụng vốn vay lải xuất thấp để giảm chi phí
  2. Dùng nguyên tắc đầu tư chéo – sở hữu cổ phiếu của các công ty cung ứng – để giảm giá thành trên linh kiện, vật liệu của các công ty này cung cấp cho mình
  3. Khai thác giá trị chuyển nhượng cho các hợp đồng sang tay mà không tốn chi phi kinh doanh nào
  4. Tận dụng các công ty có công nghệ mà không khai thác hết công xuất để gia công hàng cho mình ở chi phí thấp
  5. Đầu tư có rủi ro, nhưng lại chuyên giao rủi ro sang đối tác mới
  6. Khai thác các giá trị quan hệ cá nhân để độc quyền thị trường, hay bán lại các quyền lợi này theo giá thõa thuận
  7. Sản xuất số lượng lớn để giảm chi phí và giảm giá thành cho sản phẩm
  8. Bán giá rẻ hơn giá vốn đễ ép doanh nghiệp khác bỏ cuộc
  9. Liên doanh với doanh nghiệp khác làm nhà phân phối hay thực hiện một phần của dự án
Có nhiều loại quản lý chiến lược tác động đến hiệu xuất làm việc của nhân viên.
  1. Lương
  2. Trợ cấp đi lại
  3. Xử dụng tiện ích do công ty cung cấp – hồ bơi, phòng tập thể dục, khu nghĩ dưỡng, mượn tiền có lải xuất thấp
  4. Nhà do công ty cấp hay tài trợ cho mức thuê thấp
  5. Các chương trình khuyến mãi cho nhân viên của công ty với thẻ khuyến mãi dài hạn
  6. Thời gian hợp đồng cho công việc đảm bảo sự yên tâm của mọi thành viên
  7. Mức lương theo tuổi hay theo khả năng tạo ra sản phẩm và các giá trị đóng góp khác
Quản Lý
Quản lý là các hoạt động, quyết định mang tính chuyên môn cao, thông qua sự phân tích, nhận xét, và chọn lựa cho mục tiêu kinh doanh. Quản lý doanh nghiệp, kinh doanh, đầu tư luôn đi với các giá trị và khái niệm sau:
  1. Hiệu quả
  2. Hiệu xuất
  3. Năng xuất
  4. Công xuất
  5. Lợi nhuận
  6. Sáng tạo
  7.  Cải tiến
  8. Hoàn thiện
  9. Phát triển
Hiệu quả là các bộ phận chức năng làm việc có thành tích hay tạo ra kết quả cao hơn so với công sức, chi phí, công nghệ, chiến lược kinh doanh đả thực hiện so với các dự án trước đó. Hiệu xuất khi so sánh giá trị hiệu quả giữa hại giai đoạn cho thấy có sự gia tăng, cải thiện hay phát triễn. Năng xuất là giá trị của nhân viên hay máy móc tạo ra theo đơn vị là giờ hay trên giá trị vốn hoạt động kinh doanh. Công xuất là khả năng cung cấp sản phẩm dịch vụ ở mức 100% hay ít hơn. Lợi nhuận có thể hiểu theo các giá trị doanh thu sau khi khấu trừ các loại chi phí, thuế và tiền lời. Sáng tạo là sự mới được đóng góp của nhân viên nhằm gia tăng giá trị của sản phẩm, hay cải thiện quá trình làm việc. Cải tiến là quá trình nâng cấp, biến đổi của sản phẩm và dịch vụ làm cho nó tốt đẹp mang nhiều tính ưu việc hơn. Hoàn thiện là giảm đi các thao tác lổi hay giảm các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất. Phát triển là tìm ra các giá trị mới, nguyên tắc mới, công thức mới trong việc tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới.

Nếu doanh nghiệp tạo ra môi trường làm việc tác động tốt đến mọi thành viên, thì họ sẻ thực hiện được 9 tác nhân vừa nêu trên. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lợi, cải thiện, cạnh tranh tố, qui mô kinh doanh đang trên đà tăng trưởng, khả năng mở rộng thi trường trong tầm tay.
Khách Hàng

Thị trường hoạt động do các mối quan hệ cung cầu giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Khi xã hội phát triễn lên mức độ cao, thì người tiêu dùng củng có trình độ chuyên môn cao chọn các quyết định mua sắm của họ. Sự cạnh tranh trên thị trường mang giá trị tích cực khi người tiêu dùng tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm và dịch vụ. Khách hàng củng là người tiêu dùng.

