E-book of Management


Khi quản lý doanh nghiệp, hay chọn phương thức đầu tư và kinh doanh, lãnh đạo doanh nghiệp luôn cảm nhận các giá trị quản lý sẻ có nhiều điểm giống nhau, như sự thành công lệ thuộc vào yếu tố con người – (1) Mối quan hệ cá nhân, (7) Sự quyết định do cá nhân chọn lựa, (3) Thời gian, địa điễm của một kế hoạch hay dự án được thực hiện, (3) Các lợi thế mà cá nhân mang giá trị cơ hội tạo ra. Ba mối quan hệ và giá trị xuất phát từ một cá nhân hay các thành viên trong nhóm lãnh đạo của doanh nghiệp sẻ quyết định thành công cùng với các phương thức quản lý doanh nghiệp tạo ra. Bên cạnh đó có nhiêu thành công mang tính may mắn khi không ai làm dự án đó khi thị trường còn trong tình trạng mới phát triễn. Còn khi thị trường đả bão hòa, thì sự thành công đòi hỏi các yếu tố mang tính trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhiều hơn. Hay thường gọi là giá trị gia tăng. Nó không phải tiếp thị với khách hàng là hàng hóa của doanh nghiệp rẻ, mà tiếp thị với quan niệm không có ai cung cấp sản phẩm có chất lượng và tính năng như sản phẩm của doanh nghiệp mình làm ra. Khái niệm này thường đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư dài hạn theo nghĩa sản phẩm mới luôn tạo ra sự tò mò hay háo hức từ người tiêu thụ. Ví dụ các sản phẩm của Appel là iPod, iPhone, iPad. Nếu là thực phẩm thì giá trị gia tăng mang tính sức khỏe, vệ sinh, tạo thuận lợi về một hoạt động nào đó trong cuộc sống – tập trung học tập, mau lớn, bổ da, bổ tóc, bổ mắt, bổ nảo, bổ xương. Nếu là sản phẩm may mặc sẻ liên quan đến sự thoải mái, vải không thấm nước, giặc mau khô, không hút bụt, có nguyên liệu từ thiên nhiện không gây ô nhiễm môi trường. Sự sáng tạo luôn đi kèm trong việc nghiên cứu mà doanh nghiệp đả đầu tư trong thời gian dài.

Mối quan hệ cá nhân còn thể hiện qua nhóm quản lý hay e-kíp có cùng một lợi ích chung hay lý tưởng chung. Trên thực tế ít có doanh nghiệp nào mà không có mâu thuẩn nội bộ khi có nhiều nhóm quản lý phân chia quyền lực hay mục tiêu lợi ích cho nhóm. Theo các đánh giá như vậy thì từ bên trong nội bộ của một doanh nghiệp đả có sự cạnh tranh về quyền lực và lợi ích mang tính cá nhân của nhóm. Nếu một nhóm làm lãnh đạo theo nhiệm kỳ, thì các nhóm khác luôn có phản ứng làm giảm uy tính của nhóm đang lảnh đạo để chờ cơ hội lên nắm quyền lãnh đạo. Đó là các trường hợp có sự thay đổi về nhân sự trong các vị trí – chủ tịch hội đồng quản trị, tồng giám đốc, trưởng phòng các ban quan trọng cho việc khai thác vốn và phát triển sản phẩm hay dịch vụ. Trong nhiều trường hợp thành viên của hội đồng quản trị nắm giữa hai hay nhiều vị trí quan trọng tại các doanh nghiệp khác nhau. Như vậy có sự mâu thuẩn về quyền lợi giữa các doanh nghiệp này, cho dò có sự sở hữu cổ phiếu chéo giữa các doanh nghiệp.

Quay trở lại khái niềm thành công trong may mắn và thành công mang tính chuyên môn. Sau đây là hai ví dụ thành công mang tính may mắn và chuyên môn. Khi thị trường Việt Nam chưa mở cửa hoàn toàn với thị trường quốc tế, một số nhà kinh doanh nhận ra cơ hội là xuất khẩu gổ, khai thác thủy sản, sản phẩm nông nghiệp cho việc bán ra nước ngoài thông qua một trung gian tại Hồng Kông, Singapore, Hoa Kỳ, Tây Âu và Đông Âu. Như vậy nhà kinh doanh cần nguồn gổ, nông sản và thủy sản để xuất đi theo hợp đồng miệng hay thỏa thuận với trung gian mối giới. Không đề cập chuyện đóng thuế, mà chỉ nói đến các khâu thu mua và xuất đi từ thị trường Việt Nam. Trong lúc đó rừng là tài sản quốc gia không ai bỏ công ra tưới nước hay bón phân cho cây lớn lên, chỉ cần có mối quan hệ để khai thác gổ và xuất đi nước ngoài. Như vậy lợi nhuận sẻ cao khi chi phí thấp hơn so với giá thành xuất khẩu. Các tàu đánh bắt cá, tôm, thủy sản không biết nguồn xuất khẩu đi như thế nào, nên họ phải bán ra với giá mà nhà doanh nghiệp đề nghị thu mua, rồi xuất khẩu đi qua trung gian như đả nói. Các sản phẩm nông nghiệp như café, trà, tiêu, gạo củng trải qua các bước thu mua và xuất khẩu một cách tương tự. Như vậy nhà doanh nghiệp nào thực hiện dự án kinh doanh từ cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 đều có mức lợi nhuận cao và mở rộng sang thập niên 2000s và 2010s. Đó là cơ hội và sự may mắn của việc kinh doanh khi thị trường Việt Nam mới chuẩn bị hội nhập thị trường quốc tế.

