International Trade


Mậu dịch quốc tế luôn gắn liền với các hoạt động xuất nhập khẩu. Phần động doanh nghiệp nhận ra giá trị lợi nhuận khi mua sản phẩm trong nước và xuất ra thị trường nước ngoài ở giá cao hơn. Ngược lại mua sản phẩm từ nước ngoài và bán ra phục vụ người tiêu dùng trong nước. Cả hai hoạt động kinh doanh đều có cùng một giá trị là lợi nhuận thông qua trao đổi hàng hóa. Ngoại tệ là vật trung gian cho việc trao đổi mậu dịch. Trong một số trường hợp vàng được dùng thay thế cho ngoại tệ như USD, Yen, Bảng Anh, Euro của Châu Âu.

Có nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong nước gặp phải khi tham gia vào mậu dịch quốc tế. Các khó khăn này bao gồm:

  1. Thủ tục xuất nhập khẩu
  2. Thói quen và yêu cầu của người tiêu dùng nước ngoài
  3. Các tiêu chuẩn qui định mà chính phủ nước ngoài áp đặc lện kích thước sản phẩm, vệ sinh, màu sắc, tính năng, nguồn điện sử dụng, vật liệu sử dụng, tuổi của nhân lực trực tiếp tạo ra sản phẩm, độ ô nhiễm môi trường, mức độ tái sử dụng vật liệu
  4. Mâu mã bao bình, hướng dẩn sử dụng, ngôn ngữ in trên bao bình, các loại thực phẩm cần ghi thành phân nguyên liệu, số lượng năng lượng, có tác dụng phụ hay nguy hại cho sức khỏe hay không
  5. Thời gian sử dụng hay độ bền của sản phẩm
  6. Thông tin về cách liên lạc hay góp ý từ người tiêu dùng.

Đó là một số giá trị tham khảo cho doanh nghiệp xuất khẩu. Còn doanh nghiệp nhập khẩu củng cần dịch nội dung hước dẩn, tính năng, nguyên liệu, tác dụng ra ngôn ngữ của quốc gia hay địa phương nhằm giúp người tiêu dùng đọc hiểu các thông tin cần thiết.


Kinh Tế Toàn Cầu Cho Thị Trường Việt Nam

 “Thị trường phát triển theo nhiều chiều kích, do đó nhà quản lý sẻ luôn cân đo hai giá trị ngắn hạn và dài hạn cho các kế hoạch kinh doanh và đầu tư. Một doanh nghiệp sẻ luôn nhận ra việc khai thác thị trường trong nước mang giá trị chiếc thuật ngắn hạn, còn khai thác thị trường nước ngoài mang giá trị chiến lược dài hạn cho sự mở rộng nhiều phương diện cạnh tranh của một doanh nghiệp, bởi vị thị trường nước ngoài đem về lợi nhuận là ngoại tệ để đẩy mạnh khả năng sản xuất của nền kinh tế trong nước.”
 *****
Sự hội nhập của thị trường Việt Nam vào thị trường thế giới từ những thay đổi chính sách kinh tế, và luật đầu tư cùng các điều kiện kinh doanh, pháp lý, quyền sở hữu, quản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp trong những năm đầu thập niên 90s đả tạo ra những điều kiện phát triển trong các ngành kinh tế quốc dân. Ngoài ra, chính phủ củng nhân ra xu hướng toàn cầu hóa từ đầu thập niên 1990 với sự hổ trợ của việc sử dụng internet và các chương trình vi tính giúp doanh nghiệp quản lý hiệu quả việc vận chuyển hàng hóa, cung cấp dịch vụ, và kiểm soát số lượng hàng hóa trong kho bải ở tốc độ từng phúc hay giây. Bên cạnh đó sự khác biệc về luật pháp, luật thương nghiệp, bảo vệ môi trường, trình độ công nghệ chế tạo, trình độ kiến thức chuyên môn giữa các thị trường tạo ra khả năng tiêu thụ hàng hóa và khả năng sản xuất hàng hóa cho lợi nhuận. Việt Nam luôn đứng trước hai nguy cơ: nhập khẩu quá nhiều hàng hóa có chất lượng cao và giá cạnh tranh từ nước ngoài, khả năng xuất khẩu thấp cho hàng hóa thô và gia công mang giá trị kinh tế thấp. Bên cạnh đó, chính phủ và doanh nghiệp của đối phó với việc thu chi ngoại hối cho hàng nhập khẩu và hàng xuất khẩu trong việc ổn định giá hàng hóa bán ra tại thị trường theo tỉ giá hối đoái hiện thời. Đồng thời củng phải lo lắng cho việc thiếu ngoại tệ và số lượng lớn tiền mặt của đồng Việt Nam luôn thông quá nhiều trong thị trường. Người tiêu dùng, nhà đầu tư luôn nhìn ra một loại giá trị trước mặt họ là giá trị ngắn hạn của thị trường địa ốc và cổ phiếu tạo ra các cơn sốt gây hoan mang và khô cạn nguồn vốn cho thị trường sản xuất xuất khẩu và phát triển công nghệ mới. Sự lạm phát ở Việt Nam gắn liền với các hiện tượng sau: (a) ngân hàng và vốn tư nhân được đầu tư quá nhiều vào thị trường địa ốc và giao dịch cổ phiếu, (b) chi phí của các doanh nghiêp và cơ quan của chính phủ vào các hạn mục không sinh lời hay chưa đến lúc làm giảm nguồn vốn lưu động cần thiết cho việc tăng trường kinh tế, (c) mức tiết kiệm của dân chúng còn thấp, chưa đủ tạo ra nguồn vốn tự có trong nước cho việc cấp vốn cho các doanh nghiệp phát triển và mở rộng thị trường, (d) thiếu nguồn đào tạo nguồn ra cho đội ngủ chuyên môn trong các ngành công nghiệp, sản xuất, dịch vụ tạo ra giá trị cạnh tranh và tiên tiến cho nền kinh tế Việt Nam như kỷ sư công nghệ thông tin, hóa sinh, hóa dầu, y tế, điện tử công nghiệp và dân dục, cơ khí chế tạo máy, tàu thủy, nông nghiệp và dược phẩm, thiết kế và tài chính, ngoại ngử. Nhưng Chính phủ vẩn luôn tiếp tục vị trí quản lý của mình cho các biện pháp hiệu quả nhằm khắc phục các khó khăn của nền kinh tế Việt Nam, và cùng lúc áp dụng các chính sách phù hợp với sự thay đổi chính sách chiến lược mà các quốc gia trong khu vực đang áp dụng, nhằm tạo ra thế mạnh cạnh tranh cho thị trường Việt Nam trên ba lĩnh vực chủ đạo: 

a)      Nhân công với giá trị cạnh tranh qua mức lương và tay nghề làm việc chuyên môn, đồng thời cải thiện môi trường chuyên môn cao cho giá trị kinh tế cao hơn.
b)      Khai thác nguyên liện và sản phẩm dịch vụ có nguồn gốc trong nước cho giá trị xuất khẩu cao tạo ra vốn cho các ngành kinh tế, dịch vụ khác phát triển tạo ra nguồn thu nhập cho quốc gia.
c)      Thu hút nguồn vốn nước ngoài cho việc nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế, giáo dục, thị trường tài chính và các thị trường quản lý nhân sự và thông tin khoa học công nghệ trong kinh tế ứng dụng giúp gia tăng khả năng vốn, công nghệ, chuyên môi và thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.

Nhà kinh tế học người Nhật Bản, Kaname Akamatsu, đả mô tả sự phát triển kinh tế Đông Á và Châu Á trong mô hình “Ngỗng Bay”. Trong đó Nhật Bản giữ vị trí tiên phong trong việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn cần nguồn vốn đầu tư cao, và bước tiếp theo là các quốc gia Châu Á chạy theo mô hình phát triển kinh tế của Nhật ở mức độ thấp hơn về công nghệ và chuyên môn. Nhưng trong hai thập niên 1990 và 2000, các quốc gia như Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông,Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, và Malaysia đả phần nào điểu kịp Nhật Bản trong từng lĩnh vực kinh tế riêng biệc. Mặc dù hiện tại Trung Quốc đả dần dần vược Nhật Bản thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới tính theo tổng sản phẩm quốc dân GDP, nhưng Nhật Bản vẩn là thị trường kinh tế có giá trị cao về chiều sâu trong các giá trị an sinh xã hội và hệ thống công cộng phục vụ người dân về an toàn thực phẩm, y tế, giáo dục, và công ích xã hội. Điều này có thể giải thích mỗi quốc gia có thể phát triển theo các chiều kích khác nhau, nhưng cuối cùng thì mục tiêu tối thượng vẫn là một xã hội có giá trị phục vụ cao trên các lĩnh vực – y tế, giáo dục, giao thông, thông tin, giải trí, và khả năng tiêu thụ của từng người dân.

Ngày nay, Việt Nam có thể phân vân trong việc lựa chọn một mô hình phát triển kinh tế phù hợp với hoàn cảnh xã hội của Việt Nam. Các quốc gia trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Singapore, Đài Loan, Ấn Độ có thể cung cấp các giá trị về quản lý kinh tế đa dạng và hiệu quả. Nhưng cuối cùng Việt Nam vẫn có một giá trị riêng biệc có thể giúp Việt Nam chuyển mình từ nền kinh tế 104 tỉ USD thành nền kinh tế 1000 tỉ USD trong thời gian là 15 năm đến 20 năm.

Một quốc gia muốn có sự tăng trưởng kinh tế ở mức hơn 10% một năm thì cần có nhiều tác nhân thuận lới tạo ra hiệu quả cho việc phối hợp đồng bộ của chính phủ chính phủ trong việc hoạch định các chính sách, trong khi đó các doanh nghiệp tham gia tại thị trường sẻ có điệu kiện phát triển kinh tế trong môi trường kinh. Sự kết hợp này có lẻ được giải thích theo các yếu tố sau:

a)      Nhà nước quản lý nền kinh tế ở mức độ khác nhau nhằm hạn chế sự đầu cơ và lũng đoạn thị trường do các tác nhân tư nhân trong và ngoài nước tạo ra
b)      Nhà nước tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước nhằm gia tăng thị phần nội địa và khai thác thị trường nước ngoài
c)      Nhà nước gia tăng thu hút nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành kinh tế mà thị trường nội địa cần vốn, công nghệ, chuyên môn và thị trường tiêu thụ hải ngoại
d)     Doanh nghiệp tư nhân và quốc doanh sẻ khai thác và tận dụng nguồn vốn, tài nguyên và nhân lực cho việc gia tăng thị phần trong và ngoài nước trên căn bản của thị trường cạnh tranh. Vì có như vậy thì các doanh nghiệp này sẻ làm ăn có lợi nhuận và lâu về dài và gia tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội địa trước các sản phẩm nhập khẩu
e)      Doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm rỏ các yếu tố then chốt cho việc khai thác thị trường nước ngoài dựa trên sự kết hợp của gia thành, giá trị gia tăng, mẫu mã, phương thức tiếp thị và chất lượng sản phẩm.
f)       Chính phủ và doanh nghiệp trong nước luôn phối hộp với nhau cho việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị cao về chất lượng, giá thành và phương thức vận chuyển và tiêu thụ trong và ngoài nước
g)      Hệ thống giáo dục có thể khai thác theo hai phương thức trả trước và trả từng phần thông qua nguồn thu thuế hay đóng góp của tư nhân giúp người thu nhập thấp có thể hoàn thành các chương trình giáo dục cần thiết tạo kiến thức và nghiệp vụ cho công việc tương lai. Cho sinh viên mượn tiền học.

Các bài học kinh tế có thể được rút ra từ các quốc gia Châu Á vừa nêu trên, nhưng có sự thay đổi đa dạng phù hợp với hoàn cảnh của xã hội và thị trường Việt Nam. Đó là nét riêng biệc mà nhà nước Việt Nam cùng doanh nghiệp trong nước có thể cùng thực hiện cho hiệu quả phát triển kinh tế cao - tốc độ phát triển kinh tế hơn 10% một năm, mức lạm phát nhỏ hơn 3% một năm, mức gia tăng giá trị xuất khẩu phải ở mức 30% đến 50% một năm, và thu nhập của người dân sẻ được điều phối theo qui mô phát triển thành thị và nông thôn. Thặng dư mậu dịch sẻ là câu trả lời cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vì mức sống của người dân đều phụ thuộc vào mức lương, mà mức lương lại do công việc và doanh nghiệp quyết định. Như vậy, thì nền kinh tế Việt Nam cần phải ổn định các giá trị sau: (a) gia tăng vốn đầu tư vào các ngành kinh tế tạo ra thặng dư mậu dịch và doanh thu tiêu dùng, trực tiếp tạo ra công ăn việc làm và thu hút ngoại tệ chảy vào Việt Nam, (b) nâng cao trình độ giáo dục tay nghề của học sinh lớp 9,10, 11, 12; vì họ sẻ có cơ hội đi làm mà không cần bỏ vốn thời gian tại các cao đẳng hay trung tâm dạy nghệ để làm việc tại các khu chế xuất và hảng xưởng, (c) nhà nước sẻ chủ động đầu tư và cho vay vốn lải xuất thấp cho các doanh nghiệp, hay trung tâm nghiên cứu các ngành kinh tế trực tiếp nâng cấp khả năng cạnh tranh của thị trường Việt Nam, (d) phát triển cơ sở hạ tầng (mạng lưới điện, nhà máy phát điện, hệ thống thông tin liên lạc, đường xá, cầu cống, hải cảng, xử lý nước thải) với các đối tác nước ngoài nhằm khai thác vốn vay và tăng tốc khả năng vận chuyển xuất khẩu, (e) chính phủ sẻ thành lập các loại quĩ đầu tư theo ba cấp – trung ương, thành phố và tỉnh – nhằm khai thác vốn trong nước, tăng thị phần nước ngoài, tạo ra thu nhập cho cán bộ trong chính phủ (cần chuyên gia chuyên môn và đầu tư để hạn chế thất thu và rủi ro mất vốn), (f) chọn ba khu vực nằm trên trục lộ của con đường xe điện siêu tốc Bắc Nam để xây dựng ba mô hình thành phố cho thuê hay khu kinh tế đặc biệc tương đương như ba quốc gia – Singapore, Đài Loan và Hồng Kông, (ba khu trung thâm này sẻ tạo ra khoảng 15 triệu đến 30 triệu công ăn việc làm cho người dân Việt Nam trong thời gian 50 năm sắp tới. Chính phủ cần một đội ngủ chuyên viên kinh nghiệm để lên kế hoạch khả thi và quảng cáo trên qui mô toàn cầu để thu hút ít nhất là 300 tỉ USD trong vòng 10 năm tới vào ba trung tâm kinh tế này.

Trong hai thập niên 1990s và 2000s, toàn thế giới đả chứng kiến một hiện tượng gọi là toàn cầu hóa, tự do mậu dịch, chuyển giao công nghệ và công đoạn sản xuất, kinh doanh và mậu dịch không biên giới làm gia tốc những nền kinh tế đang lớn mạnh. Trong đó Trung Quốc, Bra-xin, Nga, Ấn Độ là bốn quốc gia gọi là các nền kinh tế đang nổi lên.Singapore, Nam Triều Tiên, Đài Loan, và một số quốc gia Đông Âu được gọi là các quốc gia mới công nghiệp hóa. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đang phát triển nhanh,  với một thị trường khoảng 90 triệu dân, vào tổng sản phẩm quốc dân khoảng 104 tỉ USD,  có vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân công có giá cả cạnh tranh, tạo cho thị trường Việt Nam một sức thu hút cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng bên cạnh đó, thị trường nhân công và tài nguyên của Việt Nam cần có một sự thống nhất, tiêu chuẩn hóa, khả năng tạo giá trị sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả lợi nhuận và đầu tư mới có thể chuyển hướng đầu tư của các nhà đầu tư từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu sang thị trường Việt Nam. Đó là một trong các yếu tố quan trọng của việc hoạch định chính sách mà chính phủ Việt Nam sẻ cân nhắc cho hai mục tiêu phát triển kinh tế nội địa và xuất khẩu.

Các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế như thủy sản, nông sản, và nguyên liệu cần có sự chỉ đạo của chính phủ trong việc thay đổi chính sách kinh doanh hiệu quả hơn, an toàn hơn, và đa dạng hơn nhằm tạo ra (a) vốn đầu tư trong và ngoài nước cho lợi nhuận và công việc, (b) chuyển dần sang các ngành kinh tế có giá trị cao như chế tạo xe hơi, cơ khí, điện tử, may mặc, giầy da, thức ăn chế biến, nước giải khác cho tiêu dùng trong và ngoài nước, đầu tư giáo dục, (c) hạn chế chi tiêu không cần thiết vì vốn ngoại tệ nên được dùng cho các hạn mục kinh tế có ưu tiên cao hơn. Cả ba loại hình kinh tế này sẻ tạo ra nguồn vốn cho các loại hình kinh tế khác tạo ra công ăn việc làm có mức thu nhập cao hơn trong Việt Nam trong các thập niên tới. Có nhiều ý kiến khác nhau, khi doanh nghiệp tại Việt Nam muốn phát triển hình thức hay bề rộng hơn là phát triển bề sâu, bởi vì họ không nhân ra tiềm năng khai thác tại thị trường trong nước và nước ngoài. Có nghĩa gia tăng mức tiêu thụ trong nước trong việc cung cấp sản phẩm nội địa có chất lượng, mẫu mã cạnh tranh với hàng ngoại. Thâm nhập thị trường nước ngoài bằng việc cung cấp linh kiện, sản phẩm mới, gia công sản phẩm trực tiếp, gián tiếp, hay qua các đối tác trung gian. Thường phương thức kinh doanh qua các hệ thống mậu dịch quốc tế và công ty bán lẻ sẻ giúp hàng hóa Việt Nam tiêu thụ được nhiều hơn. Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Nhật Bản là ba quốc gia có khả năng thâm nhập thị trường quốc tế hiệu quả, do đó các doanh nghiệp Việt Nam cần học hỏi các quốc gia này.

Việt Nam đả mở cửa kinh tế cho nguồn đầu tư nước ngoài, nhưng có nhiều yếu tố con người mà Việt Nam chưa khai thác ở mức độ rộng lớn, hiệu quả, cạnh tranh nhằm biến một nền kinh tế 104 tỉ USD thành một nền kinh tế 1000 tỉ USD. Có nghĩa trong năm 2010, mức thu nhập bình quân của một người dân là 3100 USD, thì mức thu nhập đó có thể gia tăng gấp gần mười lần, nếu không tính việc gia tăng dân số trong vòng 20 năm sau. Có nghĩa vào năm 2030, mức thu nhập của người dân Việt Nam là khoảng 31000 USD, như do GDP tăng lên 10 lần, đồng thời dân số củng sẻ gia tăng vược qua con số 100 triệu người, như vậy mức thu nhập của người dân Việt Nam nằm trong khoảng 25000 USD đến 28000 USD. Đó là điều lý tưởng mà mọi người dân Việt Nam đều mơ ước đến.