Doanh nghiệp muốn bán ra nhiều sản phẩm cho khách hàng, thì điều trước tiên là doanh nghiệp phải hiểu khách hàng muốn gì, khả năng thanh toán ra sau, yêu cầu thời gian xử dụng của sản phẩm bao lâu, màu sắc, tính năng của sản phẩm, các giá trị tiện ích khác, dịch vụ sau khi mua bán, bảo hành và bảo trì sản phẩm. Khi một xe hơi bán ra với giá từ 15.000 USD đến 100.000 USD, nhà sản xuất phải có chính sách bảo hành sản phẩm trong vòng 2 năm hay 5 năm, hay tính trên ki-lo-met chạy của xe, như vậy tạo ra sự tin tưởng và an tâm cho người mua xe.

Mối quan hệ với khách hàng không còn hạn chế trong thời điểm là tiếp cận họ, rồi bán hàng cho họ là xong. Doanh nghiệp phải tạo ra uy tín, tạo ra mối quan hệ lâu dài với khách hàng của mình. Khách hàng không phải chỉ có mua một lần, mà còn quay trở lại mua hàng và dịch vụ của doanh nghiệp. Khái niệm khách hàng là thượng đế củng giải thích các lý do và giá trị mà doanh nghiệp luôn nghiêm túc tạo ra hay phát triển trong mối quan hệ với khách hàng.

Bên cạnh đó tiềm năng mua sắm và đầu tư của khách hàng củng khác nhau. Thu nhập của họ, trình độ học vấn, công việc, gia đình, giới tính, thói quen luôn là các giá trị quyết định đến sức mua của khách hàng. Ngoài ra một doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng với nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau. Như vậy mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp luôn mang giá trị lâu dài và tích cực. Doanh nghiệp luôn tôn trọng khách hàng vì khách hàng còn có thể đóng góp các ý kiến hữu ích, giá trị trong việc cải thiện, nâng cấp các quá trình sản xuất, kinh doanh. Tặng quà cho khách hàng, tạo mối quan hệ gần gủi, thân thiết hơn là điều mà doanh nghiệp cần làm.

Ngoài phong cách phục vụ mà nhân viên tạo ra, khách hàng còn luôn quan tâm đến các giá trì mà  họ có thể nhận được mà các nơi khác không có. Có nghĩa nếu hai nhà hàng bán cùng một loại món ăn và giá tiền nhưng nhau, thì khách hàng sẻ chọn các giá trị sau – không gian, trang trí, thái độ phục vụ, vệ sinh, cách trình bày, và điều kiện ưu đãi nào đó. Như vậy hai nhà hàng sẻ cạnh tranh theo các giá trị vừa nêu.

Ngoài ra danh sách của khách hàng luôn được quan tâm theo mức chi tiêu của họ. Có nghĩa sẻ áp dụng giảm giá khi mức chi tiêu của họ cao. Hay tặng quà cho khách hàng nhân ngày sinh nhật, lễ lạc trong năm. Đồng thời gửi thư mời cho khách hàng đến dự các dịp khai trương hay tiệc chiêu đãi khách hàng, hay chương trình quà thưởng, gây quĩ từ thiện.

Doanh Thu

Khi doanh nghiệp tạo ra sản phẫm, dịch vụ phục vụ thị trường, mục tiêu là gia tăng doanh thu thông qua số lượng bán ra, giá thành sản phẩm hay dịch vụ. Nếu là thị trường phục vụ người tiêu dùng có thu nhập thấp, thì doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận thông qua số lượng bán ra với mức tiền lời nhỏ cho từng đơn vị hay dịch vụ bán ra. Vì như vậy người tiêu dùng có thu nhập thấp mới mua được. Nếu doanh nghiệp nhắm vào người tiêu dùng có mức thu nhập trung bình, thì giá thành và số lượng củng tương quan đến lợi nhuận theo chu kỳ sử dụng sản phẩm và dịch vụ.