Ví dụ thứ hai mai tính hội nhập kinh tế toàn cầu. Khi chính phủ bắt đầu thự hiện chính sách đổi mới về kinh tế, sẻ có nhiều hoài nghi không biết nên thực hiện như thế nào cho an toàn và tạo ra lợi nhuận cao. Nếu một doanh nhân biết tạo ra liên doanh với một công ty thuộc nhà nước rồi chuyển biến dần thành một công ty cổ phần hóa, thì sự thành công này có giá trị cơ hội và khả năng quản lý. Vì doanh nghiệp có vốn của nhà nước sẻ có nhiều ưu đải trong việc xin quota xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc, giầy da, thủy sản, nông nghiệp, nguyên liệu, tài nguyên có khả năng xuất khẩu mang tính độc quyền trong giại đoạn giữa thập niên 1990. Trong số doanh nghiệp có vốn của chính phủ sẻ có sự yên tâm khi hoạt động và mở rộng qui mô kinh doanh hơn các doanh nghiệp hoàn toàn thuộc vốn tư nhân. Cùng trong giai đoạn này, liên doanh với nước ngoài củng bắt đầu phát triễn vì chính phủ khuyến khi công ty nước ngoài nên thành lập liên doanh với công ty của Việt Nam. Các công ty gia công các sản phẩm công nghiệp, nguyên liệu, thực phẩm chế biến, nước giải khác, dịch vụ với công ty nước có nhiều thuận lợi hơn. Nhất là khi đó khả năng tiêu thụ trong nước còn thấp, phần đông là sản phẩm làm ra được xuất đi các thị trước khác nhau trên thế giới.

Trong hai vị dụ trên, còn có một số doanh nghiệp hoàn toàn do tư nhận đầu tư và phát triễn do nắm bắt nhu cầu tiêu thụ tại thị trường trong và ngoài nước. Ngân hàng cổ phần, công ty phát triển xây dựng, công ty phát triển du lịch, công ty thương mại, công ty quảng cáo, công ty dịch vụ chuyên môn, công ty vận chuyển, công ty đầu tư đa ngành với vốn của Việt Kiều tại Đông Âu và các quốc gia khác trên thế giới. Ngoài các doanh nghiệp thực sự có sự đóng góp về chuyên môn, vốn và tinh thần sáng tạo, thì thị trường còn tồn tại một loại doanh nghiệp chỉ có giá trị về mặt giấy tờ, còn hoạt động dựa vào nhiều phương thức kiếm lời qua đấu thầu rồi bán lại hay làm trung gian cho hợp đồng kinh doanh khi quyền lợi của một nhóm có thể khai thác thông qua các doanh nghiệp tồn tại trên giấy tờ. Nếu thị trường càng có nhiều loại doanh nghiệp này sẻ tạo ra rào cảng cho việc phát triển kinh tế và kinh doanh hiệu quả. Vì nó làm gia tăng chi phi kinh doanh qua môi giới trước kinh doanh nghiệp kinh doanh thật thụ mua được hợp đồng hay trúng thầu công trình.

Vậy điểm mấu chốt ở đây là thị trường Việt Nam đả hoàn thiện theo từng bước dưới tác động của hệ thống pháp luật và cách các tổ chức hay cơ quan của chính phủ quan lý việc cấp giấy phép cho một doanh nghiệp. Thường tùy theo giá trị kinh doanh mà doanh nghiệp phải ký quỹ bảo chứng cho hoạt động kinh doanh của mình. Tiếp theo là việc xem xéc các giá trị do luật pháp, chính sách mới mà chính phủ ban hành hay sữa đổi trong một thời gian nhất định nào đó. Có nghĩa doanh nghiệp phải lệ thuộc và hệ thống luận pháp hiện hành và các chính sách do chính phủ ban hành để thực hiện các hoạt động kinh doanh cho phù hợp. Nhưng trong đó các hoạt động kinh doanh, quản lý kinh doanh nên mang tính đồng bộ, hệ thống hóa và tương đồng với khu vực kinh tế hay kinh tế toàn cầu nhằm giảm các thiệt hại về hiệu xuất làm việc, lợi nhuận kinh doanh, thời gian thi công, thời gian vận chuyển, phương thức phục vụ khách hàng, các trao đổi thông tin với đối tác và nhà đầu tư. Điều này có thể hiểu theo nghĩa nếu doanh nghiệp có nhiều nhân viên cao cấp đả làm việc tại doanh nghiệp nước ngoài hay công ty nước ngoài, sẻ chị ảnh hưởng của các tư duy làm việc, phát triển kinh doanh, quản lý nhân sự, quản lý theo các tiêu chuẩn quốc tế. Điều đó mang tính đồng bộ khi phần đông các công ty đều áp dụng các thao tác kinh doanh, quản lý dựa trên tính khoa học, cải tiến, ứng dụng, áp dụng công nghệ, giảm các khâu không cần thiết, gia tăng hiệu xuất trong từng công đoan của sản xuất kinh doanh.

Nếu có nhiều lổ hỏng về pháp luận trong kinh doanh hay phương thức kinh doanh còn mang tính cục bộ, thì điều kiện kinh doanh luôn tạo ra hạn chế về qui mô kinh doanh, phương thức kinh doanh và khả năng vận hành từ một doanh nghiệp nhỏ thành một doanh nghiệp lớn hoạt động trên nhiều lảnh vực kinh tế khác nhau. Nói theo khách quan, thì cần có thời gian cho sự chuyển tiếp này từ 5 năm đến 10 năm cho một chu ký nâng cấp và phát triển mang tính pháp lý, chuyên môn hóa, hệ thống hóa cao tại thị trường Việt Nam.