Thị trường Việt Nam đang tạo ra những trả lời cho các nhà đầu tư nước ngoài: (1) nguồn nhân công vừa rẻ, vừa mang giá cạnh tranh, (2) các chi phí sản xuất ở mức cạnh tranh khu vực, có nghĩa giá thành của một sản phẩm tại nhà máy ở Việt Nam có mức thấp hơn các quốc gia khác trong khu vực, (3) khai thác triệt để tài nguyên để tận dụng nguồn vốn tự có trong nước và tạo ra công việc cho người dân, nhưng đồng thời phải chuyển đổi sang các ngành kinh tế cần nhiều kiến thức, công nghệ cao, khả năng sáng tạo và khả năng nghiên cứu ứng dụng, (4) vị trí giao thông cho việc xuất khẩu các loại hàng hóa và dịch vụ sang các thị trường lân cận và thế giới, (5) thị trường chuyển tiếp cho các chức năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm từ công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nông sản, thủy sản, dược phẩm, y tế, và sinh hóa, (6) sản phẩm tài chính cho khu Đông Nam Á trong tương lai và (7) hệ thống hạ tầng cơ sở tiện nghi và hiệu quả, và (8) chuyển dần từ nền kinh tế có qui mô nhỏ và vừa thành nền kinh tế có qui mô lớn toàn cầu. Ngoài ra thị trường Việt Nam còn có tiềm năng phát triển toàn diện kinh tế du lịch và y tế cao cấp cho khách nước ngoài. Nhưng các loại hình kinh tế này cần có sự đầu tư đúng và hệ thống hóa nhằm đảm bảo gìn giử nét văn hóa, di tích lịch sử, môi trường sinh thái, xây dựng và hoà hợp với cảnh quan của môi trường.

Thị trường ViệtNamgiống như một hồ nước nhỏ (104 tỉ USD của GDP) muốn có nhiều nước (mức tiêu thụ lên đến vài trăm tỉ hay vài ngàn tỉ USD) để cung cấp nhiều hạng mục kinh tế quốc dân thì chính phủ cần nối kết với các hồ nước khác lớn hơn (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc, Trung Đông, Nam Triều Tiên, Đài Loan) giúp cho tốc độ phát triển kinh tế nội địa vược qua con số 10% một năm (lý tưởng là 12% và lạm phát dưới 3%). Khi các nhà đầu tư trong nước luôn quan trọng kiếm lời ngắn hạn qua các dự án địa ốc, thì bản thân họ đả bỏ qua các giá trị lợi nhuận lâu dài tại thị trường trong và ngoài nước. Số vốn hàng triệu USD hay hàng tỉ USD đả được đầu tư không đúng chổ làm cho nền kinh tế trong nước bị yếu đi và giảm khả năng tồn tại trong sự lớn mạnh của các nền kinh tế trong khu vực. Ngoài ra họ quên một điều là giá trị của thị trường địa ốc lệ thuộc vào mức tăng trưởng của thị trường nội địa, mức thặng dư mậu dịch, mức tiền gửi tiết kiệm, ngoại tệ từ nước ngoài chảy vào Việt Nam, mức thu nhập của người dân trong nước, lợi nhuận của các doanh nghiệp trong nước, giá trị của thị trường cổ phiếu và khả năng cung ứng tín dụng cho sản xuất và tiêu dùng.
Có nhiều loại đầu tư được gọi là đầu tư chiến thuật và chiến lược nhằm tạo ra các loại đầu tư khác. Đầu tư vào nhà đất tại Việt Nam được xếp vào loại đầu tư chiến thuật, nhưng không phải chiến lược. Vì nó chỉ là một loại “cờ bạc nội địa” mang tính hợp pháp, giống như việc tham gia vào các loại hình cờ bạc ở Ma-Cao, Trung Quốc hay Las Vegas ở Hoa Kỳ. Ngoài ra nhà đầu tư thường bỏ qua các thống kế toán chính sát như sau: mức tăng trưởng của nền kinh tế, mức mở rộng của doanh nghiệp để thuê mướn văn phòng, mức cầu của nhà ở, căn hộ, nhà riêng, trung tâm thương mại tính theo tỉ lệ dân số trung khu vực, mức thu nhập của người dân, nguồn vốn lưu động trong thị trường. Chính phủ có thể khống chế thị trường địa ốc bằng nhiều biện pháp: thuế đất theo từng khu vực riêng như quận, phường trong một thành phố; thuế mua bán, hạn chế cấp giấy phép xây dựng và kinh doanh nhà ở để giảm kẹt xe, hay qui đi việc lưu hành xe theo giờ và có mức thuế lưu thông, để khuyến khích người dân đi xe buýt, xe điện, và các loại phương tiện công cộng hay đi chung xe với nhau. Hạn chế việc phát triển xây dựng tại các khu mang giá trị lịch sử , truyền thống văn hóa; đồng thời khuyến khích việc phát triển ra các vùng ngoại thành, nhưng vẩn cân nhắc cho các vùng đất sử dụng cho canh tác hay phát triển kinh tế nông nghiệp. Giá trị mà nền kinh tế Việt Nam cần là phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng có khả năng cung ứng các loại dịch vụ cần thiết cho nền kinh tế xuất khẩu tiêu dùng, công nghiệp, du lịch trong tương lai. Như con đường cao tốc bắc nam không chi rút ngắn sự cách biệt về mức thu nhập, trình độ phát triển giữa các vùng, mà nó còn gia tăng số lượng du khách di du lịch bằng xe điện và gia tăng nguồn hàng sản xuất và lưu thông trong cả nước. Khái niệm sống ở miền bắc hay miền nam sẻ không còn nửa khi xe điện cao tốc chạy từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh chỉ mất từ 6 giờ đến 7 giờ đồng hồ. Đó là bước đột phá về không gian, thời gian và làm việc giữa ba miền bắc, trung và nam trong thời gian sắp đến.

Nếu có ba khu vực được chọn cho việc phát triển thành ba khu kinh tế đặc biệc tương đương với ba quốc gia – Singapore, Đài Loan và Hồng Kông – thì số vốn đầu tư từ nước ngoại, củng như thu nhập hàng năm của ba trung tâm này đủ sức tài trợ cho vốn xây dựng tuyến xe điện bắc nam lên con số 60 tỉ USD hay 100 tỉ USD. Kinh tế Việt Nam sẻ vượt qua con số 1000 tỉ USD, mà nó cần có sự đóng góp của nhiều loại ngành kinh tế chủ đạo tạo ra lợi nhuận từ kinh tế xuất khẩu tiêu dùng, kinh tế du lịch. Do đó các doanh nghiệp, ngân hàng, cá nhân nên chọ các dự án đầu tư vào sản xuất xuất khẩu hơn là thị trường địa ốc. Số vốn đầu tư vào thị trường địa ốc có thể được khai thác vào các loại hình kinh doanh có giá trị lâu dài hơn tạo ra tác động phát triển của nền kinh tế tiêu dùng và xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030.

Mậu dịch quốc tế đa dạng tạo ra những hiệu ứng tương tác trong cơ cấu vận hành của kinh tế thị trường. Khi nhóm thu nhập cao của thị trường Việt Nam vẩn là con số nhỏ, và nhóm thu nhập thấp chiếm số đông, thì giá trị mà nền kinh tế Việt Nam cần hoàn thiện là các loại kinh doanh trực tiếp sản xuất tiêu dùng chó giá trị cạnh tranh cao tại thị trường trong nước và nước ngoài. Gia tăng người Việt Nam dùng hàng Việt Nam để giử nguồn ngoại tệ cho việc mở rộng nền kinh tế. Gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế nhằm gia tăng thu nhập từ thặng dư mậu dịch quốc tế cho việc nâng cao khả năng sản xuất, điều kiện sinh sống của người dân. Thành lập hệ thống thuế hiệu quả nhằm tạo ra ngân sách cho chính phủ thực hiện các chương trình xã hội, sức khỏe, giáo dục, an ninh quốc phòng và bảo tồn môi trường, di tích lịch sử.
Như vậy ViệtNamsẻ đáp ứng những nhu cầu cho khách hàng trong và ngoài nước nhằm thu hút nhiều đầu tư tạo ra công ăn việc làm, cải thiện mức sống của người lao động trong nước. Thị trường sẻ hoạt động nhộn nhịp hiệu quả hơn khi gia tốc được nguồn ra là công việc từ các khu kinh tế đặc biệt, khu chế xuất, các doanh nghiệp trong nội thành, vùng nông thôn, cao nguyên, khu du lịch, các thành phố cảng, ven biển trong nhiều loại hình kinh doanh như doanh nghiệp nội địa, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài. Khi nhà đầu tư Việt Nam gia tăng tốc độ lợi nhuận từ các giao dịch tại thị trường địa ốc và cổ phiếu sẻ góp phần tạo ra các cơn sốt giả tạo không những gây nguy hại cho việc vận dụng vốn phát triển cho các ngành công nghiệp và kinh tế tiêu dùng xuất khẩu. Nhất là cần quan tâm các giá trị thực của nền kinh tế Việt Nam qua mức xuất khẩu luôn lớn hơn mức nhập khẩu, mức lạm phát nhỏ hơn 3%, vốn nước ngoài được phân bổ đều vào các ngành trực tiếp tạo ra giá trị tăng trưởng của GDP. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư quá nhiều vào thị trường địa ốc, thì họ củng sẻ tạo ra cơn sốt tăng ngắn hạn và có nguy cơ tạo khủng hoảng khi nhu cầu thật quá nhỏ so với mức cung quá lớn. Còn việc đầu tư vào các tòa nhà văn phòng, khách sạn, trung tâm thương mại tại trung tâm thành phố đều lệ thuộc vào tốc độ tăng trưởng GDP và giao dịch quốc tế quyết định mức cầu. Điều này có thể được hiểu theo hai ví dụ sau.

Một ngân hàng thương mại có số vốn hoạt động là 1 tỉ USD. Sẻ tìm khách hàng để cho vay vốn kinh doanh. Trong đó có 5 khách hang đến vay vốn. Ba khách hang mượn vốn để mua đất và xây dựng nhà ở hay văn phòng cho thuê, hai khách hang mượn vốn cho việc mở rộng kinh doanh xuất khẩu. Nếu 3 khách hàng mượn vốn kinh doanh bất động sản đồng ý chi trả tiền lời là 10% một năm như mang rủi ro cao nếu không thu hồi vốn được. Còn hai khách hang mượn vốn cho việc kinh doanh sản xuất đồng ý tra tiền lời là 9% một năm như rủi ro thấp cho việc tạo ra lợi nhuận và hoàn trả vốn vay. Nếu ngân hàng vì lợi nhuận ngắn cho ba khách hang vay vốn đầu tư vào thị trường địa ốc và bỏ qua hai khách hang kinh doanh sản xuất, thì ngân hàng này sẻ tạo những nguy cơ to lớn cho cả nền kinh tế trong nước khi vốn vay không thu hồi được và tạo ra hoang mang cho người đầu tư gửi tiền vào ngân hang. Trường hợp xấu, chính phủ phải can thiệp bằng cánh là trả nợ dùm cho ngân hàng để tạo uy tính cho thị trường tài chính. Điều này đả xảy ra tại Hoa Kỳ, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á và Châu Âu.

Trong trường hợp thứ hai, ngân hàng cho một doanh nghiệp may mặc vay vốn để nâng cấp hệ thống thiết bị và tìm khách hàng nước ngoài. Doanh nghiệp này tạo ra các hợp đồng liên tục trong các năm tiếp theo tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, tiền lời trả cho ngân hàng, từ từ trả hết vốn, và tiếp tục mở rộng kinh doanh sản xuất. Như vậy việc ngân hàng quyết định cho lựa giữa hai khách hàng là nhà đầu tư địa ốc và doanh nghiệp may mặc sẻ tác động đến nền kinh tế của Việt Nam như thế nào. Lợi nhuận mà ngân hàng thu được là tiền lời và vốn, cùng với việc tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Một công ty có 10,000 lao động sẻ có nhiều ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế hơn là lợi nhuận mà một nhà đầu tư địa ốc tạo ra cho thị trường. Ví dụ, một nhà đầu tư địa kiếm lợi nhuận là 2 triệu USD, đóng tiền lời là 300 ngàn USD cho ngân hàng. Còn doanh nghiệp may mặc tạo ra lợi nhuận là 500 ngàn USD trong các năm tiếp theo, đóng lợi nhuận cho ngân hàng là 200 ngàn USD trong các năm tiếp theo, đồng thời tạo ra công việc cho 10,000 lao động sẻ có thu nhập là 100 USD cho mổi nhân công một tháng hay 1200 USD một năm, tạo ra một sức cầu trong thị trường tiêu thụ là 1.2 triệu USD của 10,000 nhân viên. Trong khi đó nhà đầu tư có lợi nhuận là 1 triệu USD, phải trà tiền lời là 300 ngàn, chỉ còn lại là 700 ngàn USD, nên có thể mua những món đồ nào đó có giá trị ít hơn 700 ngàn USD. Nhưng đó chỉ là một tác động đơn giản của một khách hàng có thu nhập cao trong thị trường so với tác động của 10,000 khách hàng có sức mua là 1.2 triệu USD. Đồng thời 1.2 triệu USD đó lại tạo ra công việc cho những doanh nghiệp nhỏ như tiệm cơm, cửa hàng bách hóa, tiệm bán quần áo, tiệm thuốc tây, và các loại hình kinh doanh khác. Ngân hàng đóng vai trò trung gian của việc điều phối vốn từ nhà đầu tư tài chính, sự gia tăng hoạt động vốn của ngân hàng khi có nhiều doanh nghiệp kinh doanh có lời. Đó là lợi ích của sự tác động domino trong nền kinh tế theo hai giá trị vĩ mô và vi mô. Chính phủ và các ngân hàng cần hiểu khái niệm này cho việc phát triển kinh tế lâu dài. Chính phủ muốn nhân dân có công ăn việc làm, còn ngân hàng muốn thu lợi nhuận và gia tăng vốn kinh doanh theo sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Các Giá Trị Cơ Bản Của Nền Kinh Tế Thị Trường

“Nền kinh tế thị trường vẩn có thể hoạt động khi có sự can thiệp của chính phủ nhằm hạn chế các hành vi đầu cơ, trục lợi. Nhưng mối quan hệ cung cầu thì do nhà sản xuất và người tiêu dùng quyết định. Nhà nước có thể tác động đến nhà sản xuất và người tiêu dùng nhằm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các công cụ tài chính, luật pháp, hỗ trợ khác nhau.”

*****

Thị trường mang nhiều nết đặc thù về văn hóa và chính trị hay triết lý nhằm tạo ra cơ cấu hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả cho việc phân phối giá trị lao động, giá trị trao đổi, giá trị tương đối của hai giá trị này theo thời gian và không gian. Giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng có thể luôn là động lực tác động đến việc phát triển của nền kinh tế mà nó lại chịu sự tác động của cơ cấu thị trường vận hành theo xu hướng sản phẩm hay dịch vụ mới luôn tốt hơn các sản phẩm trước. Trong khi đó các biện pháp điều chỉnh giá cả do sự quản lý hiệu quả, và các phương tiện khoa học kỷ thuật tăng sản lượng, chất lượng nhưng giảm giá thành sẻ gia tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm tạo ra. Ngoài ra giá cả sản phẩm còn lệ thuộc vào giá cả của nguyên vật liệu, nguyên nhiên liệu nhập từ nước ngoài. Ngoài các tác nhân tự nhiên phát sinh tác động đến sự phát triển của nền kinh tế hay mức cung và mức cầu, chính phủ và hệ thống tài chính và phương thức tiết kiệm và lải xuất ngân hàng có thể tạo ra những xúc tác nhân tạo giúp cho nền kinh tế phát triển. Các quốc gia tiên tiến đả áp dụng nhiều biện pháp giúp nền kinh tế phát triển với tốc độ cao trong từng loại hình kinh doanh, mậu dịch đặc biệt. Kinh tế sẻ hoạt động hiệu quả khi cả hai phương thức - tự nhiên và nhân tạo – cùng phối hợp để tạo ra những động lực chuyển đổi to lớn.

Trung Quốc gia tăng dự trử ngoại tệ để quản lý tỉ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu, mà xuất khẩu thì tạo ra công việc và sự giàu có của nền kinh tế quốc gia. Mà muốn có một nền kinh tế mạnh về xuất khẩu thì, Trung Quốc phải gia tăng phát triển công nghệ và khả năng cạnh tranh trên diện rộng của thị trường toàn cầu. Cán bộ quản lý và nhân viên Việt Nam có thể học hỏi các lý thuyết và thực hành quản lý kinh tế, kinh doanh tại các đại học Úc, Singapore, Thái Lan, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Canada, nhưng củng đồng thời thay đổi theo hoàn cảnh của xã hội Việt Nam tạo ra các ưu thế cạnh tranh do phương cách quản lý nguồn nhân lực, tài nguyên và việc phát triển sản phẩm và công nghệ. Kinh tế chính trị và kinh tế thị trường có thể dung hòa tại Việt Nam. Vinashin là một bài học mà chính phủ Việt Nam cần tránh khỏi khi muốn phát triển một tập đoàn kinh doanh, đầu tư và sản xuất có mức doanh thu hàng tỉ USD. Muốn quản lý được một tập đoàn có 100% vốn của chính phủ, thì chính phủ cần thuê mướn chuyên viên quản lý có trình độ về kinh tế vĩ mô, vi mô và khả năng nhạy bén với sự thay đổi của thị trường trong và ngoài nước. Sự tác động của Vinashin không chỉ ảnh hưởng đến vốn trong nước mà còn uy tính của chính phủ trong quản lý kinh tế đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Vinashin có thể phục hồi trong thời gian 5 năm, nếu ban giám đốc biết ứng dụng các công nghệ nước ngoài cho việc đóng tàu và bán cho các khách hàng trên thế giới. Các sản phẩm như tàu chở hàng, chở công-ten-nơ, công-ten-nơ, tàu du lịch, phà, tàu đánh cá, du thuyền, tàu quân đội, ca-nô đều có thể bán cho thị trường nội địa và nước ngoài. Nhưng Vinashin cần áp dụng nhiều phương thức để tiếp thu công nghệ tiên tiến, hoàn thành sản phẩm nhanh nhất, chất lượng cao nhất, giá thành hạ nhất. Các loại kinh doanh phụ nên hạn chế, vị thị trường Việt Nam và nước ngoài cần rất nhiều các loại sản phẩm lien quan đến vận chuyển hàng hải, công nghiệp hàng hải, đánh bắt cá, tàu quân sự và du thuyền.

