Sunday, October 21, 2012

Economics and Companies' Management Strategies


Khi nền kinh tế tăng trưởng dựa trên mức tiêu thụ của xuất khẩu hay tại trường nội địa, mọi doanh nghiệp luôn hồ hởi gia tăng ngân sách cho đầu tư và phát triển. Nhưng khi nền kinh tế giảm sút mức tăng trưởng do nhiều nguyên nhân tạo ra tâm lý hoài nghi của cả người tiêu dùng, nhà đầu tư càng tạo ra các tác động giảm chi tiêu và doanh thu bán ra của các doanh nghiệp. Doanh thu do mức cầu tạo ra khi mức cung có thể thỏa mãn hay chưa thỏa mãn. Doanh thu còn do nhiều nguyên nhân khác nhau giúp cho người mua có thể thực hiện giao dịch dể dàng và tạo điều kiện cho người bán là doanh nghiệp có doanh thu cao. Thường ngân hàng, công ty tín dụng là hai nhóm tạo điều kiện giúp người mua có thể thể mua sản phẩm từ người bán theo nhiều thỏa thuận trả chậm khác nhau. Gía trị món hàng càng cao thì mức trả chậm này củng thay đổi theo mức tiền lời cho phù hợp với thị trường tài chính khi đó.

Thất nghiệp luôn là nguyên nhân tạo ra tác động đến khả năng chi tiêu của người tiêu dùng. Ngay cả người tiêu dùng không bị thất nghiệp củng có tâm lý hoài nghi, nên giảm mọi chi tiêu trong sinh hoạt của họ. Công với sự giảm sút của chi tiêu trong nhóm người thất nghiệp tao ra vòng xoáy domino của cung và cầu giảm sút trong giai đoạn nền kinh tế bị khựng lại hay bị co lại theo mức tăng trưởng âm, zero hay rất nhỏ. Ngoài ra các thị trường xuất khẩu củng bị thu hẹp tạo ra sự dội ngược trở lại của hàng hóa và dịch vụ của các công ty chuyên về xuất khẩu. Như vậy các công ty này sẻ phản ứng tự nhiên là cắt giảm công việc, chi tiêu, mọi ngân sách cho hoạt động kinh doanh. Đồng thời nếu số công ty này mượn vốn cho kinh doanh sẻ có nguy cơ phải thanh toán tiền lời công tiền nợ theo kỳ hạn qui định.


Làm sao một doanh nghiệp có thể nắm bắt kiệp thời các giá trị của hoạt động kinh tế trong và ngoài nước nhằm thay đổi phương thức kinh doanh, đầu tư cho phù hợp? Câu trả lời luôn mang các chuổi quyết định mang tính phân tích rủi rỏ, phân tích tăng trưởng, phân tích khả năng thu chi của doanh nghiệp, nợ của ngân hàng, nợ của người tiêu dùng, để từ đó có thể nhận ra một bức tranh khái quát của nền kinh tế trong đó có các thành viên tham gia là các doanh nghiệp, ngân hàng, công ty đầu tư, người tiêu dùng hay các tập đoàn kinh tế nhà nước. Nếu nói lý thuyết như vậy thì CEO hay chủ tịch hội đồng quản trị đều có thể nói được. Nhưng sự khác biết ở chổ làm sao có các con số gần bằng với con số thực tế như số lượng khách hàng của từng loại sản phẩm, dịch vụ của một thị trường – thành phố, tỉnh, quốc gia để hiểu khả năng thanh toán của họ dựa trên thu nhập cá nhân và thu nhập kinh doanh. Nếu các con số này không có, thì doanh nghiệp sẻ đi tìm câu trả lời một cách mập mờ không cụ thể và rỏ ràng. Ngoài ra, các trung tâm dử liệu, công ty thăm dò thị trường luôn áp dụng các toán thống kế, phân tích khách quan nhằm cung cấp các báo cáo thiết thực cho khách hàng là doanh nghiệp hay tổ chức của chính phủ.