Các khái niệm kế tiếp là hoạt động kinh doanh của công ty Việt Nam nên mang tính đồng bộ, vi tính hóa, kế toàn quốc tế, trình độ thao tác nghiệp vụ ngang với các quốc gia trong khu vực nhằm thao ra môi trường đầu tư nhiều tiềm năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Đó là thử thách tiếp theo. Khi doanh nghiệp vẩn chưa thoát khỏi tâm lý quản lý của giai đoạn 1980 và 1990 thì sẻ có nhiều sự trùng lấp và thất thoát vốn khi họ không chọn cho mình hướng kinh doanh mang tính phát triển dựa qua nhu cầu tiêu thụ tại thị trường trong nước và quốc tế. Điển hình là thị trường địa ốc, đến bay giờ thì các công ty mới chịu giảm giá để phục vụ người có thu nhập từ thấp đến trung. Mà trước đây họ luôn muốn bán gia ra cho người thu nhập cao.

E-Book of Management là cuốn sách nhỏ được biên soạn nhằm phục vụ nhu cầu quản lý của doanh nghiệp tại Việt Nam. Cuốc sách có thể giúp các nhà sáng lập (founder, entrepreneur), lãnh đạo doanh nghiệp (CEO), giám đốc, nhân viên, và sinh viên tham khảo các giá trị khái quát trong lĩnh vực quản lý, kinh doanh, đầu tư, hoạt định chính sách kinh tế tại thị trường Việt Nam.

Phần lớn các doanh nghiệp hay cá nhân có thể chọn giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn bằng ghi danh học tại các trường kinh doanh, kinh tế trong nước hay nước ngoài. Dù chọn giải pháp nào thì việc đầu tư nhân lực này củng cần thời gian, tiền học và nổ lực làm bài và nghiên cứu. Mỗi một cơ sở giảng dạy sẻ chọn nhiều phương pháp khác nhau nhằm thích ứng các giá trị lý thuyết vào trong hoàng cảnh xã hội và nền kinh tế của Việt Nam. Đó củng là một phần thử thách cho các sinh viên hay chuyên gia Việt Nam khi tốt nghiệp tại nước ngoài, và đem kiến thức của mình áp dụng vào vai trò quản lý, đầu tư, kinh doanh, hoạch định chính sách tại Việt Nam. Điều mà ai củng biết là các giảng viên, giáo sư tại đại học nổi tiếng không nhất thiết là họ phải am hiểu hết mọi văn hóa, hoàng cảnh kinh tế chính trị của các quốc gia mà sinh viên của họ sẻ về làm việc. Như vậy sinh viên tự chọn cho mình một giá trị thay đổi trong các phương thức đả được giản dạy tại các đại học nước ngoài, và thay đổi cho phù hợp với hoàng cảnh của Việt Nam.

Cuốn sách được chia ra một số chương trọng tâm sau:

[1] Biến Doanh Nghiệp Thành 5-Star Company
[2] Thị Trường Thế Giới và Nền Kinh Tế Việt Nam
[3] Sự Cạnh Tranh Đem Lại Thành Công              
[4] Các Giá Trị Tích Cực của Thị Trường Tài Chính Năng Động
[5] Kinh Doanh Địa Ốc và Rủi Ro Đầu Tư     
[6] Phát Hành Cổ Phiếu và Khả Năng Huy Đông Vốn
[7] Tín Dụng và Hoàn Thiện Thị Trường Tiêu Thụ
[8] Quản Lý Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Năng Động
[9] Khoa Học Kỷ Thuật Mang Giá Trị Cạnh Tranh
[10] Xây Dựng Môi Trường Làm Việc cho Hiệu Quả Kinh Tế
[11] Khai Thác Các Giá Trị Kinh Tế Trong Hợp Tác Đầu Tư
[12] Kinh Tế Đa Dạng Mang Giá Trị Cạnh Tranh Toàn Cầu
[13] Quản Lý Nhân Sự, Tài Nguyên và Môi Trường Kinh Doanh
[14] Khai Thác Tiềm Năng Cho Doanh Nghiệp
[15] Các Loại Hình kinh Doanh Qua Mạng và Quảng Cáo
[16] Ước Mơ Làm Giàu và Bạn Trẻ


Gi ới Thiệu

“Doanh nghiệp giống nhau khi cùng cần một số tài nguyên – nhân lực, vốn kinh doanh, công nghệ, sản phẩm và dịch vụ chủ đạo và thị trường tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ. Nhưng doanh nghiệp lại khác nhau trong các chính sách, chiến lược tạo ra lợi nhuận, gia tăng thị phần và đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn cao.”

*****

Như vậy doanh nghiệp sẻ chuẩn bị tất cả các khâu cho việc mở rộng và nâng cấp khả năng kinh doanh, quản lý, tạo lợi nhuận trong vòng 20 năm tới. Ngoài ra, một thành viên luôn nhận ra vai trò của mình trong một tập thể của công ty, xí nghiệp, cơ quan. Do đó, mỗi cá nhân sẻ luôn biết hạn chế quyền lợi cá nhân so với quyền lợi chung. Khái niệm này có lẻ chưa được đề cập một cách nghiệm túc khi doanh nghiệp thuê mướn nhân viên hay chủ doanh nghiệp ghi rỏ trong kim chỉ nam và qui tắc làm việc cho mọi thành viên tham gia vào công ty.