Nếu giá trị gia tăng không được khai thác cho việc cải thiện mức thu nhập, điều kiện tiện nghi cho cuộc sống hiện đại của người lao động, nó sẻ gây ra hiện tượng đình trệ không phát triển trong các loại hình kinh doanh trong xã hội. Ví như một cây gổ quí được khai thác từ trên Cao Nguyên và vận chuyển về xưởng gia công đồ gổ ở khu chế xuất Thủ Đức. Một khúc cây ban đầu không có nhiều giá trị xử dụng, nhưng khi được chọn kiểu cho sản phẩm, sẻ được chuyển qua các khâu xử lý và gia công, đánh bóng, cưa xẻ, đóng hay dán keo, đục đẻo hình dáng và chạm khắc hoa văn, cuối cùng là kiểm tra chất lượng và đóng bao bì cho việc vận chuyển ra cảng tàu chuyển đến đại lý tiêu thụ trực tiếp bán cho khách hàng trong và ngoài nước. Điều đương nhiên là không thể không kể đến bộ phận tiếp thị giúp khách hàng hiểu được các sản phẩm, chất lương, giá cả. Hay bộ phận phục vụ khách hàng luôn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng. Những khâu trong quá trình sản xuất vừa rồi gọi là quá trình bổ xung gia tăng giá trị. Giúp tăng thêm giá trị bán ra của sản phẩm. Giống như trường hợp một sinh viên tốt nghiệp đại học, anh ta có thể hy vọng kiếm được 4 triệu đồng một tháng. Nhưng sau đó, anh ta nhận ra, nếu anh ta chịu khó học thêm hai năm nửa lấy bằng thạc sỉ kinh tế, với chi phí là 30 triệu, nhưng anh ta sẻ có thể kiếm được một việc làm khác có mức lương cao hơn là 10 triệu đồng một tháng cho khoảng thời gian dài trong tương lai vượt xa con số 30 triệu tiền học phí cho chương trình thạc sỉ. Có nghĩa anh ta đả tự gia tăng giá trị lao động của mình bằng việc học thêm bằng thạc sỉ kinh tế.

Các loại sản phẩm tiêu thụ trên thị trường đều trải qua quá trình gia tăng giá trị bằng máy móc, sự sáng tạo, và các phương thức quản lý hiệu quả của doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm đó. Việc phát triển kinh tế dựa trên các công đoạn gia tăng giá trị đả thành công tại Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông, Ấn Độ và các quốc gia công nghiệp phát triển trên thế giới. Khi mức thu nhập gia tăng, hay số lượng công việc dư thừa trên thị trường, thì người lao động sẻ tự phát đi tìm công việc có mức lương cao hơn. Đó chính là tác động tích cực mà thị trường lao động tạo ra cho mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người lao động. Nhà sản xuất và người lao động khi mua sắm trong thi trường thì trở thành người tiêu dùng. Đó là sự quan hệ qua lại của các tác nhân trong một thị trường. Chính phủ thường mang đến ba vai trò trong nền kinh tế: (a) trong tài phân sử các mối quan hệ kinh tế, (b) nhà sản xuất khi cung cấp các loại dịch vụ như bảo vệ quốc phòng và phục vụ y tế giáo dục cho nhân dân; (c) người tiêu dùng khi mua các sản phẩm từ doanh nghiệp trong và ngoài nước như thiết bị chuyên dùng, máy bay quân sự, máy phát điện, xe chuyên dùng.

Khi chia nền kinh tế ra ra hai nhóm tác nhân – vĩ mô và vi mô – thì chính phủ sẻ hoạt động ở cấp độ vĩ mô thông qua các chính sách thuế, tỉ lệ lải xuất ngân hàng, tiền trợ cấp và khả năng hổ trợ các doanh nghiệp trong nên kinh tế, phát hành tiền tệ. Doanh nghiệp sẻ hoạt động ở cấp độ vi mô là đầu tư, kinh doanh và tạo ra sản phẩm, dịch vụ kinh doanh cho khách hàng tại thị trường trong và ngoài nước. Doanh nghiệp sẻ hoạt động thông qua mối quan hệ giữa cung và cầu bằng việc phân tích thị trường, lẩn các yêu cầu trực tiếp của khách hàng cho những kế hoạch chiến lược cho việc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường trong và ngoài nước. Yêu cầu tiếp theo là vốn, thiết bị máy móc, chất lượng, số lượng, giá cả, thiết kế, quản lý, tiếp thị, cải tiến, đầu tư, thương lượng cho sự cạnh tranh toàn diện với các đối thủ để dành nhiều hơn về thị trường cho doanh thu và các giá trị kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó chính phủ giữ vai trò quản lý kinh tế ở mức kinh tế vĩ mô bằng các công cụ như quản lý vốn vay trong thị trường nội địa, mức lãi xuất tiền lời, vận chuyển của vốn vào và ra của các nhà đầu tư nước ngoài, luật đầu tư, luật kinh doanh, luật sở hữu, và luật chuyển vốn hay giao dịch các loại sản phẩm đặc biệc như nhà cửa, đất đai, các doanh nghiệp quan trọng. Chính phủ củng có thể kích thích các nhu cầu tăng trưởng kinh tế qua nhiều biện pháp khác nhau: ngân sách, vốn vay lãi xuất thấp cho các ngành kinh tế quan trọng, ngân sách giáo dục, quản lý tỉ giá hối đoái cho lợi ích của các nhà xuất khẩu trong nước.

ViệtNamcó câu thành ngữ, ''Với sức người, sỏi đá củng thành cơm.'' Câu nói này có thể được giải thích theo nghĩa kinh tế là dù một quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản như Nhật Bản, nhưng với ý trí, cố gắng, chuyên cần, học hỏi, nhạy bén, và thực dụng sẻ đem lại những thành quả to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Từ quan niệm đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam, doanh nghiệp trong nước, cán bộ, nhân viên có thể nhận ra giá trị lao động của mình qua những nổ lực thật sự trong việc khai thác cơ hội trên thị trường để tạo ra sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Khách hàng là người sẳn sàng trả tiền để sở hữu sản phẩm hay sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên ngừơi mua và người bán.

Thị trường quốc tế mang tính đa dạng của nhu cầu và cung cấp vì tập hợp đủ loại ngành nghề, kinh doanh, dịch vụ hoạt động và vận hành theo những giá trị, tiêu chuẩn, chất lượng, giá cả, luật pháp theo nguyên tắc phục vụ cho quyền lợi của người tiêu dùng, yêu cầu sức khỏe và luật lao động khác nhau. Do đó doanh nghiệp ở Việt Nam, dù là quốc doanh hay tư nhân, đều cần nắm bắt chi tiết của từng thị trường trước khi có những kế hoạch kinh doanh vả đầu tư mang tính khả thi tạo ra lợi nhuận lâu dài. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp củng nên tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước để tìm ra các phương thức kinh doanh hiệu quả giảm giá thành, tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm, cải tạo mẩu mả hợp lý và tạo ra nhiều chọn lựa cho khách hàng. Nhất quyết là phải giử uy tín cho sự phát triển mối quan hệ lâu dài và toàn cầu của khách hàng. Kỷ thuật thiết bị, hệ thống thông tin, năng lực của đội ngũ nhân viện, khả năng tiếp thị, động viên và quản lý nhân sự cho hiệu quả và năng xuất của nhân viên, và quản lý khách hàng sẻ là các khâu cần thiết cho doanh nghiệp hòa nhập vào thị trường thế giới.

Mỗi thị trường có tính cạnh tranh khác nhau vì do nhiều nguyên nhân. Giá lao động thấp, thiết bị sản xuất hiện đại, điều kiện làm việc ưu đải, sức khỏe được đảm bảo cho công nhân làm việc trong môi trường thuận lợi tăng hiệu xuất, năng xuất, chất lượng của công việc. Ngoài ra chính phủ còn hổ trợ bằng các biện pháp tài chính như cho vay lải xuất thấp giúp các doanh nghiệp sản xuất với giá thành hạ để cạnh tranh với lượng bán ra nhiều cho lợi nhuận để tái đầu tư và việc tăng khả năng cạnh tranh. Chính phủ củng có thể bù lổ tài chính để doanh nghiệp bán giá rẻ sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế. Ví dụ, doanh nghiệp cần bán một tivi màn hình phẳng 21-inch trên thị trường Hoa Kỳ là 250 đô la; nhưng vì muốn cạnh tranh với sản phẩm Trung Quốc với giá bán là 240 đô la, chính phủ sẻ bù lổ 15 đô la cho mổi tivi xuất sang Hoa Kỳ, giúp doanh nghiệp bán cho nhà tiêu thụ Hoa Kỳ là 235 đô la. Ví dụ này không được áp dụng thực tế, nhưng bù lại là chính phủ xữ dụng biện pháp hạ giá trị của đồng tiền nội địa so với đồng tiền của thị trường nhập khẩu sản phẩm hàng nội địa. Chính sách này giúp hàng hóa của doanh nghiệp trong nước bán rẻ hơn ở thị trường nước ngoài. Chính sách thuế xuất khẩu giảm hay thuế nhập nguyên vật liệu thấp cho hàng xuất khẩu củng giúp các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu giảm giá thành do chi phí thấp. Đầy chỉ là một ví dụ về chính sách bù lổ tài chính của chính phủ trong một số ngành kinh tế như sản phẩm nông nghiệp trong một quốc gia, nhưng đây không phải là biện pháp khả thi cho kinh tế lâu dài. Tuy nhiên nhiều quốc gia có sự hổ trợ vốn cho các ngành như nông nghiệp, công nghiệp nặng, công nghiệp quốc phòng, hay công nghiệp hàng không vì chính phủ muốn quốc gia có những ngành công nghiệp và kinh tế quan trọng tồn tại độc lập. Thường chính phủ hộ trợ về ngân sách nghiên cứu và phát triễn sản phẩm mới, giúp các doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh với các công ty nước ngoài. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nam Triều Tiên đả áp dụng phần nào phương thức này cho các ngành công nghiệp quan trọng như quốc phòng, công nghiệp cơ khí, thiết bị viển thông, chế tạo máy bay, chế tạo xe điện.

Với sự hổ trợ như vậy, thì tiền ở đâu chính phủ lấy ra bù lỗ cho các doanh nghiệp? Chính phủ sẻ lấy ra từ các ngân sách hay thăng dư mậu dịch, củng có thể do bán công trái trên thị trường tài chính. Chính phủ có lúc phải duy trì số lượng người có công ăn việc làm trong nước và áp dụng các chính sách đối nội làm ổn định mức sống giữa các khu vực kinh tế khác nhau. Chính phủ luôn quan tâm đến các trị số cơ bản của nền kinh tế như mức tăng trưởng của GDP, tỉ lệ thất nhiệp, tỉ lệ lạm phát, mức chi tiêu ngân sách, cán cân mậu dịch quốc tể để điều chỉnh bằng các biện pháp thích hợp. Ngoài ra các ngành kinh tế xuất khẩu hay tiêu dùng có doanh thu cao sẻ tạo ra các nguồn thu ngân sách cho chính phủ thông qua thuế doanh nghiệp, thuế tiêu dùng, thuế thu nhập, và thuế bất động sản, thuế xuất nhập khẩu. Các quốc gia muốn hạn chế nhập khẩu loại hàng hóa nào đó, hay hạn chế người tiêu dùng tiêu thụ loại hàng hóa nào đó, chính phủ sẻ áp dụng mức thuế cao và các loại thuế lien quan khác tạo ra sự kho khăn hay giảm đi nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng trong nước. Singapore đả áp dụng thuế cao và thuê lưu hành xe theo giờ nhằm giảm nạn kẹt xe và mức độ ô nghiễm không khi do khí thải tạo ra.

Khi mọi công dân nhận ra tại sao họ phải đóng thuế; giá trị của thuế giúp chính phủ hoàn thành các nghĩa vụ xã hội, an ninh quốc gia, cung cấp các nhu cầu tối thiểu cho nhân dân thông qua các chính sách do quốc hội đề ra, và còn duy trì khả năng hoạt động của bộ máy chính quyền hiệu quả hơn. Cán bộ và nhân viên làm việc cho chính phủ đều lảnh lương từ nguồn thuế mà chính phủ thu được. Do đó mức thu nhập của cán bộ và nhân viên sẻ tăng lên khi nguồn thuế được cải thiện hiệu quả hơn trong tương lai. Có quốc gia thu thuế lên 45% hay 50% thu nhập của người dân. Nhưng bù lại ngươờ dân được miễn phí cho giáo dục, y tế và các loại dịch vụ khác. Điển hình là các quốc gia như Na-Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Pháp, Đan Mạch đều áp dụng mức thuế cao, nhưng lại cung cấp miễn phí các loại dịch vụ như y tế, giáo dục cho người dân hay tiền hưu trí cho người cao niên trên 65 tuổi.

Ngoài ra, nếu người lao động chỉ mang khái niệm kiếm đủ tiền lo cho các chi phí tối thiểu, thì khả năng sáng tạo và vươn lên của họ sẻ bị giới hạn ở một mức nào đó. Kinh tế thị trường không mang giá trị của khái niệm số phận, mà nó phát huy giá trị lao động, giá trị trao đổi, giá trị cạnh tranh giữa các tác nhân tham gia trong thị trường. Mổi cá nhân tham gia vào thị trường chỉ cần nắm vững các yếu tố sau đây thì họ sẻ có thể chuyển đổi cuộc đời của họ bằng chính đôi tay lao động, khối óc sáng tạo, và tính chuyên cần chịu khó: (1) giá trị lao động chỉ mang ý nghĩa tạm thời, nó sẻ thay đổi theo thời gian, không gian, chẳn hạn mức lương của một nhân viên; (2) chức vụ là khái niệm tương phản cho giá trị lao động lệ thuộc vào thời gian và không gian; một người làm nhân viên bán hàng khi 24 tuổi, nhưng lại được thăng cấp dần thành giám đốc bộ phận tiếp thị khi 35 tuổi; (3) kiến thức luôn có thể được nâng cấp, cải thiện cho việc thay đổi giá trị lao động thông qua thay đổi chức vụ; (4) khái niệm liên kết giữa các giá trị lao động tạo ra hiệu quả lớn hơn cho việc tạo ra giá trị thay đổi theo cấp số.

Chẳn hạn năng xuất và giá trị lao động của ba người làm việc riêng rẻ sẻ luôn thấp hơn là sự kết hợp làm việc của ba người tạo ra một giá trị lao động mới theo công thức của chuyên môn hóa trong hệ thống làm việc dây chuyền hay làm việc theo chuyên môn tại các bộ phận khác nhau. Một khách hàng đến một công ty quảng cáo để thuê công ty làm chương trình quảng cáo cho sản phẩm là quần áo thời trang. Người đầu tiên tiếp xúc với khách hàng là nhân viên tiếp tân. Khi nhân viên tiếp tân nhận ra nhu cầu đặc biệc của khách hàng là quảng cáo sản phẩm quần áo thời trang, sẻ yêu cầu khách chờ hay lấy hẹn. Rồi tiếp theo là gọi cho bộ phận làm việc với khách hàng. Nếu nhân viên nhận đơn đặc hàng của khách hàng có thời gian sẻ tiếp khách ngay lúc đó hay vào lần hẹn sớm nhất. Hay có một nhân viên chuyên môn khác có thể tiếp khách hàng vì không muốn công ty mất khách. Khách hàng sẻ có cuộc trao đổi riêng với nhân viên chuyên môn về sản phẩm quảng cáo, giá quảng cáo và hiệu quả của việc quảng cáo. Khi khách hàng thảo thuận xong giá cả thì lúc đó, khách hàng sẻ phải làm việc với nhân viên thu ngân cho việc nhận tiền ứng trước cho hợp đồng quảng cáo đả được ký giữa khách hàng và người nhận đơn đặc hàng của công ty quảng cáo. Khi nhân viên thu ngân nhận tiền và đưa biên nhận cùng với hợp đồng làm quảng cáo cho khách hàng, thì khách hàng có thể yên tâm ra về. Sau đó đơn đặc hàng sẻ chuyển đến nhóm làm quảng cáo để thực hiện phương án hoàn thành trong thời gian ngắn nhất. Điều này cho thấy một công ty quảng cáo sẻ cần nhiều người tham gia vào các công đoạn khác nhau để phục vụ các loại đơn đặc hàng khác nhau ở hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất. Lương của từng nhân viên củng khác nhau, dựa vào trình độ chuyên môn và thời gian thực hiện nhiệm vụ của họ.

Khi người lao động nhận ra sự khác biệt này, họ sẻ phát huy các giá trị: tinh thần trách nhiệm, hổ trợ lẩn nhau, trao đổi kinh nghiệm và nghiệp vụ, tinh thần phấn đấu học hỏi cho giá trị gia tăng của giá trị lao động - bao gồm mức lương và chức vụ. Giá trị lao động chỉ là tạm thời củng như giá trị chức vụ, bởi vì người lao động có thể nhận được sự khen thưởng qua mức lương cao hơn hay được đề bạc chức vụ. Bên cạnh đó một khái niệm khác là tái tạo và cải thiện môi trường giúp mọi thành viên trong xã hội có nhiệm vụ phải cống hiến cho xã hôi. Ý thức tự giác, chia sẻ, và trách nhiệm là ba yêu cầu cần có, nhưng chưa đủ cho các thành viên trong xã hội mới. Giống như việc đóng góp tiền bạc của các mạnh thường quân trong công tác xã hội được phản ánh là góp phần cải thiện môi trường sống cho những người không may mắn hơn, và tạo điều kiện cho người đó vươn lên trong cuộc sống. Các quốc gia tiên tiến thường có sự đóng góp to lớn của các chương trình viện trợ không hoàn lại cho thế giới thứ ba, các quốc gia đang phát triển nhằm nâng cao mức sống tại các quốc gia này cho sự thu hẹp khoảng cách giữa người nghèo và người giàu.