Nếu người tiêu dùng thu nhập thấp muốn sản phẩm có thể sử dụng là 3 năm hay 5 năm, thì chu kỷ tạo ra sản phẩm mới cho người tiêu dùng thu nhập thấp sẻ nằm trong khoảng 2 năm đến 4 năm. Như vậy doanh nghiệp sẻ khuyến mãi sản phẩm củ và phát hành sản phẩm mới trong mỗi chu kỳ sản xuất và phát triễn sản phẫm cho phù hợp. Còn nếu người có thu nhập trung bình và cao thì nhu cầu thay đổi sản phẫm mang tính thời trang, tính năng nhiều hơn. Do đó họ sẻ tạo ra nhu cầu mới trong một chu kỳ ngắn hơn là từ 6 tháng đến 24 tháng. Trừ các sản phẩm cao cấp mang giá trị cao sẻ có chu kỳ dài hơn như xe hơi có giá từ 100,000 USD đến 1 triệu USD. Ngoài ra, người tiêu dùng sẻ có quyết định mang tính trao đổi hay hy sinh theo nghĩa nếu họ chi tiêu vào sản phẫm A, thì họ sẻ giảm chi tiêu vào sản phẫm B. Có nghĩa nếu thu nhập của họ là 5 triệu một tháng, thì họ sẻ có khả năng chi tiêu cao nhất là 5 triệu hay ít hơn 5 triệu, vì họ còn tiết kiệm tiền cho các mục đích tài chính khác. Do đó nếu họ mua một sản phẩm có giá là 2 triệu trong tháng đó, thì khả năng họ sẻ mua các sản phẩm khác trong tháng đó chỉ còn lại ít hơn là 3 triệu. Không tính trường hợp mua trước, trả sau. Như vậy nhà doanh nghiệp phải tính toán làm sao cho việc tạo ra các chương trình khuyến mãi, giãm giá có hiệu quả, củng như phân tích thói quen của người tiêu dùng, nhờ đó mới hy vọng đạt được mức doanh thu như mọng đợi.

Nếu doanh nghiệp có nhiều dòng sản phẩm, dịch vụ hay kinh doanh đa ngành thì các bộ phận sẻ làm việc với nhau thông qua gói khuyến mãi liên đới giữa nhiều sản phẫm. Như vậy khách hàng sẻ chọn lựa việc mua có giãm giá khi mua trọn gói hay mua riêng từng sản phẫm khác nhau. Bên cạnh đó, doanh nghiệp củng có thể liên kết với doanh nghiệp khác tạo ra chương trình giãm giá theo gói sản phẫm bao gồm sự kết hợp của nhiều sản phẫm mà các đối tác có thể cung cấp cho khách hàng. Nói một cách đơn giản là khách hàng sẻ có lợi khi mua nhiều sản phẩm cùng một lúc. Ví dụ mua nhà mới đi kèm hệ thống xem phim, nghe nhạc, máy vi tính, bếp, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ. Như vậy bán một căn hộ, căn nhà sẻ bán luôn các thiết bị phục vụ người chủ nhận của căn nhà đó. Các doanh nghiệp này sẻ cùng hợp tác để định ra giá trị khuyến mãi khi cùng bán một lúc các sản phẫm của mình cho một khách hàng.

Doanh thu có thể tạo ra khi bán sản phẩm chưa giao hay sẻ giao trong tương lai. Khi khách hàng đang ký mua sản phẩm hay dịch vụ trước trong hợp đồng là 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng tạo ra nguồn doanh thu ổn định cho doanh nghiệp trong khoảng thời gian dự trù này. Ngoài ra doanh nghiệp vẫn phải tiếp tực tiếp thị để thu hút khách hàng mới thông qua nhiều hình thức quảng cáo, khuyến mãi và phục vụ khách hàng mang tính chuyên môn cao. Doanh thu có thể định ra theo mức cố định và mức thay đổi do cách thức bán sản phẫm, dịch vụ và qui mô phát triễn sản phẫm và dịch vụ mới trong tương lai.