Khi nói đến kinh doanh, sản xuất, cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp đều hiểu rỏ mình cần gì và sẻ làm gì để có lợi nhuận cao, giá trị thị trường lớn, nâng cao công nghệ theo từng thời điểm khác nhau. Ví dụ công ty đầu tư địa ốc, sẻ nhắm vào các hạn mục có giá trị lợi nhuận cao như tỉ lệ mặt bằng cho thuê từ 75% đến 90%, hay cao hơn. Còn nhà bán ra, củng cần vược mức vốn đầu tư và các chi phí khác. Ví dụ, mức đầu tư và các chi phí là US$100 triệu, và số căn hộ là 100. mỗi căn hộ bán ra US$1.3 triệu, nếu bán hết 100 căn thì lợi nhuận là US$30 triệu. Do đó, doanh nghiệp cần bán ra ít nhất là 77 căn hộ cho số doanh thu là US$100.1 triệu, và số còn lại là lợi nhuận. Khi đó giá cả sẻ thay đổi tùy theo nhu cầu lúc đó. Còn nhà đầu tư về Villa dọc theo bải biển, sẻ chọn phương thức khác cho lợi nhuận của mình. Vừa bán, vừa cho thuê, vừa trao đổi nếu nguồn lợi tức có thể thanh toán phần đầu tư và các chi phi phụ trội. Ngoài ra sự thay đổi nhà thầu, và nhà cung cấp vật liệu xây dựng, nâng cao hiệu quả kinh doanh củng giảm chi phí cơ bản và tạo ra lợi nhuận cao hơn. Hiện tại thị trường địa ốc đả tác động đến các doanh nghiệp chọn giải pháp giảm giá để tìm người mua. Có nghĩa khách hàng bây giờ là người có nhu cầu thật, không phải mua để chờ giá lên cao rồi bán lại. Chọn cơ cấu thu mua thích hợp giảm chi phí xây dựng, và đưa ra nhiều phân khúc của khách hàng nhằm giúp khách hàng thanh toán thích hợp theo mức tiền lời, tỉ lệ trả chậm khác nhau.

Trong kinh doanh sản xuất, nhà doanh nghiệp luôn quan tâm làm sao cho số lượng hàng hóa hay dịch vụ được bán ra. Ngoài ra tính luôn các chi phí phần cơ bản của các chi phí cố định, gia tăng và phụ trộn, tiếp theo là lợi nhuận thặng dư. Có nghĩa một công ty sản xuất bia, cần bán ra 200,000 lon bia thì mới lấy lại vốn, như vậy mục tiêu của doanh nghiệp là phải bán ra từ 220,000 lon bia đến 500,000 lon bia. Giá của từng lon bia sẻ quyết định cho lợi nhuận, nhưng số lượng lon bia bán ra quyết định mức huề vốn và tạo ra lợi nhuận. Thường các sản phẩm như rượu, bia, sữa tươi, mì gói, điện thoại di động, siêu thị luôn do tác động của các chương trình quảng cáo, khuyến mãi. Vì người tiêu dùng sẻ dể chọn sản phẩm và dịch vụ khi họ luôn có nhiều cơ hội tiếp xúc với loại sản phẩm nào đó hay dịch vụ nào đó. Các doanh nghiệp này luôn ưu tiên kinh phí cho việc quảng cáo. Nhưng bên cạnh đó, doanh nghiệp vẩn phái nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ khi muốn cạnh tranh lâu dài.

Khi một doanh nghiệp đả tạo ra tên tuổi hay thương hiệu cho mình, doanh nghiệp đó vẩn phải tiếp tực nâng cao trình độ chuyện môn cho mọi bận phận kinh doanh với phương châm là nếu không phát triễn chiều sâu sẻ bị đào thải trong một ngày không xa. Vì doanh nghiệp khác trong nước hay từ nước ngoài sẻ đưa ra các sản phẩm mới, chất lượng cao hơn, giá thành cạnh tranh hơn, củng như tạo ra các giá trị gia tăng mà không tăng giá thành như biện pháp cạnh tranh. Bên cạnh việc cạnh tranh bằng giảm giá, doanh nghiệp còn cạnh tranh bằng việc gia tăng chất lượng như là vũ khí chiến lược tạo ra khoảng cách an toàn với các đối thủ cạnh tranh.

Nếu nhìn vào hệ thống cung ứng của các linh kiện, bộ phận, dịch vụ cho một cộng đoạn hay chuổi công đoạn, thì thị trường trong nước còn thiếu nhóm doanh nghiệp nhỏ và vửa tham gia vào chuổi cung ứng, nhất là các link kiện điện tử, bộ phận chi tiết cho linh kiện xe hơi và xe gắn máy. Vì cho dùng các thương hiệu quốc tế có tên tuổi như Toyota, Honda, Ford, Nissan, Samsung, Canon, Nikon, Sony, Mitshubishi, Dell có mở công ty, nhà máy tại Việt Nam, thì họ củng muốn có nhiều nhà thầu, nhà cung cấp có chất lượng, tiêu chuẩn cao, giá thành cạnh tranh cho việc gia công, sản xuất sản phẩm của họ. Có nghĩa các doanh nghiệp Việt Nam phải cung cấp càng nhiều linh kiện, bộ phận cho các công ty này nhiều bao nhiêu, thì tốt bấy nhiêu. Tạo ra lợi thế cho việc giảm thời gian nhập linh kiện từ các quốc gia khác. Bên cạnh đó khái niệm nội địa hóa các khâu gia công, cung cấp link kiện, dịch vụ củng mang ý nghĩa ổn định tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo ra công việc và thu nhập cho người tiêu dùng. Mà họ là người sẻ mua các sản phâm, dịch vụ trên thị trường. Nếu nhà đầu tư nước ngoại nhận ra sức mua của người tiêu dùng Việt Nam cao, họ còn gia tăng mức đầu tư cho thị trường tương lai. Đó là lý do tại sao nhiều quốc gia đả đầu tư vào trung quốc trong ba thập niên qua.

Thường khi đả có sản phẩm rồi, doanh nghiệp cần đội ngủ đi tiếp thị để gia tăng doanh số bán ra. Bên cạnh đó củng cải tiến sản phẩm và chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với các công ty đối thủ. Điều này lại cần trình độ chuyên môn cao của nhân viên từng bộ phận để khai thác các giá trị mà doanh nghiệp muốn thực hiện. Phương thức phục vụ khách hàng, bao gồm thái độ, phong cách phục vụ, chuyên môn thao tác các công đoạn dù là tại ngân hàng, khách sạn, công ty bảo hiể, bệnh viện, hảng hàng không, trường học, thì khách hàng luôn là người được tôn trọng và tiếp đón theo nghĩa – khách hàng là thượng đế. Do đó, doanh nghiệp phải luôn cung cấp các khóa đào tạo hay sự nhắc nhở thường xuyên đi kèm thưởng và phạt cho mọi thành tích của nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng hay tạo ra giá trị phục vụ cho khách hàng.