Sự mở rộng thị trường đem lại nhiều cơ hội tạo ra công ăn việc làm cho người dân trong nước. Bởi vì nhu cầu tiêu dùng trong nước chưa cao, do đó các nhà kinh doanh hy vọng sẻ bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài nhằm thu về ngoại tệ. Nguồn ngoại tệ thu được sẻ được đổi ra tiền nội địa trả lương cho công nhân, các đối tác trong nước như công ty vận chuyển, lưu trử, trả thuế, trả lải xuất ngân hàng, trả tiền lời cho nhà đầu tư, và một phần được chi ra mua nguyên vật liệu trong và ngoài nước, hay mua các máy móc thiết bị, hay xây dựng công xưởng, văn phòng. Nếu không có thị trường quốc tế, thì thị trường nội địa có phát triển đuợc không? Câu trả lời là không. Vì thị trường trong nước sẻ cần mua sắm nhiều thứ từ nước ngoài qua phương thức thanh toán ngoại hối và mậu dịch quốc tế. Nếu thị trường trong nước không xuất khẩu được thì chỉ có một phương thức thanh toán là chi trả bằng ngoại tệ vay mượn, vàng, hay ngoại tề chuyển vào thị trường nội địa qua các phương thức quà biếu hay viện trợ định kỳ. Chính vì vậy, một quốc gia muốn phát triển toàn diện cần áp dụng các phương thức trao đổi mậu dịch đa dạng từ hàng hóa tiêu dùng, nguyên vật liệu, cho vay mượn ngoại tệ để tăng khả năng thanh toán của mình với các đối tác quốc tế. Sự thay đổi mức thu nhập của một quốc gia do nhiều yếu tố tạo ra, nhưng có các yếu tố sau cần tồn tại giúp kinh tế một quốc gia phát triển: (a) lợi nhuận của kinh doanh tạo ra động lực sáng tạo và cải tiến cạnh tranh phục vụ người tiêu dùng, (b) người tiêu dùng biết chọn lựa và tác động đến sự cạnh tranh lành mạnh của nhà sản xuất, (c) chính phủ biết khai thác thu nhập từ thuế thông qua các chương trình phúc lợi xã hội và kinh tế vĩ mô tạo ra môi trường kinh doanh và sống hoàn hảo, (d) doanh nghiệp hay nhà sản xuất trong các ngành kinh tế biết tìm kiếm ngỏ ra cho sự trao đổi mậu dịch thông qua sự so sánh về giá thành và hiệu xuất sản xuất và chuyên mốn hóa cao giữa các thị trường khác nhau.

Sự kết hợp của các phương thức trao đổi và chi trả trong mậu dịch quốc tế đả thúc đẩy sự phất triển của thị trường tài chính ở Châu Âu từ thế kỷ 16. Các quốc gia nhận ra sự thuận lợi trong các phương thức trao đổi và bảo hiểm trong trao đổi sẻ tạo ra uy tín lẩn khả năng thu hút các nhà đầu tư và doanh nghiệp ở các quốc gia trong khu vực. Kinh tế quốc tế có thể thúc đẩy nền kinh tế quốc nội một cách tích cực nếu chính phủ biết vận dụng tất cả những ưu điểm và lợi thế của giá trị tích cực của nền kinh tế thị trường. Không những tạo ra nhiều công ăn việc làm cho con người, mà còn thúc đẩy quá trình cải thiện môi trường sống thông qua sự tiếp xúc trao đổi mậu dịch lẩn các hoạt động khác như du lịch, du học, hợp tác trong xây dựng, bảo vệ môi trường, văn hóa thể thao. Sự tương tác giữa thị trường này và thì trường khác tạo ra sự tăng trưởng kinh tế trong các thị trường này. Sự cạnh tranh luôn là động lực làm cho các thành viên tham gia trong các thị trường biết vận dụng khả năng chuyên môn cao như việc quản lý nhân sự, tài nguyên, công nghệ, chiến lược nghiên cứu và đầu tư, phát triển sản phẩm, giảm chi phí để thu hút nhiều khách hàng hơn và tăng thị phần của doanh nghiệp cao hơn.

Sự trao đổi mậu dịch giữa thị trường trong nước và quốc tế tạo ra một động lực liên tục kích thích nhân lực trong nước suy luận, phân tích, phấn đấu, cải thiện, học hỏi để những kết quả sau luôn tốt đẹp hơn kết quả trước. Sự cạnh trạnh luôn tạo ra sự kích thích trong tinh thần phấn đấu cá nhân kết hợp với tập thể để tạo ra sức mạnh trong quá trình tương tác giá trị của trí tuệ, sáng tạo, quản lý, điều phối, điều chỉnh các yếu tố cần thiết được tích tụ trong từng sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được các yêu cầu và thỏa mản người tiêu dùng. Doanh nghiệp luôn đặc vấn đề nghiên cứu, phân tích, và cải thiện để không ngừng gia tăng giá trị phục vụ và giảm giá thành của sản phẩm và giúp doanh nghiệp thu hút nhiều hơn khách hàng. Để giữ khách hàng cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để tạo ra những sản phẩm ưu việt phục vụ khách hàng trên thị trường.

Khi việc hoạch định kinh tế luôn bị coi như là một công việc khó khăn cho chính phủ, nhất là khi kinh tế lý thuyết và kinh tế thực nghiệm luôn tồn tại với nhau trong mỗi một nền kinh tế tạo ra những mâu thuẩn vô hình hay hữu hình trong việc giải thích cho sự bất công trong xã hội. Trong kinh tế lý thuyết, ý kiến của Adam Smith là trong những điều kiện nào đó, bàn tay vô hình sẻ tự xuất hiện và hướng dẩn các tác nhân tham gia trong thị trường đạt được những mục đích kinh tế hiệu quả nhất. Những giá trị này không thể do sự chủ quan của chính phủ can thiệp để tạo ra sản phẩm, nhưng dựa trên khả năng phân tích của sức mua của người tiêu dùng, hay là mức cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra càng có nhiều nhà sản xuất thì giá cả có xu hướng giảm đi vì có sự cạnh tranh; giúp cho quá trình sản xuất hoàn thiện hơn thông qua việc quản lý con người, tài nguyên, vốn để doanh nghiệp có thể bán được nhiều hơn hay thu hút nhiều khách hàng hơn, với giá cả cạnh tranh so với các đối thủ khác, chất lượng củng tốt hơn, mẫu mả đẹp hơn hay mang sắt thái riêng. Công ty Apple của Hoa Kỳ đả cho ra đời các dòng sản phẩm máy tính, máy nghe nhạc, điện thoại di động mang phong cách hiện đại, lịch sự và có kiểu dáng hiện đại chinh phục khách hàng toàn cầu. Trong giữa thập niên 1990, công ty Apple có khuynh hướng sắp bị phá sản, nhưng nhờ nhà điều hành Steven Job đả đem lại sự hồi sinh cho công ty này với giá trị thị trường vượt qua con số 320 tỉ USD vào tháng 1 năm 2011, gấp ba lần GDP của Việt Nam.

Nhà sản xuất tự điều chỉnh quá trình sản xuất của mình thông qua những dự đoán cho mức nhu cầu của người tiêu dùng nhằm thu được nhiều lợi nhuận. Nếu một tiệm bán quần áo niêm yết giá bán của các kiểu vừa mới ra cao hơn giá thành phẩm là 140% có nghỉa mức lợi nhuận là 40%, với hy vọng bán được là 10000 đơn vị. Nhưng vậy lợi nhuận thu được là 40% x 10000 x giá của sản phẩm. Sau đó, mức nhu cầu giảm dần, nhưng nhà sản xuất biết là có những người tiêu dùng muốn mua hay sẻ mua nếu giá bán giảm đi. Do vậy nhà sản xuất sẻ thực hiện chính sách giảm giá để bán hết số hàng còn tồn kho. Và cuối cùng là áp dụng giá gọi là dọn rác dùm cho nhà sản xuất với các sản phẩm còn xót lại trong kho với giá chỉ là 5% hay 10% của giá thành hay giá ban đầu. Nhưng vẩn có lời hơn là giữ hàng tồn kho mà không bán được. Ngoài ra, nhà sản xuất còn áp dụng chiết lược giảm giá sản phẩm bằng việc thay thế nguyên liệu hay hay chất lượng. Wal-mart là  nhà bán lẻ lớn nhất thế giới, có trụ sở chính tại Hoa Kỳ, luôn tìm mọi cách để khai thác lợi nhuận từ việc điều chỉnh giá nhằm thu hút khách hàng bình dân tạo ra lợi nhuận ở số lượng bán hàng lớn. Ví dụ mức lời 1 USD cho 1 triệu đơn vị bán hàng vẩn tạo ra lợi nhuận cao hơn là 4000 đơn vị bán hàng ở mức lợi nhuận là 100 USD.

Ngoài ra nhà sản xuất còn phân tích những thói quen mua sắm của người tiêu dùng theo tỉ lệ của mức thu nhập để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ người tiêu dùng. Bên cạnh đó sản phẩm có giá trị xử dụng và sự ưa thích có giới hạn về thời gian, do vậy nhà sản xuất luôn thay đổi mẩu mả, chủng loại, công dụng, giá thành và tạo ra những sản phẩm mới thông qua quá trính quan sát và nghiên cứu tạo ra sản phẩm. Giống như một bàn chải đánh răng bình thường có nhiều loại khác nhau về độ mềm của lông bàn chải, kích thước của tay cầm cho người lớn, con nít, và cả đầu bàn chải lớn nhỏ khác nhau phù hợp với miệng của mỗi người xử dụng. Nhưng do sự tiến bộ của khoa học kỷ thuật, nhà sản xuất áp dụng các mô tơ cực nhỏ chạy bằng pin hay pin sạt vừa tiện lợi đở mất thời gian cho người tiêu dùng. Khi động lực lợi nhuận và tiền thưởng tác động lên hoạt động của tư duy pháp triển tương tư, các nhà sản xuất khác sẻ nghiên cứu sản xuất các loại sản phẩm khác nhau phục vụ người tiêu dung. Có những sản phẩm hoàn toàn do nhà phát minh sáng chế đi trước thời đại nghĩ ra giá trị của nó như bóng đèn điện, máy bay, tàu ngầm, máy phát truyền thanh, truyền hình, tên lửa, máy ghi âm, điện thoại dây, điện thoại di động..v.v. Do đó một nền kinh tế muốn phát triển từ trong ngoài, nên có môi trường khuyến khích con người phát minh và cải tiến không ngừng các loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Có như vậy thì nền kinh đó mới đứng vững trước các thử thách của thời đại.

Do mức thu nhập khác nhau, bởi vì họ có thể mua nhiều loại sản phẩm hay dịch vụ nhiều hơn những người có mức thu nhập thấp hơn. Các nhà sản xuất có một đội ngủ chuyên nghiên cứu phát triển sản phẩm mới dựa trên nhiều khả năng: quan sát hằng ngày thói quen của con người để nhận ra những bất tiện hay khó khăn gì con người cần được cải thiện để chế ra loại sản phẩm đặc biệt trợ giúp con người. Tiếp theo là nghiên cứu khoa học ứng dụng cho người tiêu dùng. Chẳn hạn kem đánh răng. Do các kỷ sư hoá sinh nghiên cứu giúp tạo ra một loại công thức kem đánh răng vừa làm sạch răng, vừa diệt khuẩn, vừa tạo ra chất bảo vệ răng, vừa chống hôi miệng, vừa tạo ra cảm giác sảng khoái cho người tiêu dùng. Không kể đến màu sắc tạo ra cảm giác dể chịu hơn hay kích thích . Nhất là đối với người tiêu dùng nhỏ tuổi. Nhà sản xuất củng có thể ứng dụng các phát minh hiện có trên thị trường vào mục tiêu phát triển sản phẩm mới. Giống như hệ thống định vị bằng vệ tinh trước đây do bộ quốc phòng Hoa Kỳ xử dụng cho mục đích quân sự, như nay được áp dụng vào sản phẩm tiêu dùng là máy chỉ đường đi, hay là thiết bị tìm người mất tích gắn trong điện thoại di động, xe hơi hay các phương tiện khác. Mỗi nhà sản xuất sẻ tự nghiên cứu và chọn lựa hướng đi cho mình nhằm thỏa mản nhu cầu của khách hàng.

Nhu cầu của người tiêu dùng kích thích nhà sản xuất tạo ra sản phẩm. Người tiêu dùng sẻ tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên các chính sách mà chính phủ áp dụng có lợi cho việc phát triển nền kinh tế. Do đó giá của sản phẩm ảnh hưởng đến người tiêu dùng, họ sè mua ít hay nhiều sản phầm đó. Nhưng mối liên quan của giá trị cung và cầu sẻ quyết định ở mức nào thị người tiêu dùng có thể mua số lượng sản phẩm với mức  giá có thể tạo ra lợi nhuận bù vào khoản chi phí sản xuất cộng với tiền lời cho nhà sản xuất tiếp tục hoạt động hiệu quả tại thị trường. Hay có thể nói là cả hai cùng có lợi. Nếu Người tiêu dùng mua ít quá, sẻ tăng gánh nặng chi phí sản xuất lên nhà sản xuất. Tức là nhà sản xuất sẻ tính số lượng sản phẩm tạo ra với giá bán có thể thu vốn cho việc chi phí kinh doanh sản xuất, nhưng chưa có lời. Do đó nhà sản xuất sẻ bán nhiều hơn số đó thì mới tạo ra lợi nhuận. Ngược lại khi người tiêu dùng mua quá nhiều hay mua mà không xử dụng đúng mức thị tạo ra sự lảng phí trong xã hội tạo ra các tác hại khác như ô nhiểm môi trường, phí tốn cho việc tái chế khi sản phẩm đem đi bỏ, tiền chi trả cho việc mua sản phẩm. Nhà sản xuất củng có thể bị thiệt hại khi bị tồn kho số lượng lớn hàng hóa không bán được. Chính vị vậy, tự nhiên mối quan hệ giữa cung và cầu sẻ tự động điều chỉnh lượng sản xuất, giá bán phù hợp cho điều kiện có lợi cho cả hai phía. Ngoài ra kinh tế thị trường luôn áp dụng công thức ai muốn xử dụng các loại sản phẩm mới đều phải trả một giá cao hơn. Do vậy những người có thu nhập thấp phải chờ một thời gian sau khi giá các loại sản phẩm này giá bán được hạ xuống thì có thể mua được. Nhà sản xuất thu lời từ người thu nhập cao đả mua trước, sau đó áp dụng nhiều công thức đả giảm giá bán ra: (1) bán số lượng nhiều với giá thành hạ, (2) giảm chất lượng để giảm giá bán ra, (3) thay đổi tính năng và xử dụng nguyên vật liệu khác nhằm giảm giá thành. Các phương thức kinh doanh này sẻ giúp một doanh nghiệp tạo ra các loại sản phẩm có mức lợi nhuận khác nhau vào từng thời điểm phục vụ cho ba loại khách hàng: (1) thu nhập cao, (2) thu nhập vừa, và (3) thu nhập thấp.

Nhu cầu tiêu dùng do các hành vi cảm tính, tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng trước một quyết định mua sắm hay xử dụng các dịch vụ. Chính vì vậy mà các nhà tiếp thị mới luôn tìm cách kích thích tâm lý tiêu dùng của người khách hàng. Sự khác nhau giữa tiêu thụ tích cực và tiêu thụ thái quá là mục đích của hoạt động tiêu thụ có thực tế hay không không thực tế. Giống như việc mua một ti-vi màu xử dụng trong thời gian là 1 năm hay 2 năm, có nghĩa người tiêu dùng chưa khai thác hết giá trị xử dụng của ti-vi đó. Đó là một chu kỳ sống của một sản phẩm. Nếu một tủ lạnh có thời hạn xử dụng là 10 năm, thì người tiêu dùng có thể trao đổi sản phẩm củng lấy sản phẩm mới khi tủ lảnh đả được xử dụng qua thời hạn là 5 năm hay 7 năm. Lúc đó người tiêu dùng cho phép họ có thể trao đổi sản phẩm củ lấy sản phẩm mới cho các ích lợi về tiện nghi, mỹ thuật, kiểu dáng và tính năng. Các quốc gia công nghiệp tiên tiến luôn tạo ra các phương thức mua bán trả sau bằng thể tín dụng, nhằm giúp người tiêu dùng có thể mua sắp dể dàng, đồng thời giúp nhà sản xuất hoạt động hiệu quả.

Bên cạnh đó, chính phủ tác động làm cho giá nhà tăng lên tạo ra tâm lý là người sở hữu nhà đả giàu có hơn. Họ sẻ dùng nhà đem thế chấp, lấy tiền tiêu xài các chi tiêu, giải trí, du lịch, mua sắm trong cuộc sống. Nhưng nợ của người tiêu dùng lại được các công ty tài chính đóng gói thành các trái phiếu, công phiếu, và cổ phiếu có bảo chứng bán ra cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là lý do mà các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, các quốc gia xuất khẩu dầu lửa đả mua nợ của chính phủ Hoa Kỳ, Châu Âu, các công ty tài chính để giúp nền kinh tế tiêu dùng của Hoa Kỳ tiếp tục phát triển. Kinh tế Hoa Kỳ có một sự hổ trợ của hệ thống tài chính và sản phẩm tài chính ở phố Wall tạo ra nguồn tín dụng phù hợp giúp người tiêu dùng có thể mua các sản phẩm bằng thẻ tín dụng, và trả góp từ từ. Thị trường Nhật Bản có hệ thống tín dụng cho người tiêu dùng khác với thị trường Hoa Kỳ. Ngoài ra, người tiêu dùng Nhật Bản thường xử dụng các loại thẻ nạp tiền trước, hay áp dụng các loại chip hiện đại gắn trong điện thoại di động hay thẻ từ giúp người tiêu dùng trả các khoảng mua sắm lặc vặt ở các tiệp tạp hóa, máy bán tự động, và hệ thống xe điện ngầm. Nguồn tín dụng ở Nhật Bản tập trung cho các xí nghiệp lớn và trung nhằm cung cấp nguồn vốn vay cần thiết cho nền kinh tế sản xuất cho xuất khẩu.