Đây có thể là hộ chiếu cho mọi thành viên khi tạo ra cho bản thân một gốc nhìn mới cho vị trí làm việc, vai trò mà mình đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan hay tổ chức kinh tế. Khi mọi người xem một buổi lễ khai mạc hay bế mạc của thế vận hội thế giới bốn năm tổ chức một lần, ai củng tháng phục khi có sự phối hợp đồng bộ của các thành viên được chọn tham gia múa đồng bộ tạo ra chữ, hình, hoa văn theo màu sắc, nhịp nhạc, ánh sáng, âm thanh của bài hát. Mọi người phải nghĩ đến họ phải có ý thức tự giác, tình thần đồng đội, phối hợp theo sự chỉ dẫn của người chỉ huy đả tạo ra bài buổi diên đó. Ngoài ra họ còn tập liệu trong nhiều tháng để phối hợp ăn ý với mọi thành viên tham gia trong đội hình của bài diễn. Do đó sự thành công mang đến từ nhiều yếu tố - nhà đạo diễn của chương trình, người biên soạn nội dung, người phối hợp thao tác, đội hình theo nhạc, âm thanh, ánh sáng, và dụng cụ hổ trợ hay quần áo mặc trên người, phương tiện thiết bị hổ trở khác. Vậy một doanh nghiệp có cảm nhận sự phối hợp ăn ý trên mối trao đổi thông tin giữa các ban, bộ phận hay nhóm nhân viên không? Chuyên môn do thao tác, kinh nghiệp, học hỏi, nâng cao qua các lớp đào tạo, khắc phục sai xót khi có ý kiến phải hồi từ khách hàng hay thành viên trong doanh nghiệp. Ngoài ra, lãnh đạo luôn là người tiên phong nghiên cứu, tìm tòi và thực hiện các dự án, hay phương thức kinh doanh mang tính đột phá trước khi các doanh nghiệp khác áp dụng. Đó là sự cạnh tranh lành mạnh mang giá trị  sáng tạo, đổi mới, khắc phục và nâng cao liên tục.

Khi nghiên cứu một vấn đề, nhà lảnh đạo thường tự hỏi có ai làm chưa, nếu họ làm rồi thì kết quả thế nào, hiệu quả ra sao, thất bại vì lý do nào, có thể khắc phục được không. Khi chọn phương án sáng xuất, nhà lãnh đạo củng tự hỏi có bao nhiều cách làm, cách nào ngắn nhất, tiết kiệm nhất, tạo ra lợi nhuận cao nhất, rủi ro thấp nhất, rổi tiếp theo là chuổi phản ứng của các nghiên cứu, phân tích, thống kế, so sanh giữa các doanh nghiệp đang có mặt tại thị trường trong và ngoài nước. Phân tích giá trị cung và cầu ở hiện tại và tương lai dước gốc nhìn của mức tăng trưởng GDP và thu nhập gia tăng của người tiêu dùng, lẩn số lượng doanh nghiệp trong cùng một ngành nghệ tại thị trường trong và ngoài nước. Nếu có quá nhiều nhà cung cấp, mà người tiêu thụ thì ích, sẻ đưa tới hiện tượng phá giá khi mà hàng hóa quá nhiều mà người mua thì ít. Khi đó lợi nhuận sẻ thu hẹp dần, cho dù có giảm giá củng không có lơi. Điều đó kéo theo một số doanh nghiệp sẻ đóng cửa do chi phí quá cao mà lợi nhuận thì âm.

Nếu lãnh đạo doanh nghiệp hiểu các nguyên tắc để phát triễn doanh nghiệp trên các phương diện – (1) Qui mô kinh doanh theo nghĩa trình độ kỷ thuật, công nghệ, vốn đầu tư, (2) Qui mô sản xuất mang tính số lượng, thuê nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, (3) Qui mô tái tạo và phát triễn trên tỉ lệ doanh thu dàng cho nghiện cứu và phát triễn sản phẩm và công nghệ, (4) Qui mô tiêu thụ mang ý nghĩa phục vụ một thị trường hay nhiều thị trường, (5) Qui mô quản lý trên phương thức trao đổi thông tin, phân phố nguồn tài nguyên giữa các bộ phận hay công ty con trực thuộc doanh nghiệp, (6) Qui mô phân tích lợi nhuận của từng dòng sản phẩm và dịch vụ, (7) Qui mô đào tạo tại chổ cho nguồn nhân lực nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận theo thời gian. Điều này sẻ tạo ra khái niệm làm sao để thị trường Việt Nam gia tăng từ 126 tỉ USD lên hơn 1 ngàn tỉ USD trong giai đoạn 2040-2050. Nếu câu trả lời nằm trong việc tạo ra các tập đoàn kinh tế có giá trị thị trường từ 10 tỉ USD đến 50 tỉ USD trong vòng 20 năm hay 30 năm là điều có thể giải thích khả năng tăng trưởng GDP của Việt Nam qua tốc độ hình thành các tập đoàn kinh tế khổng lồ có lợi nhuận cao, khả năng thích ứng với mọi tình trạng của thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Ngoài ra, khái niệm phân chia sự quản lý độc lập giữa ngân hàng và công ty kinh doanh nhằm hạn chế nguy cơ đầu tư sai không những không tạo ra lợi nhuận, mà còn tạo ra nguy cơ mất vốn. Một lãnh đạo chỉ nên nắm vai trò tại một doanh nghiệp, hạn chế nắm nhiều vai trò tại nhiều doanh nghiệp khác nhau, vì như vậy sẻ dể tạo ra sai lầm khi ưu tiên nguồn vốn, năng lực, nhân sự cho một dự án không tạo ra lợi nhuận về lâu dài. Đầu tư chéo về cổ phiếu có thể có ích cho doanh nghiệp, nhưng có lúc củng tác động kềm hảm sự phát triễn mang tính năng động, sáng tạo của một doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có nhiều cổ phần ở doanh nghiệp khác có thể biểu quyết ý kiến hạn chế doanh nghiệp trong việc phát triễn cạnh tranh với doanh nghiệp chủ có cổ phiều.