Nhưng sự thực thì thị trường không thể tồn tại những điều kiện lý tưởng như kinh tế lý thuyết yêu cầu bởi vì cùng một lúc có nhiều loại hàng hóa được sản xuất và trao đổi trên thị trường. Nhà sản xuất sẻ làm gì để hàng hóa của mình được người tiêu dùng mua nhiều hơn, hay muốn mở rộng thị trường ra các thị trường khác cho việc xuất khẩu hàng hóa. Lý do đó đả dẩn đến bốn trạng thái làm cho thị trường bị thất bại hay không hoạt động như ý tưởng và kết quả mong đợi. Lý do thứ nhất là sự độc quyền cung cấp hay sản xuất một loại hàng hóa, dịch vụ nào trong thị trường. Chẳn hạn, như chương trình phần mềm chạy cho máy tính. Nếu thị trường có nhiều chương trình cho hệ thống điều hành tương tự như Window của Microsoft, thì người tiêu dùng sẻ dể dàng chọn lựa sản phẩm phụ hợp với túi tiền của họ. Lý do thứ hai là sản phẩm có qui mô xử dụng trong nước hay quốc tế do ngôn ngử và văn hóa tạo ra. Có nhiều loại sản phẩm, nó không có sự chọn lựa hay từ chối, như ngân sách quốc phòng cho các loại hàng hóa quân sự nhằm phục vụ nền an ninh quốc gia. Luật pháp và trật tự củng thuộc loại hàng hóa quốc gia không có sự thay thế hay chọn lựa. Lý do thứ ba là những loại hàng hóa vượt giá trị thực của nó, chẳn hạn giáo dục. Cho dù người tiêu dùng muốn hay không muốn, thì sự ích lợi của nó vược ra ngoài những giá trị trong khuôn mẫu. Người tiêu dùng có thể áp dụng nhiều kiến thức trong cuộc sống tạo ra những giá trị ích lợi chung cho xã hội hơn là người không nắm được các kiến thức đó. Như kiến thức về ô nhiễm môi trường giúp người tiêu dùng có ý thức bảo vệ môi trường. Lý do cuối cùng là thông tin. Có nhiều khái niệm thông tin không gắn liền với giá trị thực, cho nên dẩn đến những hành vi chủ quan trong các quyết định kinh tế. Chẳn hạn, người đi xin việc làm, không thể tự định ra được mức giá trị nào thật sự là giá trị trao đổi đúng nhất cho khả năng và tài năng của họ. Với bốn lý do căn bản tồn tại trong một thị trường đả tạo ra các biến đổi trong các mối quan hệ giữa chính phủ, nhà sản xuất và người tiêu dùng gây ra các trạng thái khác nhau của một thị trường. Các tác nhân tham gia vào thị trường củng sẻ tìm cách chuyển đổi những khó khăn hay rủi ro từ nơi này sang nơi khác theo ý nghĩa,'tôi có lợi hơn, nếu có ai đó gánh bớt trách nhiệm.' Đó là bản năng của con người khi muốn tăng mức lợi nhuận và hạn chế rủi ro đến với mình.

Khi đề cập đến sự can thiệp của chính phủ trong các lĩnh vực kinh tế, hay tư nhân hóa các lĩnh vực kinh tế, thì câu trả lời vẩn là người quản lý giỏi trong cả hai trường hợp. Có nghĩa, một cơ quan chức năng hay doanh nghiệp kinh tế cần có người quản lý gỉỏi với những điều kiện lương bổng hợp lý sẻ giúp hoạt động kinh tế hiệu quả hơn. Sư hiệu quả của quản lý kinh tế ở doanh nghiệp hay chính phủ đều tạo ra giá trị kinh tế. Ở cấp doanh nghiệp thì tạo ra công ăn việc làm và lợi nhuận, ở cấp chính phủ thì tạo ra giá trị tương đối trong việc phân bố tài nguyên giúp doanh nghiệp khai thác tạo ra công ăn việc làm. Giống như việc chính phủ hổ trợ vốn cho nông nghiệp với mục đích giúp nhà nông có vốn mua thiết bị, dụng cụ nghiên cứu lai tạo giống lúa và các hoa quả có hiệu xuất cao, nhà máy sản xuất phân bón, hay các nghiên cứu mới xử dụng phương thức phân bón tự nhiên không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh. Ngoài ra các nhà nông cần phát triển khả năng tiếp thị, đóng gói bao bì, kho bảo quản thực phẩm, phương tiện vận tải cho việc tìm đối tác xuất khẩu trong và ngoài nước. Gạo không chỉ đóng bao rồi bán cho người tiêu dùng, mà nó còn qua khâu đa dạng hóa nhằm tạo ra loại nhản hiệu in trên bao bì tạo ấn tượng có nhiều chọn lựa cho khách hàng mua, nhưng thực chất chỉ có vài chủng loại gạo khác nhau nhưng có thể đóng bao thành hàng trăm nhản hiệu cho từng cửa hàng hay chợ bán lẻ khắp nơn trên thế giới. Nhất là các chợ muốn nhà cung cấp gạo in tên riêng của chợ lên bao đựng gạo tạo uy tính của chợ lên khách hàng riêng của mình.

Thị trường tiêu thụ gạo ở Hoa Kỳ của cộng đồng người Việt, và các sắc tộc Châu Á là một tiềm năng phát triển kinh tế xuất khẩu cho các nhà nông Việt Nam. Ngoài ra ViệtNamcòn có thể gia tăng hiệu xuất của trồng trọt các loại gạo, rau quả, nuôi bò sửa, bò lấy thịt cung cấp cho thị trường cao cấp quốc tế. Các loại kinh doanh này cần vốn nhiều cho việc mua sắm các thiết bị máy móc, đào tạo cán bộ quản lý, nhân viện xử lý, củng với chương trình giáo dục nhân viên. Khái niệm vệ sinh, an toàn thực phẩm là tiêu chuẩn quốc tế, do đó nhân viên không thể tự lý giải thói quen sinh hoạt cá nhân rồi áp dụng vào các hành vi trong môi trường sản xuất cho xuất khẩu, nhất là sản phẩm cần thỏa mản các qui định vệ sinh.

Chính phủ hoạt động ở mức độ quản lý kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách thuế, lợi tức ngân hàng, tỉ giá hối đoái, hổ trợ tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi tạo ra công ăn việc làm và lợi nhuận đóng thuế cho chính phủ. Các nguồn ngân sách của chính phủ củng tác động đến hoạt động kinh doanh mua bán trong nước. Bởi vì một lĩnh vực nào đó nhân nguồn ngân sách của chính phủ thường sẻ thuê mướn nhiều nhân lực, chi tiêu mua sắm thiết bị, xây dựng công trình, tạo phúc lợi xã hội. Các hoạt động này giúp cho nền kinh tế hoạt động có nhiều giá trị khác nhau. Trong khi đó doanh nghiệp hoạt động ở mức độ vi mô nhằm quản lý hiệu quả vốn, nhân lực, thiết bị máy móc, nghiên cứu sản phẩm, dịch vụ và quảng cáo đến người tiêu dùng. Sự phối hợp đồng bộ của chính phủ và doanh nghiệp hoạt động trong thị trường sẻ tạo ra mô hình kinh tế hoàn hảo, bên cạnh sự đóng góp của người tiêu dùng (ba nhóm tiêu dùng theo mức thu nhập). Như vậy có thể nói là cơ hội tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên 1000 tỉ USD trong năm 2030 hay 2040 là điều có thể thực hiện được. Chỉ cần tạo ra công thức, hằng năm có them những doanh nghiệp thành công tạo ra doanh thu, lợi tức cho cổ đông, công việc cho người tiêu dùng, đóng thuế cho chính phủ, gia tăng thị phần, tạo sản phẩm cạnh tranh với thương hiệu nước ngoài. Những gì công ty nước ngoài làm được thì Việt Nam có thể sản xuất cho nhu cầu trong nước và nước ngoài. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên đả làm được thị Việt Nam củng sẻ làm được trong các năm tới. Khả năng khai thác sản phẩm và dịch vụ sẻ cần vốn, kiến thức, khả năng tiếp thị, khả năng cải tiến, và khả năng giảm giá thành trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của doanh nghiệp, thành phố, tỉnh, huyện, xã. Càng có nhiều doanh nghiệp thành công thì quốc gia càng giàu có. Càng có nhiều người tiêu dùng giàu có thì khả năng tiêu thụ của thị trường càng mạnh. Chính phủ càng vững mạnh khi có nguồn thu thuế dồi giàu tư các doanh nghiệp thành công và công dân giàu có.

Giá Trị Lịch Sử trong So Sánh và Phân Tích

“Kinh tế phát triển theo chu kỳ. Sự khủng hoảng của chu kỳ kinh tế luôn tạo ra từ sự chuyển đổi vốn từ thị trường này sang thị trường khác, hay từ khu vực kinh tế này sang khu vực kinh tế khác vượt ra khỏi tầm kiểm soát của mối quan hệ thuần túy cung và cầu, lúc này nó do tác động của hành vy đầu cơ, trục lợi. So sánh đối chiếu của sự kiện trong lịch quốc gia và quốc tế để phát triển và quản lý hiệu quả các chính sách trong tương lai với các thay đổi thích ứng cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.”
*****

Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Singapore, và Nam Triều Tiên là các quốc gia có thể giúp Việt Nam hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, và chọn lựa việc quản lý doanh nghiệp ở cấp vi mô trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội Việt Nam. Như vậy Việt Nam có thể nhận ra sự thịnh vượng của nền kinh tê quốc dân thông qua trao đổi mậu dịch quốc tế. Các quốc gia này đều có mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp đến mối quan hệ mậu dịch và ngoại giao đối với Hoa Kỳ. Khả năng mà Hoa Kỳ có thể giúp các quốc gia khác lớn mạnh là nguồn vốn, thị trường tiêu thụ, viện trợ và các hổ trợ về kỷ thuật và ưu đải mậu dịch. Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Nam Triều Tiên đều trải qua giai đoạn ưu đải mậu dịch từ chính phủ Hoa Kỳ, nhằm gia tăng thặng dư mậu dịch giúp cho nền kinh tế của họ phát triển. Ngày nay, thì Việt Nam có thể mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia tiêu thụ mạnh như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Châu Âu, Canada, Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Trung Đông, Nam Mỹ cho việc xuất khẩu sản phẩm của mình.

Nhìn qua lịch sử phát triển kinh tế của Nhật Bản, sau nhiều thế kỷ bế môn tỏa cảng và hạn chế trao đổi mậu dịch với các quốc gia phương tây, ngoại trừ thành phố càng Nagasaki là nơi cho phép một số tàu buôn của Hòa Lan đến buôn bán vào năm 1641. Đến năm 1853, Commondore Mathew Perry dẩn đầu một đội tàu của Hoa Kỳ đến Edo (bây giờ là Tokyo) và yêu cầu được phép trao đổi mậu dịch có lợi cho Hoa Kỳ cùng với lá thư của tổng thống Fillmore. Khi thuyền trưởng Commondore quay lại với đội tàu chạy bằng máy hơi nước đầu tiên trên thế giới vào năm 1854, buộc Nhật Bản ký kết các hiệp ước Kanagawa vào tháng 3 năm 1854. Vào năm 1866, hai dòng họ có thế lực trong chính quyền Nhật Bản là dòng họ Satsuma và Choshu đả liên kết lại thành bộ tộc Satcho thách thức quyền lực của dòng họ tể tướng Tokugawa Yoshinobu. Cuối cùng buột ông ta chuyển giao quyền lực cho hoàng đế đương nhiệm Meiji vào năm 1868. Thờ đại Meiji (Minh Trị) ra đời đánh dấu vị hoàng đế thứ 122 của nước Nhật lên nắm quyền thực sự. Mục tiêu chính của Phục Hưng Minh Trị là hiện đại hóa cấp tốc Nhật Bản để Nhật Bản có thể ngang hàng giao dịch với với cường quốc phương tây, và bải bỏ các hiệp ước ký kết với Hoa Kỳ buộc Nhật mở cửa cảng cho giao dịch quốc tế. Nhật Hoàng khuyến khích và mời các cố vấn kinh tế ngoại quốc đến Nhật Bản, đồng thời gửi học sinh sang các quốc gia phương tây du học. Bên cạnh đó Nhật Hoàng loại bỏ chủ nghĩa phong kiến, và giải tán tầng lớp Samurai (vỏ sỉ đạo Nhật Bản). Để tăng khả năng cạnh tranh và lớn mạnh của kinh tế trong nước, Nhật Hoàng khuyến khích hổ trợ cho các tập đoàn kinh tế, công nghiệp do các gia đại gia đình quản lý (zaibatsu) bao gồm Mitsubishi, Mitsui, và Sumitomo. Sự thành công kinh tế của Nhật Bản cuối thế kỷ 19 và đầu thể kỷ 20 có sự đóng góp của khái niệm tinh thần Samurai trong các doah nghiệp của Nhật Bản từ ngân hàng, công ty tài chính, công ty mậu dịch, doanh nghiệp sản xuất mang những giá trị như sự trung thành, làm việc suốt đời, hệ thống cấp bậc trong quản lý, coi công ty như gia đình. Tinh thần Samurai vẩn tiếm tục phát triển trong nền kinh tế Nhật Bản sau năm 1945 đến cuối thập niên 1980.

Với những thay đổi đó, Nhật Bản đả trở thành một cường quốc kinh tế, quân sự trong nửa đầu thế kỷ 20, thách thức các quốc gia như Nga, Trung Quốc, và phương tây. Sau thế chiến thứ hai kết thúc, Nhật Bản đả thay đổi hoàn toàn trong chính sách phát triển kinh tế, và chỉ giữ ngân sách quốc phòng là 1% tổng sản phẩm quốc dân để tập trung vào việc phát triển kinh tế xuất khẩu. Cuối thập niên 1960s, và đầu thập niên 1970s, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế chỉ đứng sau Hoa Kỳ trong khối Tư Bản. Cuối thế kỷ 19, các ngân hàng tư nhân lớn của Nhật Bản đả hình thành như Mitsui, Konokei, Sumimoto và Mitsubishi. Hệ thống ngân hàng của Nhật Bản hầu như hoàn thành vào đầu thế kỷ 20 trong khoảng năm 1900. Các phương thức hoạt động dựa trên các mô hình hoạt động của Đức và Pháp. Trong các loại ngân hàng này gồm có ngân hàng công nghiệp của Nhật Bản,  ngân hàng thuộc địaHokkaido, ngân hàng Đài Loan. Hệ thống tiết kiệm bưu điện đả hình thành từ những năm 1875, thu hút người gửi tiết kiệm mang lải xuất thấp. Sau khi chính phủ ban hành đạo luật qui định về ngân hàng 1893 thu hút nguồn tiết kiệm từ dân chúng. Có nhiều ngân hàng tư nhân ra đời phục vụ nhu cầu gủi tiết kiệm với lải xuất cao hơn cạnh tranh với với hệ thống tiết kiệm bưu điện.

Nhìn lại Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch trung ương sang kinh tế thị trường mở cửa cuối thập niên 1970s, tạo ra những chuyển đổi giúp Trung Quốc trở thành quốc gia có tổng sản phẩm quốc dân thứ ba trên thế giới sau Hoa Kỳ và Nhật Bản trong năm năm 2009. Đầu năm 2011, Trung Quốc đả vượt qua Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Trung Quốc đang gia tăng nguồn dự trử ngoại tệ và mức xuất siêu cao cho việc mở rộng thị trường. Nhất là tiếp tực duy trì chính sách quản lý tiền tệ theo tỉ giá hối đoái theo đồng USD để tăng mức xuất siêu có lợi cho nền kinh của Trung Quốc trong việc xuất khẩu và thu mua các doanh nghiệp trên toàn cầu tạo ra đòn bẩy cho việc giúp hàng hóa Trung Quốc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Ngoài ra chính phủ Trung Quốc với lượng vốn lớn giúp các doanh nghiệp mở rộng ra thị trường nước ngoài nhằm chuyển đổi thị trường Trung Quốc từ nền gia công, sản xuất cho các thương hiệu của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu sang một nền kinh tế tự sản xuất bằng những thương hiệu của Trung Quốc hay các sản phẩm tương tự với của các công ty nổi tiếng thế giới ở mức giá thấp hơn. Nhưng do các điều kiện xã hội, chính trị, văn hóa, Trung Quốc đang áp dụng phương thức bước nhảy nhằm cạnh tranh với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu trong việc rút ngắn thời gian xây dựng uy tính cho một thương hiệu hoàn toàn do Trung Quốc tạo ra bằng việc biến thương hiệu nước ngoài thành thương hiệu Trung Quốc như Lenovo mua toàn bộ bộ phận sản xuất máy tính cá nhân của hảng IBM. Trung Quốc đang nhắm vào các hiệu xe của Hoa Kỳ, các ngân hàng nhỏ của Hoa Kỳ, các hảng hóa chất, mỹ phẩm, phần mềm, và thiết bị công nghệ cho việc thâm nhập thị trường Hoa Kỳ và hệ thống phân phối quốc tế. Có nhiều sự tranh chấp giữa Trung Quốc với các quốc gia như Ấn Độ, Hoa Kỳ, Châu Âu trong vấn đề như chiến lược phá giá với số lượng bán ra lớn tại các thị trường đang phát triển và mới nổi lên do sự cạnh tranh khốc liệt.

Các cách thức mà chính phủ Trung Quốc đang hổ trợ cho các doanh nghiệp trong nước để tạo ra các bước nhảy như sau: (a) rút ngắn khoảng cách về kỷ thuật công nghệ bằng nhiều biện pháp (thuê chuyên gia nước ngoài làm việc cho doanh nghiệp trong nước, mua bản quyền công nghệ để nâng cao chất lượng và sản lượng, liên doanh để thâm nhập thị trường, quản lý nhân sự và tài nguyên để giảm chi phí kinh doanh), (b) gia tăng lượng sinh viên và chuyên gia du nghiệp nước ngoài nhằm củng cố khả năng sáng tạo và quản lý tại các doanh nghiệp trong nước, (c) thu hút vốn và công nghệ từ các đối tác nước ngoài nhằm cải thiện khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nội địa, (d) tạo ra cầu nối quảng cáo tại các thị trường tiêu thụ mạnh giúp cho sản phẩm của Trung Quốc làm quen với người tiêu dùng, (e) gia tăng các hoạt động tình báo kinh tế và thương nghiệp để rút ngắn khoảng cách trong việc nghiện cứu và đầu tư cơ bản. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể học các giá trị này của Trung Quốc: (a) giải phóng tư duy sáng tạo và động lức làm giàu của người dân, sẻ tạo cho họ khả năng phát triển tài năng và khả năng nắm bắt cơ hội đển thành lập các thương hiệu phục vụ thị trường, (b) tiếp nhận sang kiến, ý tưởng từ cấp lảnh đạo xuống người dân, và từ người dân lên cấp lảnh đạo, (c) đóng khung từng vùng đặc biệc, nhằm gia tăng khả năng phát triển khu vực đó theo một ngành kinh tế chuyên môn cao, (d) thâm dò thị trường từng bước, nhưng luôn học hỏi kinh nghiệp của người đi trước, hay áp dụng công thức thử trước, rồi mới phát triển qui mô lớn, (e) say mê và cạnh tranh khóc liệt trong hai giá trị nghệ thuật và trí tuệ trong các lĩnh vực kinh tế, (f) nối kết với thế giới bên ngoài, để mở rộng thị trường, và gia tăng thị phần cho sản phẩm và dịch vụ, (g) tự do và công bằng mang giá trị tạo ra niềm tin và khả năng sáng tạo của doanh nghiệp và cá nhân, vì sự cạnh tranh có qui mô toàn cầu, (i) thành tích và cạnh tranh từ học đường đến thể thao, sẻ tạo ra thói quen cho việc lập ra các tiêu chuẩn cao nhất trong việc thực hiện ước mơ và thành công, giá trị này áp dụng trong các lĩnh vực khác nhau. Tám giá trị này là nền tản mà Trung Quốc dựa vào cho sự lớn mạnh của nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trong năm 2011. Nhưng người ngoài vẩn cảm giác là chính phủ Trung Quốc luôn kềm hảm người dân trong nước. Có nhiều giá trị mà chính phủ Trung Quốc khuyến khích tạo ra những tác động kích thích cho sự phát triển kinh tế ở qui mô toàn cầu, hiệu quả cao, lợi nhuận là sự thay đổi của cơ sở hạ tầng tại các khu vực kinh tế đặc biệc và thành phố lớn. Đây là bài học mà Việt Nam có thể áp dụng khi chọn ra ba khu vực nằm theo trục lộ của con đường bắc năm để tạo ra sức mạnh kinh tế trong các năm sắp tới.

Cuốn sách này không đề cập từng trường hợp cụ thể mà các doanh nghiệp Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ đả áp dụng để thành công, như nó giúp cán bộ nhận ra các bước cần thiết nên thực hiện trong việc quản lý doanh nghiệp. Mà một trong các giá trị quan trọng mà cán bộ và nhân viên Việt Nam nên hiểu một cách tích cực là giá trị và ý nghĩa của từ “làm giàu” trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển giao công nghệ, hay internet và thông tin di động mang ý nghỉa như thế nào. Nhất là khi các thị trường nối kết với nhau với tốc độ cao và khả năng thay đổi rất lớn. Sự làm giàu nó không còn mang giá trị hạn hẹp hay cất dấu cho một mình mình sử dụng, mà tạo ra khả năng ứng du qui mô lớn hơn cho khả năng sản xuất hàng loạt tạo ra giá trị lợi nhuận cao hơn. Các thị trường nối kết với nhau tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt. Nếu hiệu quả của thị trường ViệtNamthấp so với các thị trường xung quanh, thì nhà đầu tư nước ngoài sẻ chuyển dần nguồn đầu tư của họ vào các thị trường khác có nhiều ưu thế hơn. Trong bảng so sánh mức đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào Đông Nam Á, thì Việt Nam chỉ hơn có ba quốc gia là Cam-pu-chia, Lào, và Miến Điện, ngoài ra đều thua các quốc gia như Singapore, Thái Lan, Indonesia, Mã Lai và Philippine. Khi cán bộ quản lý và nhân viên ViệtNamtự đặc mình vào một môi trường to lớn hơn để so sánh và học hỏi thì khả năng của họ mới thay đổi và nâng cao được. Khi hệ thống internet, điện thoại di động, truyền hình có thể cung cấp nguồn thông tin to lớn, chính xác, phong phú, người tiêu dùng có thể cập nhật kiến thức của họ ở tốc độ cao, củng như mua bán thông qua hệ thống internet hay băng truyền tốc độ cao vừa tiện lợi, vừa nhanh chónh. Kiến thức có thể cung cấp miễn phí thông qua hệ thống internet, mà cách đây 20 năm, người dân Việt Nam không thể truy cập các tài liệu miễn phí như vậy. Củng như cuốn sách này, tôi có thể biên soạn và gửi qua thư điện tử đến tay cán bộ lảnh đạo của Việt Nam, vùa nhanh chónh, vửa an toàn, vừa tiết kiệm thời gian, mà nhiều người củng thể nhận một lúc, hay chuyển sang cho mọi người đồng nghiệp cùng đọc. Đó là giá trị mà ngày nay, Nhật Bản đang phát triển các khía cạnh ưu việc của một xã hội thông tin do các điều kiện tiện lợi của internet, điện thoại di động, truy cập thông tin qua điện thoại đi động, hay giải trí trên các loại điện thoại thông minh đa chức năng.

Sự thu hút vốn của Nhật Bản hay nước ngoài biểu lộ những mặt chưa khai thác của các tiềm năng ở thị trường Việt Nam là không biết chủ động tiết kiệm vốn từ người tiêu dùng Việt Nam bằng việc khuyến khích gửi tiết kiệm, xây dựng các công ty sản xuất phục vụ người tiêu dùng quốc tế. Các công ty của Việt Nam thường là công ty khai thác nguồn tài nguyên như dầu khí, khoáng sản, thuỷ sản, nông sản, và lâm sản cho xuất khẩu, trong khi đó nguồn tài nguyên này chỉ đóng giữ phần nhỏ trong tổng sản phẩm quốc dân của các quốc gia công nghiệp phát triển. Vì giá trị của các sản phẩm thô luôn tạo ra giá trị kinh tế thấp hơn các sản phẩm cần vốn, công nghệ, trình độ chuyên môn, và sự sáng tạo. Ngoại trừ các quốc gia xuất khẩu dầu lửa như Arập Saudi, Nga, Nigeria, Nicaraqua do dữ lượng dầu thô lớn và nhu cầu tiêu thụ cao trên thế giới, nên các quốc gia này đả thu lợi nhuận cao trong kinh doanh sản xuất dầu thô.

Muốn có được sự đánh giá cao về khả năng làm việc và các tiêu chuẩn của lực lượng lao động, cán bộ và nhân viên Việt Nam luôn đặc mình vào hoàn cảnh đang làm việc trong môi trường đa văn hóa của thị trường Đông Nam Á. Có nghĩa họ phải biết các quốc gia xung quanh hơn họ những gì và yếu kém hơn họ những gì, thì họ mới có biện pháp nâng cao trình độ nghiệp vụ, thái độ lao động, và những nổ lực vươn lên thông qua các chính sách kinh doanh và đâu tư ngắn hạn và dài hạn.

Giá trị giáo dục là biện pháp hiệu quả cho việc đào tạo nguồn cung cấp lao động hiệu quả cho một doanh nghiệp. Khi so sánh tính cách của người Đài Loan, Hồng Kông, và Thượng Hải, người Việt Nam có thể nhận ra phần nào khác nhau giữa ba nhóm. Mặc dù họ đều là người Hoa hay là người Hán, nhưng tính cách và tư duy suy luận của họ ít nhiều khác nhau, giống như người Việt Nam ở ba miền - Bắc, Trung, Nam. Người Đài Loan có nhiều ảnh hưởng văn hóa Nhật Bản, củng như người Nam Triều Tiên, mặc dù họ không nói tiếng Nhật, như cách cư xử hành vi ít nhiều ảnh hưởng văn hóa Nhật Bản. Còn Hồng Kông do ảnh hưởng văn hóa của Anh Quốc nhưng ở mức độ khác, không như là Úc hay Canada hay New Zealand. Hồng Kông như một thành phố mậu dịch quốc tế cho sự nối kết vào thị trường Trung Quốc lục địa và khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Có một thời gian các loại đồ chơi thường mang dòng chử “made-in-Hong Kong” khi thị trường Hồng Kông còn chưa phát triển cao về nguồn tài chính và hoạt động đầu tư tài chính. Ngày nay, Hồng Kông đả chuyển sang phát triển thành một trung tâm mậu dịch, tài chính, du lịch và thị trường chuyển tiếp cho sự trao đổi từ Trung Quốc lục địa và thế giới bên ngoài. Trong Khi đó Thượng Hải có nhiều ảnh hưởng của phương tây trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 qua việc có nhiều nhà buôn, ngân hàng, và các công ty mậu dịch quốc hoạt động tại thành phố này trong việc thu lợi nhuận từ các giao dịch thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia khác. Tính cách của người Thượng Hải ít nhiều do khả năng đáp ứng nhu cầu trao đổi mậu dịch trong quá khứ và hiện tại, củng như vị trí địa lý của thành phổ cảng này tạo ra một cách suy luận và phong thái riêng cho Thượng Hải. Nó là một cầu nối thương mại quan trọng của thị trường Trung Quốc và thế giới từ khi Trung Quốc mở cửa thị trường mậu dịch bởi chính sách cải cách của cựu chủ tịch Đặng Tiểu Bình trong năm 1979.

Nếu một công ty Nhật Bản thành lập một hảng xưởng tại Việt Nam, họ sẻ có các bước cụ thể cho việc chọn lựa nhân sự và đào tạo nhân sự. Bởi vì họ hy vọng nguồn vốn họ bỏ ra sẻ sẻ tạo ra lợi nhuận. Mà tỉ lệ lợi nhuận đó có cao các hơn thị trường xung quanh hay không. Sự cạnh tranh về hiệu xuất làm việc, và giá trị đóng góp trong các khâu như sáng tạo, nâng cấp sản phẩm dịch vụ, giảm giá thành, cải thiện môi trường làm việc sẻ luôn là các mục tiêu mà nhà đầu tư Nhật Bản sẻ dùng để đánh giá nguồn nhân lực tại thị trường Việt Nam. Còn môi trường kinh doanh và đầu tư hay xây dựng cơ sở hạ tầng do nhà nước tác động, vì nếu nhà nước muốn có nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường ViệtNam, thì họ sẻ tiếp tục tạo ra một môi trường hoàn hảo và ưu đải hơn các thị trường xung quanh. Kinh tế thị trường có mặt tiêu cực là dùng sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng và số lượng nhằm phục vụ nhu cầu của thị trường. Mà thị trường lao động và môi trường đầu tư là hai mặt mà ViệtNamphải luôn cân nhắc trong việc thu hút nguồn vồn nước ngoài trong các năm tới đây. Nếu một quốc gia nhỏ như Singapore có giá trị tổng sản phẩm quốc dân là 189 tỉ USD trong năm 2008, như lại thu hút vốn đầu tư của nước ngoài thị trường nội địa lên đến 250.2 tỉ USD (tính theo giá trị cổ phiếu). Bên cạnh đó giá trị của thị trường cỗ phiếu củaSingaporelà 268.6 tỉ USD.

Đó là ý nghĩa kích thích cho khả năng cầu tiến và cải thiện mà cán bộ và nhân viên Việt Nam cần làm trong giai đoạn 2011-2030. Thị trường Việt Nam còn thiếu các cơ cấu căn bản cho việc gia tăng nguồn hàng xuất nhập khẩu thông qua các cửa khẩu, cảng giúp các doanh nghiệp hạn chế việc trì hoản hàng hóa xuất và nhập. Mạng lưới điện là huyết mạnh phục vụ cho hệ thống sản xuất, thông tin liên lạc và vận chuyển tại thị trường. Điều này cần được phân tích kỷ cho việc thành lập các dự án thầu xây dựng cơ sở hạ tầng: nhà máy phát điện, mạng lưới cung cấp điện, các trạm chuyển phát thông tin liên lạc, đài truyền hình, hệ thống cung cấp nước sạch, xử lý nước thải và rác công nghiệp, cụm cầu cảng cho việc giao thông quốc gia, mạng lưới giao thông công cộng và đường xá, trường học, bệnh viện luôn là huyết mạch mà chính phủ Việt Nam có thể thực hiện với các quốc gia - Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Úc, Hoa Kỳ, Đức, Anh, Pháp, Ấn Độ, Canada cho việc tạo ra những dự án đầu tư hợp tác dài hạn từ 30 năm lến 50 năm hay 100 năm. Vì hiện tại cơ sở hạ tầng của Việt Nam có thể xem như là bắt đầu tư đầu cho việc thiết kế, phân bổ, chọn đối tác đầu tư và kế hợp với các dự án phái triển xây dựng khu kinh tế chuyên môn để tạo ra lợi nhuận và công việc giúp chính phủ trả dần các khoảng nợ đầu tư này. Khi tổng số vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng vượt con số 200 tỉ USD, có nghĩa giá trị đóng góp của các dự án này sẻ tạo ra nguồn sản xuất cho nền kinh tế của Việt Nam từ 500 tỉ USD đến 700 tỉ USD.

Các dự án đầu tư như vậy tạo ra lợi nhuận lâu dài, do đó quốc hội và văn phòng thủ tướng sẻ dựa trên các khảo sát và dự án tiền khả thi đê quyết định các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Việt Nam không thể vây vốn theo tỉ lệ 50-50 trong các dự án này, nhưng sẻ áp dụng dự án đầu tư mở với các ưu đải và dự án liên đới cho các nhà thầu dự án cơ sở hạ tầng. Có nghĩa, các nhà thầu nước ngoài sẻ bỏ vốn vào xây dựng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam sẻ có thuận lợi cho các dự án kinh tế kinh doanh sản xuất trong các loại hình kinh tế khác từ ưu đải thuế, khai thác đất đai và giá thuê đất trong các hợp đồng 30 năm, 50 năm hay 100 năm. Có nhưng vậy, chính phủ Việt Nam sẻ dể dàng đạt được các thỏa thuận xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp lớn hay thành phố cho thuê. Sự gia tăng khả năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài còn lệ thuộc vào nguồn lao động chuyên môn cung cấp nhân lức cho các nhà thầu và công ty nước ngoài. Đây là một bài toán khó với nhiều biến số, nhưng lại đảm bảo vấn đề chủ quyền, an ninh quốc gia, thu nhập cho chính phủ và người lao động trong thời gia dài. Các dự án này cần ít nhất là các chuyên gia phân tích tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học, đầu tư, làm luật, giáo dục, ngoại giao, quảng cáo tiếp thị, chuyên gia môi trường sinh thái, từ 500 người đến 2000 người. Chính phủ sẻ khuyến khích du học nước ngoài, và khai thác học bỏng nước ngoài cho sinh viên Việt Nam tu nghiệp miễn phí tại các đại học quốc tế. Ngoài ra, chính phủ cần cung cấp một số vốn và xin vốn học bổng từ các quốc gia Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nam Triều Tiên, Anh, Úc, Pháp, Đức cho việc đào tạo khẩn cấp số lượng chuyên gia tham gia vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và trung tâm phát triển kinh tế vớn tổng số vốn đầu tư từ 200 tỉ USD đến 300 tỉ USD trong vòng 10 năm tới. Một sai sót trong các phân tích sơ bộ có thể gây thiệt hại cho Việt Nam không chỉ về tiền bạc mà thời gian, con người trong các dự án không tạo ra lợi nhuận.

Thị trường Việt Nam có thể rút ra nhiều kinh nghiệm từ Nhật và Trung Quốc, nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, củng như tự tạo ra vốn tự có do tiết kiệm và các khả năng quản lý vốn và xử dụng tài nguyên hiệu quả. Vì so với Việt Nam, Nhật Bản có rất ít tài nguyền, ngoại trừ con người là nguồn tài nguyên quan trọng mà Nhật Bản đả khai thác để biến một đảo quốc hơn 120 triệu dân và có tổng sản phẩm quốc dân hơn 5 ngàn tỉ USD trong năm 2009. Do đó câu trả lời cho sự thành công của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sẻ phụ thuộc vào sự phối hợp hài hòa của giá trị lao động, giá trị trao đổi trên thị trường, và khả năng thay đổi giá trị tương đối đảm bảo hai giá trị này theo thời gian và không gian. Trong giai đoạn hiện tại, thị trường Việt Nam cần một hệ thống pháp luật chặt chẻ, hiệu quả, vô công chí tư để giúp các tác nhân kinh tế hoạt động hiệu quả hơn. Ngoài ra chính phủ sẻ áp dụng các chính sách, đạo luật đầu tư, quyền sở hữu cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm tiếp tục bỏ vốn, chuyển giao công nghệ vào thị trường ViệtNam. Cán bộ quản lý và nhân viên ViệtNamcó thể hình dung các môi trường làm việc ở Nhật Bản,Singapore, hay Hoa Kỳ trong sự hiệu quả cho quá trình chuyển đổi tạo ra những giá trị kinh tế. Nhưng trong quan hệ con người có lẻ môi trường làm việc của Việt Nam có nhiều điểm giống với Nhật Bản. Nhưng có lẻ thị trường lao động của Việt Nam cần ít nhất là hai thế hệ tức là 20 năm để biến chuyển trong việc đào tạo nguồn lao động có năng lực như Nhật Bản đả làm trong giai đoạn 1945-1970. Chính phủ Việt Nam cần nhận định các giá trị sau mang giá trị lâu dài và sống còn cho nền kinh tế của Việt Nam: (a) lực lượng lao động mang giá trị tiêu chuẩn khu vực và suy nghĩ toàn cầu, (b) hệ thống cơ sở hạ tầng cho hoạt động kinh tế và xã hội đến giai đoạn 2030, (c) nâng cấp hệ thống tài chính cho khả năng vận hành xuất khẩu và đầu tư ở qui mô toàn cầu hiệu quả cao, (d) xây dựng hệ thống thông tin viễn thông nối kết nền kinh tế Việt Nam và kinh tế toàn cầu. Bốn tác nhân này cần rất nhiều vốn để xây dựng và phái triển trong vòng 5 năm hay 10 năm. Hệ thống giáo dục sẻ tạo ra nguồn nhân lực có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước. Cần có một hệ thống giáo dục mới. Hệ thống cơ sở hạ tầng mang tính nâng cấp dể dàng và tiêu chuẩn quốc tế tạo ra sự hiệu quả của các hoạt động kinh tế và đầu tư. Hệ thống tài chính tạo ra các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, củng như dể dàng chuyển vốn cho các hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài cho việc gia tăng xuất khẩu của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam. Hệ thống thông tin liên lạc giúp Việt Nam nắm bắt thị trường thế giới chính xác theo từng giây, phút để hạn chế thiệt hại kinh tế vì thiếu thông tin. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam cần có nguồn thông tin chính xác để dàng các hợp đồng cung cấp cho các đối tác nước ngoài. Việc gia tăng nền kinh tế cần nhiều yếu tố, nhưng bốn yếu tố vừa nêu có thể nói là chính yếu cho nền kinh tế Việt Nam phát triển trong giai đoạn 2011-2030.

Các Nhóm Tư Tưởng Kinh Tế Trong Giai Đoạn Cuối Thế Kỷ 20

“Lý thuyết ứng dụng cùng với kinh tế hành vi có thể giải thích nhiều về các quan hệ trong xã hội, nhưng áp dụng và quản lý các cơ cấu này đòi hỏi nhiều ở khả năng cho sự điều phối các giá tri tương đối của con người trong việc khai thác các giá trị kinh tế trong  xã hội. Xã hội  phát triển đả biến đổi những khái niệm khai thác lợi nhuận ở mức độ phức tạp và tinh vi hơn, đòi hỏi nhà quản lý biết  áp dụng các thuật toán cao cấp.”
*****

Các doanh nghiệp luôn pháp triển trên các lý thuyết kinh tế, kinh doanh, trong việc tạo ra giá trị mới từ các giá hiện tại hay quá khứ cho mục đích xử dụng mới theo sự chuyển đổi giữa mối quan hệ cung và cầu theo từng giai đoạn của lịch sử của nhân loại, xã hội, bên trong và bên ngoài một thị trường. Tạo ra nhiều ý tưởng hay trường phái kinh tế cuốn hút các doanh nghiệp, cán bộ quản lý cho mục tiêu phát triển kinh tế qua sự khai thác lợi nhuận, lợi ích, sự tương quan của giá trị trao đổi và giá trị lao động. Trước tiên phải kể đến là nhóm 'Tháp Ngà' có khuynh hướng áp dụng các lý thuyết xa rời thực tế vào các ứng dụng kinh tế mô hình. Vào thập niên 1970, một nhóm nổi lên với tư tưởng của 'Hoài Vọng Hợp Lý' hay còn gọi là 'Kinh Tế Tân Cổ Điển' lý giải các hoạt động kinh tế bắt nguồn bằng việc con người học hỏi từ các sai lầm.