Khi nhìn lại các quốc gia trong khu vực như Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Nam Triều Tiên và Nhật Bản, doanh nhân và nhà sáng lập doanh nghiệp Việt Nam sẻ có nhiều câu hỏi và củng có nhiều câu trả lời cho sự thành công của các quốc gia này. Khi cơ hội đến mọi người dân Việt Nam có thể tạo cho mình một doanh nghiệp dù có số vốn khởi đầu là 200 USD hay 100 triệu USD. Điều quan trọng là doanh nghiệp đó tạo ra được sản phẩm phục vụ người tiêu dùng và tạo ra lợi nhuận, tạo ra công việc, đóng thuế cho nhà nước. Lợi nhuận sẻ khuyến khích cho nhà đầu tư tiếp tục bỏ vốn vào. Công việc có thể nuôi sống người lao động, mà họ củng chính là người tiêu dùng trong thị trường . Đóng thuế cho chính phủ, giúp chính phủ có ngân sách thực hiện các nghĩa vụ phục vụ cho mục đích công cộng như xây cầu, đường, cảng, trường học, bệnh viện, quĩ an sinh xã hội, an ninh quốc phòng. Đó là các giá trị cơ bản mà một doanh nghiệp có thể đóng góp cho nền kinh tế của một quốc gia. 

Nhìn tình hình kinh tế và an ninh trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, Các quốc gia phương Tây đang chuyển dần sự đầu tư của các loại sản xuất tiêu dùng từ Trung Quốc sang các thị trường bao quanh Trung Quốc với nhiều lý do khác nhau. Vấn đề chính trị luôn tác động đến chính sách ngoại giao, đầu tư, trao đổi mậu dịch quốc tế, và hợp tác quốc tế. Hầu như các quốc gia có ưu đải về mậu dịch với thị trường Hoa Kỳ luôn thành công về mặt kinh tế trong thời gian ngắn nhất. Ngoài ra còn yếu tố con người. Tức là tự bản thân quốc gia đó hoạch định ra các chính sách kinh tế hiệu quả nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động có lời và xuất khẩu nhiều hơn ra thị trường nước ngoài. Singapore, Đài Loan, Nam Triều Tiên và Nhật Bản đả thành công trong việc phát triển kinh tế theo nhiều hướng tạo ra mức sống cao cho mọi người dân. Vậy lý do nào để Việt Nam có thể thực hiện ước mơ này trong thời gian ngắn nhất?

Vị trí địa lý của thị trường Việt Nam có lẻ chưa khai thác triệt để cho các giá trị: kinh tế, thị trường chuyển tiếp, cung cấp nguyên nhiên liệu và trung chuyển hàng hóa và dịch vụ, du lịch, và cầu nối văn hóa và an ninh trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Dân số của Việt Nam là khoảng hơn 90 triệu người trong năm 2011, và có lực lượng lao động khoảng 62 triệu người từ độ tuổi 15 đến 64, tỉ lệ thất nghiệp khoảng 2.9% (khoảng 1.89 triệu người trên tổng số lực lao động 62 triệu người). Như vậy thị trường có khoảng hơn 60 triệu người có công ăn việc làm. Nhưng điều mà thị trường Việt Nam cần là tạo ra các doanh nghiệp có khả năng phục vụ thị trường toàn cầu và cung cấp mức thu nhập cao hơn cho người dân Việc Nam. Lấy một ví dụ đơn giản là mức lương căn bản của 60 triệu người lao động trong thị trường là khoảng 400 USD một tháng hay 4800 USD một năm sẻ tạo ra mức GDP là khoảng 288 tỉ USD. Nếu mức lương của 60 triệu lao động này là 10 ngàn USD một năm thì họ ta ra mức GDP là khoảng 600 tỉ USD. Nhưng thực tế GDP tính theo một công thức có phần phức tạp hơn do nhiều tác nhân tham gia vào nên kinh tế đóng góp. Nhưng dùng công thức thu nhập từng cá nhân sẻ giúp các doanh nghiệp hiểu giá trị lợi nhuận của doanh nghiệp sẻ đóng góp trực tiếp cho GDP của Việt Nam theo cấp số nhân. Ngoài ra chi tiêu của doanh nghiệp củng mang vai trò là một người tiêu dùng lớn, đặc biệc so với các người tiêu dùng nhỏ.

Nếu trong năm 2040, Việt Nam có 10 doanh nghiệp có doanh thu vượt con số 20 tỉ USD, thì tổng doanh thu của 10 công ty này đả tạo ra sức mạnh kinh tế của hơn 200 tỉ USD. Bên cạnh đó, Việt Nam sẻ có hơn 20 công ty có mức doanh thu từ 1 tỉ USD đến 20 tỉ USD. Khi đó, mọi người mới cảm thấy con số GDP của Việt Nam sẻ vược qua 1000 tỉ USD trong năm 2040 hay các năm sau đó. Muốn có mức doanh thu lớn như vậy, doanh nghiệp phải phát triển từ con số không để gia tăng dần lên con số tỉ. Bài học mà doanh nghiệp Việt Nam có thể học từ sự thành công của Microsoft, Google, Honda, Sony, Apple, BestBuy, Wal-Mart, Ford, Infosys, Tata, Samsung, LG, Huyndai, và nhiều công ty trên thế giới.