Nhưng do các khái niệm lý thuyết luôn bắt đầu bằng sự hoàn hảo mang tính công thức hóa bởi các thuật toán chẳn hạn như hoàn hảo cạnh tranh, hoàn hảo thông tin, hoàn hảo hợp lý tồn tại trong một thế giới không thực, cuối cùng các tư tưởng này củng phai nhạt nhường chổ cho các ý tưởng mới vào giửa thập niên 1980. Sự ra đời của một nhóm từ trường Harvard và MIT của Hoa Kỳ. Mang những ý tường cho việc phát triển một phương cách phát triển kinh tế dựa trên các công cụ phân tích sâu sắc hơn so với nhóm trong thập niên 1970. Họ chú tâm vào các khía cạnh mà con người phạm sai lầm do nguồn thông tin không hoàn thiện hay thiếu sót, cùng với những nguyên nhân gây ra cho cơ cấu thị trường hoạt động không hiệu quả. Họ kết hợp cả hai phạm trụ là 'Hoài Vọng Hợp Lý' cùng chính sách kinh tế trong việc tìm ra các giải pháp cho phát triển kinh tế.

Trong nhóm này gồm có nhà kinh tế Summer, từng là chuyên gia kinh tế cho Ngân Hàng Thế Giới, đả nổi tiếng qua chính sách cải cách kinh tế cho Ba Lan với tên gọi là 'Liệu Pháp Shock' vào năm 1990. Andrei Shleifer ở trường Harvard, phát triển các nghiên cứu liên quan đến hành vi ứng xử của thị trường tài chính, tác động rất lớn đến chính sách kinh tế ở nước Nga quê hương ông ta. Ngoài ra cùng liên hệ đến các vấn đề chính quyền tập đoàn và tham nhủng trong chính phủ. Paul Krugman đả tạo ra ảnh hưởng qua sách của ông viết. Ông ta cổ vủ cho các biện pháp quản lý vốn ở các quốc gia Châu Á. Greogory Mankin phát triển mối liên hệ giữa mức lải xuất của tiền lời ngắn hạn và tiền lời dài hạn trong nền kinh tế. Đồng thời đề cao những chức năng quan trọng của thông tin trong thị trường tài chính. Alberto Alesina, nhà kinh tế nguời Ý, phát triển khái niệm kinh tế gắn liền với chính trị. Ông đề cập vấn đề ảnh hưởng của bất công gây ra do hệ thống chính trị lên sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Nhất là chính sách cắt giảm thuế, ngân sách không nhất thiết là gây ra suy thoái, nhưng có thể xem như là một công cụ phổ biến cho giới chính trị. Cuối củng là nhà kinh tế Jean Tirole trung thành với lý thuyết 'Tháp Ngà' trong việc phổ biến các khái niệm xa rời thực tế và né tránh các vấn đề cấp thiết trong nền kinh tế và chính trị, đồng thời ủng hộ kinh tế vi mô truyền thống. Hầu hết các nhà kinh tế này không thể hiện đươc tính xát thực hay cập nhật với xu hướng kinh tế xả hội đương thời.

Nhóm kế tiếp là nhóm 'Chủ Nghĩa Kinh Tế Đế Quốc' đả dựa trên nguyên lý thu hút tài năng trong các lĩnh vực kinh tế bằng phương thức trả lương thật quyến rủ thu hút những tài năng trẻ vào làm việc cho các công ty tài chính như Goldman Sachs. Lương khởi điểm của các sinh viên mới ra trường còn cao hơn cả lương giáo sư dạy ở các đại học. Wall Street luôn dụ dổ các tài năng trẻ bằng nhiều hình thức mức lương khởi điểm cao, tiền thưởng và các khoản trợ cấp làm việc trong các lĩnh vực kinh tế vĩ mộ và thị trường. Các nhóm này bắt đầu áp dụng các ứng dụng như là công cụ kinh tế vào các nghiên cứu cụ thể liên quan đến các khía cạnh xã hội, chính sách, gia đình nhằm giúp các công ty tài chính, đầu tư, bảo hiểm tạo ra các loại sản phẩm, dịch vụ siêu lợi nhuận không cần vốn, hay có thể khai thác vốn của người khác. Đồng thời sự bùng nổ của làng sóng toàn cầu hóa còn tạo thêm những thuận lợi trong việc thu hút nhân tài vào các trường đại học nổi tiếng từ các quốc gia trên thế giới. Nhìn vào danh sách các CEO, giám đốc, chuyên gia kinh tế, quản lý trong các công ty đa quốc gia ở Hoa Kỳ có gốc Châu Á, hay các công ty thuê các nhà quản lý không phải là người dân bản xứ  nhưng công ty Sony. Sự đa dạng của các phương thức quản lý tài chính, kinh doanh thông qua việc thưởng cao CEO, giám đốc quản lý cổ phiếu của công ty tạo ra việc gia tăng giá trị cổ phiếu tức thời để các cổ đông nhận ra giá trị tài sản của họ được gia tăng, do đó họ sẻ thưởng các CEO. Sau đó các CEO này sẻ đổi cổ phiếu của mình thành tiền mặt. Những thủ thuật quản lý như vậy đôi lúc không tạo ra giá trị kinh tế thật sự cho doanh nghiệp, nhưng chỉ tạo ra giá trị gia tăng của cổ phiếu trên thị trường chứng khoáng mà thôi.

Các nhà kinh tế tìm cách phá vở các hàng rào tâm lý và truyền thống trước đây trong việc hạn chế các nhà kinh tế chỉ nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến kinh tế hay chính trị, nhưng bây giờ họ lấn sang các lỉnh vực khác như xã hội, chính trị xã hội, bệnh lý học, giáo dục học, tội phạm học. Họ chú ý đến mối liên quan của các tác nhân kinh tế trong vấn đề lây lang bệnh AIDS, băng đảng tội phạm kinh tế, và nhu cầu của tôn giáo. Ông Michael Kremer, tại MIT và Harvard, phát triển lý thuyết gọi là 'Lý Thuyết Vòng Tròn của Phát Triển Kinh Tế' trong quá trình sản xuất. Bởi vì các doanh nghiệp trước đây thường áp dụng thay thế chất lượng bằng số lượng. Trong sự quan sát và nghiên cứu, các nhà kinh tế nhận ra sự phức tạp của từng khâu sản xuất đều đóng vai trò quan trọng cho chất lượng của kết quả cuối cùng. Chỉ một sai lầm nhỏ sẻ dẩn đết sự tiêu hủy toàn bộ kết quả, như vụ nổ tung của tàu con thoi Challanger của Hoa Kỳ do sự nhạy cảm nhiệt độ của các vòng hình O nằm trong hệ thống khởi động của tên lửa xử dụng nguyên liệu đặc. Ngoài ra nó giải thích mối liên quan trong trường hợp càng có nhiều bất bình đẳng trong thu nhập dẩn đến có nhiều doanh nghiệp hay nhà sản xuất nhỏ ở các quốc gia nghèo trên thế giới. Tiếp theo là ông Edward Glaeser ở Harvard, lý giải tại sao có sự tồn tại của các thành phố và các tác nhân nào quyết định đến sự phát triển triều rộng của đô thị. Trong thời đại sản xuất, do chi phí vận chuyển gia tăng tạo áp lực buộc các doanh nghiệp tập trung phát triền bên trong một đô thị. Khi nền kinh tế hiện đại lệ thuộc nhiều vào giá trị của thông tin, thì mức độ phát triển đô thị càng gia tăng mau hơn trong các thập niên 1990s, 2000s. Ông ta của chỉ ra lý do cho việc cô lập từng khu vực trong nội thành cho từng giai cấp xã hội bằng mức sống và mức thuê nhà. Củnh như lý do tại sao có nhiều người đi nhà thờ.

Cuối cùng là ông Casey Mullian ở đại họcChicago, phát triển những mô hình kinh tế ảnh hưởng bởi lòng vị tha giữa các thế hệ trong xã hội. Bao gồm những các tác nhân trong xã hội như sự hy sinh làm việc và đạo đức nghề nghiệp, đóng góp của cha me trong việc tạo ra sự bất công hơn là các hạn chế tài chính gây ra. Trong khi đó thầy của ông Casey là ông Becker phát triển mô hình kinh tế cho việc cần thiết của xã hội trong việc duy trì hệ thống thuế không hiệu quả. Bởi vì ông Becker cho rằng khi chính phủ thu càng nhiều thuế thì sẻ chi ra nhiều loại ngân sách không hiệu quả. Như dù sao vẩn tốt hơn là không có đủ ngân sách cho các chương trình phúc lợi xã hội hay xây dựng quốc phòng.

Ngoài hai nhóm 'Tháp Ngà' và 'Chủ Nghĩa Kinh Tế Đế Quốc', còn hai nhân vật nghiên cứu khác phát triển mô hình kinh tế dựa trên thực nghiệm phân tích, đó là ông Steve Levitt ở đại học Chicago, và bà Caroline Hoxby ở đại học Havard. Trước đây do các số liệu thống kê và quản lý số lượng lớn dử liệu luôn đòi hỏi thời gian cho việc phân tích và thống kê cho kết quả chính xát. Nhưng ngày nay các phần mềm vi tính có thể giúp các nhà phân tích trong nhiều lĩnh vực xử lý thông tin, dử liệu dể dàng, nhanh chóng, và chính xát cao. Nhầm giảm đi các khó khăn trong việc phân biệc nguyên nhân và mối liên hệ trong các cuộc phân tích thống kê, nhà phân tích thường dùng biến số công cụ thay thế tương đương cho biến số cần tìm để giải thích các câu hỏi trong công việc nguyên cứu. Levitt chú ý đến mối liên hệ giửa số người bị giam giử trong tù và mức độ giảm tội phạm. Cái chỉ số liên hệ như vậy giúp giải thích lý do khi lượng tù nhân giảm đi trong một nhà tù tỉ lệ với lượng tội phạm gia tăng trong xã hội.

Trong khi đó bà Hoxby áp dụng kỷ thuật thực nghiệm cho việc lý giải chất lượng giáo dục của trường học ở Hoa Kỳ gắn liền với sức mạnh hay ảnh hưởng của công đoàn giáo viên. Bà giải thích nếu làm giảm đi quyền hành về pháp lý của công đoàn giáo viên có nghĩa giảm đi chi phí cho mỗi học sinh và cải thiện thật sự cho kết quả học tập của học sinh. Kết quả này củng thể hiện mối liên hệ giửa chất lượng giáo dục và sự chọn lựa trường học cho con cái bởi cha me.

Ngoài các nhóm vừa nêu, còn có nhóm năm thành viên ủng hộ cho 'Lý thuyết Ứng Dụng', trong việc kết hợp cả hai trường phái 'Chủ Nghĩa Kinh Tế Đế Quốc' và 'Lý Thuyết Thực Hành'. Glenn Ellison ở MIT cùng nghiên cứu với Judith Chevalier cho việc lý giải khả năng bị cho thôi việc của các giám đốc trẻ ở các công ty đầu tư tín dụng cao hơn các giám đốc lớn tuổi. Do các giám đốc trẻ này có thiên hướng hành xử theo bầy hay nhóm. Wolfgan Pesendorfer ởPrinceton, Timothy Feddersen ở trường Kellog lý giải lý do tại sao người đi bầu lại không bầu cho ai đó hay vấn đề nào đó.

Khác với các lý giải trước đó, Pesendorfer and Feddersen giải thích lý do ở hiện tượng là 'sự nguyện rủa của người bỏ phiếu lưởng lự ' tương tự 'lời nguyền rủa của kẻ chiến thắng, hay nối cách khác là hiện tượng đấu giá trong thị trường kinh tế. Đó là thái độ của người tham gia đấu giá muốn mua được món đồ. nhưng laị muốn giá trị thật của món đồ thấp hơn cái giá nó được mua cho người trà cao nhất, ngoại trừ người này. Đó là ý nghĩa của tại sao những người tham gia đấu giá khờ khạo phải trả cái giá thật cao để có món đồ. Hay nói cách khác đó là là sự quyền rủa của chính anh ta, hay cách khác anh ta luôn tránh sự trả giá thấp hơn. Và khi so sánh việc trả giá trong các cuộc đấu giá với người đi bỏ phiếu, thì người bỏ phiếu sẻ lưởng lự tự nhủ không biết mình có thực sự nắm bắt được hết các thông tin cần thiết hay không, do đó quyết định bỏ trống hay không chọn lựa trên các phiếu bầu. Các nhóm kinh tế trẻ xử dụng các công cụ phân tích kinh tế hành sử cho việc ủng hộ các mộ hình xư hướng kinh tế hiện thời. Họ có nhiều ảnh hưởng cho các kết quả nghiên cứu cho ứng dụng tâm lý học trong việc một người không nhất thiêt hành xử do tính ích kỷ hay lý trí tạo ra.

Dick Thaler ở đại họcChicagophát triển kết hợp hiện tượng lý lẻ pháp lý và mô hình toán hình thức trong mối quan hệ trong hành vi của con người khi muốn làm rất nhiều việc nhưng không thể hòa hợp với lý tưởng hóa cho thế giới sống của họ. David Laibson ở Harvard trong nghiên cứu tâm lý của việc tiết kiệm đưa đến phát triển ý tưởng của việc áp dụng 'siêu giảm giá' cho những cá nhân có được một mức giảm giá thấp hơn cho các sự kiện trong tương lai xa hơn là tương lai gần. Giống như việc gợi ý cho mức tiết kiệm cho quĩ hưu trí, sẻ buộc ngươì tiêu dùng tức khác bỏ ra đúng số tiền cho tương lai. Nhưng vậy sẻ không thực tế. Trong vấn đề tiết kiệm cho hưu trí, chính phủ cần can thiệp bằng một mức tiết kiệm qui định tự động trích ra từ thu nhập của người tiêu dùng. Vì có như vậy sẻ gíúp người tiêu dùng khỏi bị lệ thuộc vào sự tính toán cho tương lai xa xôi. Đó là lý do người lao động ở Hoa Kỳ sẽ bị trừ đi một phần lương cho mổi kỳ lương cho quĩ hưu trí hay an sinh xã hội. Sự ảnh hưởng của các tư tưởng kinh tế này ảnh hường ở mức địa phương hơn là quốc gia, do đó nó không được biết đến trên toàn thế giới như các tiền bối của họ trong những năm 1988. Dù vậy ý tường của họ sẻ ảnh hưởng đến các thế hệ kế tiếp. Và các ý tường kinh tế này xóa dần các hàng rào giữa các trường phái kinh tế truyền thống. Khi các nhà kinh tế trẻ không còn thiên về kinh tế thực nghiệm hay kinh tế lý thuyết. Họ có khuynh hướng làm cho chính sách kinh tế hồi sinh hơn là thay đổi. (Dựa trên các bài thảo luận của tạp chí the economist của Anh Quốc trong 2002-2006)

Các Giá Trị Kinh Tế Của Một Thị Trường

“Có nhiều thước đo cho sức mạnh và tiềm năng của một thị trường, nhưng giá trị sở hữu công nghệ kỷ thuật cao, nguồn vốn, và lực lượng lao động có trình độ là ba giá trị cơ bản cho một thị trường mạnh và tiềm năng.”
*****
Sự khác biệc mà thị trường Việt Nam trải qua do nhiều nguyên nhân, nhưng từ khi chính phủ thực hiện chính sách đổi mới đầu thập niện 1990 đả tạo ra sự thay đổi to lớn cho nền kinh tế mở cửa của Việt Nam. Trung Quốc có lẻ là quốc gia có nhiều nét giống Việt Nam ở khía cạnh nền tảng chính trị, còn Singapore có thể giúp Việt Nam nhận ra các giá trị bảo tồn văn hóa và áp dụng nghiêm khắc hệ thống pháp luật. Nam Triều Tiên, Nhật Bản giúp Việt Nam nhận ra mối quan hệ của chính phủ trong việc điều tiết nguồn vốn, công nghệ, sự tập trung cao cho các mục tiêu phát triển sản phẩm phục vụ thị trường nước ngoài. Nét riêng mà các quốc gia này tạo ra sự tăng trưởng vượt bậc trong các thập niên vừa qua là sự biến hóa hay pha chọn của bản sắc dân tộc tại quốc gia của họ. Ấn Độ đả nhận ra những khía cạnh thuận lợi và thử thách khi hình thành các thương hiệu của họ, nhưng mở rộng dần cho thị trường nước ngoài, bởi vì họ luôn nhận ra mức thu nhập trong nước thấp, như vậy sẻ hạn chế khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Họ tập trung mở rộng thị trường sang các quốc gia tiêu thụ mạnh cho nguồn lợi nhuận cao hơn, giúp doanh nghiệp có khả năng phát triển theo chiều sâu của công nghệ, chiều rộng của thị trường. Thường các công ty này tập trung phát triển sản phẩm chủ đạo trước, đến khi họ đủ vốn và thiết lập hệ thống toàn cầu, thì họ dần dần mở rộng kinh doanh sang nhiều loại sản phẩm để hạn chế rủi ro khi thị trường bị biến động làm giảm mức tiêu thụ.

Việt Nam có giá trị lịch sử tạo ra sự phấn đấu không ngừng của mọi người dân. Các giá trị sáng tạo và biết chuyển hóa theo từng hoàn cảnh là điều mà cán bộ Việt Nam nên khuyến khích mọi thành viên trong doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước nên phấn đấu và thực hiện. Điều này sẻ nối kết các giá trị lịch sử cho việc chuyển biến nền kinh tế đang phát triển tại Việt Nam với các thị trường mạnh trên thế giới. Khả năng mà doanh nghiệp Việt Nam có thể nêu ra các phương châm sau rất cần thiết: (1) 40% lợi nhuận tạo ra từ thị trường nước ngoài, (b) 30% lợi nhuận tạo ra từ thị trường trong nước, (c) 30% lợi nhuận tạo ra từ sự chuyển đổi của nền kinh tế tạo ra vùng đệm cho việc phục vụ nền kinh tế trong nước và nước ngoài, (d) sử dụng vốn cho sản xuất ưu tiên cao, cùng với nghiên cứu sản phẩm và nâng cao chất lượng, (e) luôn nâng cao khả năng quảng cáo ra thị trường nước ngoài khi khả năng của doanh nghiệp vượt ra khỏi thị trường trong nước.