Khi nói đến quản lý kinh tế một doanh nghiệp, nhà sáng lập doanh nghiệp sẻ luôn nghĩ đến các giá trị sau:

1)      Thị trường là nơi mà sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp tạo ra phục vụ người tiêu dùng.
2)      Nguồn tài nguyên sẳn có hay cần có: nhân lực, cơ sở, máy móc, thiết bị, công nghệ, phát minh, vốn. (quản lý nhân sự, vốn, vật tư, thương lượng giá cả)
3)      Mối quan hệ giao dịch với đối tác là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, ngân hàng, nhà đầu tư hay đối tác làm ăn
4)      Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước trong và ngoài nước
5)      Tình hình chính trị và ổn định trong và ngoài nước
6)      Khả năng thay thế nguyên liệu, linh kiện, công nghệ, năng xuất lao động để giảm chí phí giá thành hay nâng cấp chất lượng
7)      Hệ thống cung ứng sẳn có trong nước

Từ bảy giá trị vừa nêu trên, các doanh nghiệp sẻ quyết định cho sự phân bổ nguồn nhân lực theo các nguồn tài nguyên khác nhau cho kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Các doanh nghiệp kinh tế sẻ khai thác giá trị lợi nhuận theo sự cung cấp sản phẩm và dịch vụ có sức thõa mản cao cho nhu cầu cho thị trường. Khi doanh nghiệp tiêu dùng tại Việt Nam đứng trước nguy cơ cạnh tranh về giá, mẫu mã, chuẩn loại, chất lượng từ các quốc gia nước ngoài, điển hình là Trung Quốc. Các doanh nghiệp trong nước luôn hoan man, lo lắng không biết tìm ra đối sách nào để tồn tại với khả năng cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực. Đó là lý do mà chính phủ sẻ can thiệp trong việc hổ trở trên nhiều chính sách khác nhau – (1)Thuế ưu đải, (2) Cho vay vốn lãi xuất thấp, (3) Hổ trợ việc nghiên cứu trên phương thức giao thầu cho các dự án kinh tế, (4) Xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện kinh doanh và cho doanh nghiệp, (5) Quảng cáo dùm doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài, (6) Gia tăng học bổng nhằm khuyến khích nhân tài theo học các môi khoa học, công nghệ, năng lượng, cơ khí, y khoa, nông nghiệp, quản lý kinh doanh, đầu tư tài chính tại các đại học quốc tế, (7) Thu hút nhà đầu tư nước ngoài thông qua khuyến khích chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực cho đối tác Việt Nam.

Thị trường Việt Nam có ít nhất là năm nhóm doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp địa phương, doanh nghiệp tư nhân (có vốn của chính phủ và không có vốn của chính phủ), doanh nghiệp nước ngoài, và doanh nghiệp liên doanh (có vốn của chính phủ hay không có vốn của chính phủ). Phần lớn doanh nghiệp nhà nước nắm giữ các lĩnh vực kinh tế then chốt như quản lý phi trường, cầu cảng, dầu khí, ngân hàng, khai thác tài nguyên, cung cấp điện, cung cấp nước, dịch vụ điện thoại và liên lạc viễn thông, đài truyền hình, đài phát thanh, phát hình báo trí, in ấn, kho bải cho xuất nhập khẩu, dịch vụ hàng hải và hàng không, xe lửa, và đường giao thông và hệ thống xử lý nước thải và rác. Như vậy các doanh nghiệp không thuộc nhóm doanh nghiệp nhà nước phải biết cách quản lý loại hình kinh doanh của mình để hoạt động hiệu quả và thích nghi với các cơ chế của do nhà nước quản lý và sự cạnh tranh trên thị trường. Khi chính phủ đơn giản hóa hệ thống giấy phép kinh doanh, và các thủ tục pháp lý như giảm số ngày cấp phép hay giảm số đơn vị quản lý, thì nó tác động đến việc vận hành hiệu quả các các doanh nghiệp, tạo ra doanh thu cao hơn, hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Sự thành công của các doanh nghiệp luôn gắn liền với hoạt động hiệu quả mà các dịch vụ và sản phẩm do nhóm doanh nghiệp nhà nước cung cấp. Điều này sẻ nói lên ý nghĩa - nền kinh tế Việt Nam có thể đạt được con số hơn 1000 tỉ USD trong vòng 30 năm hay 40 năm, đều lệ thuộc vào sự hợp tác nhip nhàn giữa hệ thống doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Điều này nằm ngoài khả năng quản lý của các doanh nghiệp tư nhân, nhưng mỗi doanh nghiệp tư nhân sẻ chọn ra một công thức kinh doanh phù hợp cho hoàng cảnh mà doanh nghiệp họ đang kinh doanh và hoạt động.

So với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân luôn chọn cho mình một hướng đi theo các giá trị quản lý tài nguyên như sau: 

1.      Phân bổ nhân sự (tuyển dụng, đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật, định hướng phát triển của doanh nghiệp rỏ ràng)
2.      Ngân sách (tìm nguồn, phát triển nguồn, gia tăng nguồn)
3.      Doanh thu từ hoạt động kinh tế (giảm chi phí, gia tăng lợi nhuận)
4.      Sự hổ trợ về các điều kiện tối ưu từ nhà đầu tư hay chính phủ
5.      Sử dụng đất đai và chi phí  hay thuê mướn đất đai, máy móc thiết bị


Năm giá trị nêu trên có thể gọi là năm biến số được nhà doanh nghiệp biến đổi và áp dụng vào công thức thành công cho doanh nghiệp với các giá trị hiệu quả sau:

1.      Cạnh tranh về giá thành dịch vụ và sản phẩm bán ra
2.      Cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra
3.      Cạnh tranh về trình độ chuyên môn của đội ngủ nhân viên
4.      Cạnh tranh về khả năng ứng dụng các giá trị có sẳn và nâng cấp với giá trị nội tại
5.      Cạnh tranh trên phương thức xử dụng tài nguyên hợp lý
6.      Cạnh tranh trên giá trị thông tin được hổ trợ cho mọi thành viên khai thác
7.      Cạnh tranh trong việc khai thác sản phẩm có lợi nhuận cao, hạn chế sản phẩm có lợi nhuận thấp
8.      Cạnh tranh thông qua chiếc lược mở rộng thị trường
9.      Cạnh tranh dựa trên khả năng thiết lập cầu nối với khách hàng và nhà đầu tư
10.  Cạnh tranh dựa trên giá trị sáng tạo đi trước các xu hướng của thị trường
11.  Cạnh tranh dựa trên sự trung thành của nhân viên, đoàn kết nội bộ
12.  Cạnh tranh dựa trên các giá trị văn hóa, tỉ giá hối đoái và liên kết với đối tác trong và ngoài nước
13.  Cạnh tranh dựa trên hệ thống phân phối trực tiếp giao dịch với khách hàng hay qua nhà phân phối trung gian.
14.  Cạnh tranh dựa trên tỉ giá vốn vay hay nguồn đầu tư ưu đải để giảm chi phí do sản xuất số lượng nhiều

Nhưng việc quản lý con người luôn mang tính quyết định đến 14 giá trị cạnh tranh nêu trên. Có nghĩa nhà doanh nghiệp sẻ quản lý nhân viên của mình theo sự khen thưởng hợp lý, nhằm tạo ra động lực sáng tạo, cố gắng, cải tiến, tương trợ, trung thành, nhiệt tình, say mê trong công việc. Có như vậy thì doanh nghiệp mới tồn tại trước sự cạnh tranh khốc liệt tại thị trường trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, luôn tạo cho nhân viên một niềm tin là nổ lực của họ làm được sẻ tạo ra tương lai ổn định, hạnh phúc, và thành đạt cho bản thân họ và doanh nghiệp.

So với doanh nghiệp tư nhân cần phải tìm nguồn vốn thông qua tự vay, hay đầu tư từ tài sản cá nhân, phát hành cổ phiếu trên thị trường, thì doanh nghiệp nhà nước hay tập đoàn kinh tế thuộc các bộ của chính phủ có lợi thế khai thác nguồn vốn do chính phủ cung cấp. Bên cạnh đó các doanh nghiệp này còn có ưu tiên dùng quị đất cho việc xây dựng nhà máy, hảng xưỡng với giá thành rẻ hơn so với doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nước ngoài. Như vậy các tập đoàn kinh tế có nhiều lợi thế để tạo ra sản phẩm tốt hơn, giá thành thấp hơn để phục vụ thị trường trong và ngoài nước. Các khái niệm cải cách quản lý hay cổ phần hóa một phần giá trị của các tập đoàn kinh tế có thể gia tăng giá trị của các tập đoàn này theo các khía cạnh sau:

  1. Tạo ra hướng đi mới khi hội đồng quản trị có thành viên độc lập đến tư bên ngoài do nhà đầu tư hay đại diện của nhà đầu tư chỉ định
  2. Có cơ hội tiếp thu công nghệ mới, hiện đại từ đối tác nước ngoài
  3. Có cơ hội xuất khẩu thông qua đối tác nước ngoài
  4. Có cơ hội học hỏi chuyên môn quản lý thông qua đối tác nước ngoài và doanh nghiệp trong nước
  5. Cho nhiều chọn lựa khi tạo ra loại hình kinh doanh phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường
  6. Khả năng quản lý tối nguồn vốn và áp dụng phương thức kế toán, dự toán ngân sách và quản lý dự án mang tính hệ thống và khách quan theo tiêu chuẩn quốc tế
  7. Tạo niềm tin cho nhà đầu tư trong và ngoài nước khi có cổ phần của nhóm đầu tư tư nhân hay doanh nghiệp tư nhân

Bên cạnh đó, các tập đoàn kinh tế sẻ tạo ra nguồn thu ngân sách dương cho chính phủ khi lợi nhuận gia tăng và giá trị thị phần gia tăng tương ứng với tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam.

Gía trị tiếp theo là quản lý nguồn vốn trong doanh nghiệp hay quĩ đầu tư. Nguồn vốn trong nước cần được khai thác ở các thị trường: (a) đầu tư nội địa cho giá trị gia tăng, (b) đầu tư hải ngoại cho giá trị gia tăng và tạo cầu nối kinh tế, (c) đầu tư vào các kinh tế tạo ra giá trị kinh tế và tinh thần về lâu dài. Khái niệm lợi nhuận ngắn hạn cho chi tiêu hàng tháng, và lợi nhuận dài hạn cho các chi tiêu trong tương lai sẻ mang các giá trị tích cực giúp Việt Nam có các quĩ đầu tư lớn và đa dạng trong tương lai ở tại Việt Nam và thị trường quốc tế như Nhật Bản và Hoa Kỳ. Có thể nói các loại hình doanh nghiệp mà Việt Nam có thể thành công luôn tiềm ẩn trong giá trị mà thị trường có nhu cầu. Khi doanh nghiệp hoạt động, doanh nghiệp luôn cần nguồn vốn hiệu quả bao gồm tiền mặc và các thu chi cho các giao dịch hàng ngày. Có nghĩa lượng tiền mặt không quá nhiều hay quá ít, bởi vì nếu doanh nghiệp giữ tiền mặc quá nhiều sẻ bỏ qua cơ hội kiếm lợi nhuận, còn ngược lại sẻ dễ dẩn đến tình trạnh cạn kiệt không có khả năng thanh toán cho các chi phí và hợp động với khách hàng, hay trả lương cho nhân viên, hay đóng thuế cho chính phủ. Đó là phần giới thiệu ngắn cho E-Book về quản lý, đầu tư cho doanh nghiệp tại Việt Nam.

Minnesota, Hoa Kỳ, Ngày 14 Tháng 10 Năm 2012

Hoành Vinh