Cán bộ sẻ nhận ra sự cạnh tranh giữa thị trường Việt Nam, và các thị trường trong khu vực về vốn đầu tư, viện trợ từ các công ty nước ngoài. Nếu thị trường Việt Nam tạo ra các thông số hoàn hảo hay hấp dẩn nhà đầu tư, cộng với qui mô quảng cáo toàn cầu thì nguồn vốn, công nghệ, chuyên gia từ nước ngoài sẻ chạy mạnh vào Việt Nam trong các năm sắp tới.

Nhưng hoàn cảnh hiện tại của thị trường ViệtNamđòi hỏi nhà quản lý, nhân viên có một khái niệm hoàn toàn khác là sự cạnh tranh ở mức độ toàn cầu. Giống như tại sao các nhà đầu tư Nhật Bản chọn Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên hơn là Việt Nam? Câu trả lời luôn là mức rủi ro thấp, nguồn nhân công phù hợp cho các nhà đầu tư, tiềm năng của thị trường cao, khả năng nối kết của thị trường với các thị trường khác rất lớn, môi trường kinh doanh và đầu tư phù hợp, giá trị đóng góp cho sự sáng tạo cao. Bên cạnh đó, nguồn lao động có một nét đặc trưng mang giá trị như: kỷ luật, đam mê, nhiệt tình, học hỏi, đoàn kết, tôn trọng. Sự nhạy cảm giữa các giá trị cạnh tranh trong từng thị trường của nền kinh tế thị trường trong thời đại thông tin đa phương tiện nối liền toàn cầu, nguồn nhân công của thị trường thế giới, cạnh tranh về giá cả của các thị trường cho việc giảm giá thành, sao chép bản quyền, bí mật công nghệ, tội phạm tin học, tội phạm tài chính quốc tế trở thành những thách thức một quốc gia trong việc biến đổi các tiềm năng như ý chí, khả năng tài chính, khả năng phán đoán, khả năng phân tích, khả năng suy luận lo-gic, và các phương tiện khoa học kỷ thuật hiện đại cho việc khai thác khả năng trong nội địa. Tiềm năng của nền kinh tế tại Việt Nam nằm ở giá trị con người nhiều hơn. Có nghĩa dù các điều kiện tư nhiên, môi trường thuận lợi, nhưng giá trị đóng góp của con người vẩn là yếu tố quan trọng cho nền kinh tế của Việt Nam phát triển từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.

Mổi quốc gia biết áp dụng các giá trị của nền kinh tế thị trường có sự pha trộn của giá trị văn hóa, truyền thống, chính trị mang bản sắc riêng. Việt Nam có thể làm được việc này. Nhiều nhà kinh tế Hoa Kỳ nhận xét về nền kinh tế Nhật Bản hoạt động không theo các nguyên lý và kinh tế lý thuyết mà các nền kinh tế phương tây đả và đang áp dụng. Các học thuyết kinh tế trên thế giới hoàn toàn xa lạ đối với nền kinh tế Nhật Bản theo ý nghỉa áp dụng và quản lý trong môi trường kinh tế Nhật Bản, nhất là cách làm việc và quản lý nhân sự trong các doanh nghiệp Nhật Bản và ngay cả các cơ quan chức năng thuộc chính phủ như ngân hàng Nhật Bản, ngân hàng phát triển Nhật Bản, bộ tài chính, bộ công nghiệp, mậu dịch và kinh tế, đều có những phưong thức quản lý và hoạt động theo những giá trị truyền thống của Nhật Bản. Như giai cấp Samurai đả cống hiến cho Nhật Hoàng trong giai đoạn trước thời đại của Nhật Hoàng Meiji. Ngoài ra các yếu tố nhóm và sự thân thuộc và mối liên hệ theo cấp bậc trong các doanh nghiệp của Nhật Bản tạo ra một sự đoàn kết vô hình giữa các thành viên với nhau. Nếu cán bộ là đảng viên có thể được xem như là lớp chủ đạo của xã hội Việt Nam giống như tầng lớp Samurai đả đóng góp cho sự phát triển của Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20, thì cán bộ là đảng viên sẻ có nhiệu chọn lực cho việc hy sinh và sang kiến trong việc gia tăng giá trị kinh tế cho Việt Nam. Hầu hết các quan chức và các nhà sáng lập ra các công ty mậu dịch và ngân hàng của Nhật Bản xuất thân từ tầng lớp Samurai. Họ luôn mang tinh thần dân tộc, yêu nước, can đảm, sang tạo, liều lĩnh và chấp nhận thử thách trước mọi khó khăn. Cán bộ là đảng viên tại Việt Nam có thể được xem như là tầng lớp Samurai của Nhật Bản trong việc hiện đại hóa và toàn cầu hóa và xã hội hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2030. Toàn thể cán bộ sẻ tạo ra một sự biến đổi thần kỳ cho tốc độ gia tăng nền kinh tế vượt qua con số 12% một năm và mức lạm phát dưới 3% một năm.

Nếu nhìn thị trường như một miếng bánh pi-za thì giá trị GDP của mổi quốc gia hay thị trường của quốc gia đóng góp vào sẻ giải thích khả năng ảnh hưởng của nền kinh tế của quốc gia đó đối với thị trường thế giới. Trong cuối thập niên 1980s, nền kinh tế Nhật Bản chiếm đến 10% tổng sản phẩm GDP của kinh tế toàn cầu, trong khi đó dân số Nhật Bản chỉ hơn 120 triệu người. Sau đây là bảng so sánh giá trị gia tăng tổng sản phẩm GDP của từng quốc gia ảnh hưởng đến giá trị gia tăng GDP của nền kinh tế toàn cầu:
Years
U.S.
EU 27
JAPAN
CHINA
South Korea
2005
24.1%
22.72%
5.26%
8.65%
2.5%
2006
21.4%
23.52%
5%
9.48%
1.92%
2007
20%
22.58%
8.33%
10%
1.96%
2008
18.18%
27.27%
zero
11.11%
Zero
(Kết quả được phân tích theo bảng báo cáo của JETRO, cơ quan mậu dịch hải ngoại của chính phủ Nhật Bản.
EU 27 là cộng động chung Châu Âu bao gồm 27 quốc gia)

Giá trị tổng sản phẩm quốc dân của một quốc giá gia tăng theo giá trị kinh tế của các ngành công nghiệp, dịch vụ kinh tế sản xuất trong một quốc gia. Nếu quốc gia đó có nhiều nguồn đầu tư tại nước ngoài, thì lợi nhuận tại nước ngoài sẻ đóng góp cho doanh nghiệp đó theo nguồn thu nhập của cổ đông. Trong khi đó giá trị sản xuất của nền kinh tế sẻ lệ thuộc trên tổng số thu nhập của các doanh nghiệp tạo ra cho trong quốc gia đó tạo ra trong một năm. Ngoài ra giá trị đầu tư của một quốc gia tại nước ngoài có thể gia tăng lên hay thu nhỏ lại, củng như tổng giá trị của các tài sản bao gồm bất động sản, cổ phiếu, và các loại sở hữu tại thị trường nội địa tăng hay giảm theo giá thị trường trong từng thời điểm khác nhau. Có thể gọi là giá trị tài sản của quốc gia đó. Trong năm 1991, giá trị đất đai của Nhật Bản là 14 ngàn tỉ đô-la, gấp đôi giá của đất đai Hoa Kỳ, trong khi đó Nhật Bản chỉ bằng 1/25 Hoa Kỳ về diện tích. Vào thời điểm mà giá đất đai của Nhật Bản tăng ở mức cao nhất, khuôn viên của khu vực Nhật Hoàng ở gọi là Emperor Palace có giá trị bằng cả vùng đất đai của tiểu bang California ở Hoa Kỳ. Nhưng nhìn vào giá trị GDP mà kinh tế Nhật Bản đóng góp vào nền kinh tế thế giới có phần giảm đi do nhiều nhiều nguyên nhân, trong đó có mức sinh sản đả giảm hay nói cách khác số lượng người già và người nghĩ hưu càng tăng lên. Vào năm 2009, tỉ lệ người Nhật trên 60 tuổi chiếm hơn 30% dân số Nhật Bản. Như vậy có nghĩa số người đang làm việc giảm đi, do đó chính phủ phải chi phí nhiều hơn cho các quĩ phúc lợi xã hội và trợ cập hưu trí so với nguồn thuế thu nhập cá nhân và thuế doanh nghiệp và thuế tiêu dùng.

Thị trường Việt Nam đang mở các cánh cửa mậu dịch quốc tế để có khả năng khai thác sự tiếp xúc với các thị trường mạnh như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Châu Âu. Nếu cán bộ và nhân viên Việt Nam có thể nhận ra giá trị kinh tế mà họ có thể đóng góp vào nền kinh tế của Việt Nam trong quá trình làm việc tại các công ty Nhật Bản, Hoa Kỳ, và các quốc gia nước ngoài tại Việt Nam, thì đó là một cách thức gián tiếp khuyến khích có nhiều nhà đầu tư Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, Trung Quốc vào thị trường Việt Nam. Nhật Bản chỉ có dân số 126 triệu người trong năm 2008 so với Trung Quốc là hơn 1 tỉ ngươi hay Hoa Kỳ lần hơn 260 triệu người. Trong khi đó Nhật Bản có số lao động là 66.5 triệu người trong năm 2008, so với Trung Quốc là 807.3 triệu người, Hoa Kỳ là 154.3 triệu người (bao gồm cả người thất nghiệp). Thị trường Việt Nam sẻ khai thác mức đóng góp của mỗi người dân Việt Nam trong các năm sắp tới.

Khi nhìn qua trong ba năm 2006, 2007, 2008, Nhật Bản là một trong các quốc gia có lượng đầu tư lớn vào thị trường Đông Nam Á. Bảng sau đây sẻ cho thấy giá trị đầu tư của Nhật Bản trong ba năm này so với các quốc gia như Châu Âu (25 quốc gia), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hồng Kông, và Nam Triều Tiên:
(Đơn vị tính theo: tỉ đô-la Mỹ)
Năm
Nhật Bản
Châu Âu 25
Hoa Kỳ
Trung Quốc
NamTriều Tiên
Hồng Kông
2006
10.229
10.672
3.418
1.278
1.324
1.016
2007
8.382
18.383
6.345
1.622
2.777
1.226
2008
7.156
13.124
3.012
0.618
2.122
1.436
2006-2008
25.768
42.180
12.776
3.520
6.224
3.680
(Theo nguồn phân tích của ASEAN)

Tính theo nguồn đầu tư vào các quốc gia Đông Nam Á, Nhật Bản chỉ đứng sau khối Cộng Đồng Châu Âu 25 quốc gia. Như vậy giá trị kinh tế mà Nhật Bản góp phần vào sự phát triển của các quốc gia Đông Nam Á rất lớn. Ngoài ra Nhật Bản có những chọn lựa ưu tiên trong việc đầu tư vào thị trường Đông Á và Đông Nam Á, đả trực tiếp hay gián tiếp kích thích nền kinh tế của hai khu vực này phát triền trong suốt hai thập niên 1990s và 2000s. Cán bộ quản lý và nhân viên Việt Nam sẻ luôn chọn cho mình một công việc ổn định theo nghĩa mức lương hợp lý khi họ nhắm vào xin việc làm ở doanh nghiệp nước ngoài. Bảng so sánh sao đây cho thấy nguồn đầu tư của Nhật Bản trong hai năm 2007 và 2008 vào hai khu vực Đông Nam Á và Đông Á:
(Đơn vị: tỉ đô-la Mỹ)
Quốc Gia
2007
2008
Trung Quốc
37.339
49.002
Đài Loan
7.742
8.830
NamTriều Tiên
12.103
12.108
Hồng Kông
9.129
11.716
Singapore
17.586
19.511
Thái Lan
19.776
20.529
Indonesia
8.315
8.528
Mã Lai
8.184
7.743
Philippine
5.780
7.800
ViệtNam
1.711
3.300
Ấn Độ
4.218
9.440
(Theo nguồn báo cáo của Jetro)
Như vậy có thể nhận thấy sự đóng góp của các nhà đầu tư Nhật Bản vào thị trường ViệtNamvà cả vùng Đông Á và Đông Nam Á là rất lớn. Mặc dù chính phủ Việt Nam, củng như các doanh nghiệp Việt Nam hy vọng có nhiều nhà đầu tư Nhật Bản vào thị trường Việt Nam, nhưng vẩn có nhiều lý do mà thị trường Việt Nam vẩn không thu hút nguồn đầu tư từ Nhật Bản bằng các quốc gia khác. Vậy điều gì có thể thay đổi thái độ của nhà đầu tư Nhật Bản trong việc gia tăng nguồn đầu tư vào thị trường ViệtNamtrong thời gian tới? Thường thì chính phủ Việt Nam luôn nhận xét về khả năng phát triển kinh tế thông qua việc chọn nhà đầu tư nước ngoài. Nhất là mỗi quốc gia có các tiềm năng khác nhau. Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam sẻ được hoạch định theo từng giai đoạn cụ thể, mà mỗi giai đoạn sẻ có những đối tác nước ngoài là tác nhân chủ đạo cho việc phát triển kinh tế. Tùy theo nhu cầu phát triển của thị trường trong nước và ngoài nước, mà chính phủ Việt Nam sẻ gia tăng mối quan hệ hợp tác kinh tế, ngoại giao, chính trị, giáo dục, nông nghiệp, xây dựng, nghiên cứu với các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới.

Ngoài ra một thị trường còn mang những giá trị trí tuệ, sáng tạo, giáo dục, sự đồng nhất, tiềm năng, và số lượng thương hiệu toàn cầu. Có lẻ Nhật Bản đả tạo dựng ra tất cả các thương hiệu toàn cầu trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Trong năm 1991, mười ngân hàng đứng đầu thế giới đều là của Nhật Bản, công ty môi giới và bảo hiểm Nomura với tài sản hơn 430 tỉ USD trong năm 1988, tạo ra múc lợi nhuận 1.7 tỉ USD hơn cả tổng số lợi nhuận của các công ty Hoa Kỳ gọp lại bao gồm các công ty như Merrill Lynch, Morgan Stanley, Paine Webber, và Salomon Brothers. Danh sách các công ty đả tạo ra uy tín trên toàn cần của Nhật Bản trong cuối thập niên 1980.
(Đơn vị của lợi nhuận: tỉ Yen)
Loại Kinh Doanh
Tên Công Ty
Lợi Nhuận
Thiết bị điện
Matsushita (Panasonic)
170.63

Hitachi
88.684

Toshiba
40.948
Thiết bị chính sát
Canon
20.419

Olympus
9.655

Citizen Watch
3.919
Sản xuất dầu thô, khí đốt
Arabian Oil
65.290

Teikoku
7.303

JapanPetroleum Exploration
3.450
Lấp ráp thiết bị
Kanto Denkikoji
24.624

HitachiElevator Engineering & Service
14.648

Chugoku Electrical Construction
12.915
Thiết bị vận tải
ToyotaMotor
427.558

Nissan
116.312

Honda
77.746
Buôn bán sỉ
Mitsubishi
58.001

Marubeni
27.576

Mitsui & Co
18.978
Buôn bán lẻ
Ito-Yokado
49.861

Marui
33.585

Jusco
23.727
Cổ phiếu và chứng phiếu
Nomura Securities
478.466

Daiwa Securities
286.363

TokyoStock Exchanges
18.418
Máy móc nói chung
Nintendo
46.835

FujiXerox
40.026

Ricoh
20.793

Kubota
19.870
Bất động sản
Mitsubishi Estate
55.931

Mitsui Real Estate Development
31.525

Daikyo Kanko
21.525
Vận chuyển hàng hóa và khách
NipponExpress
26.576

TokyoSaga Express
16.865

Seino Transportation
9.194
Xây dựng tổng hợp
Kajima
33.273

Taisei
33.101

Takenaka Kokuten
31.713
Thực phẩm
KirinBrewery
81.938

Ajinomoto
29.415

Yamazaki Baking
22.382
Sản phẩm giấy
Oji Paper
27.674

Kokuyo
15.756

Jujo Paper
14.259
Hóa chất
FujiPhoto Film
124.557

Takeda Chemical Industries
67.257

Kao
31.125
Cung cấp điện
TokyoElectric Power
519.961

Chubu Electric Power
319.428

Kansai Electric Power
318.478
(Theo nguồn tham khảo của các tác giả về thị trường Nhật Bản)
Những giá trị có nguồn gốc từ mối quan hệ giữa con người giúp Nhật Bản thành công trong việc khai thác nguồn tài nguyên nước ngoài ở dạng thô, ít có giá trị, và biến chuyển các nguyên liệu thô này thành các loại sản phẩm tiêu thụ có chất lượng cao, tính năng hữu ích trên thị trường toàn cầu. Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Đài Loan là ba quốc gia tạo ra các công ty có chất lượng quốc tế trên toàn cầu bằng nổ lực của doanh nghiệp nội địa trong suốt các thập niên qua. Riêng Trung Quốc và Ấn Độ biết tạo ra các thương hiệu quốc tế qua các chiến lược bước nhảy thông qua các bước rút ngắn không như Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Đài Loan đả cố gắng phát triển từ gốc lên ngọn trong thời gian hơn 4 thập niên. Có nghĩa tùy theo điều kiện hiện tại mà thị trường Việt Nam có thể phát triển theo cả ba bước: từ căn bản lên chuyên môn cao, từ liên kết cùng phát triển lên chuyên môn cao, từ nhảy vọt thông qua bắt trước và gấp rút học hỏi công nghệ cho chuyên môn cao. Hiện tại Trung Quốc đang gia tăng số lượng thương hiệu có tầm cở quốc tế bằng cách mua các thương hiệu có uy tính nhưng đang gặp khó khăn về tài chính, rồi dùng nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực, khách hàng của thương hiệu này chuyển dần về cho các chủ đầu tư là các tập đoàn hay công ty ở quốc gia của họ.

Kinh Tế Nhật Bản và Thị Trường Đông Nam Á

“Sự thành công do nhiều yếu tố đem lại, ít nhất là có yếu tố hy sinh, say mê và tinh thần đoàn kết”

*****
Các quốc gia ở Châu Á có những nhận xét khác nhau về Nhật Bản do những sự kiện lịch sử, các bài học cải cách, canh tân quản lý, phát triển kinh tế, và sự khôi phục kỳ diệu về kinh tế 30 mươi năm sau thế chiến thứ hai để trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Nếu các nhà lãnh đạo quốc tế nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản, văn hóa, ngôn ngữ, các loại hình giải trí sẻ nhận ra những giá trị của cải cách và hoàn thiện các ý tưởng bởi ngưòi dân Nhật Bản. Ngay như hệ thống chử viết tiếng Nhật đả thể hiện sực kết hợp của nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Tiếng Nhật bao gồm nhiều loại ký tự hay hệ thống chử viết. Trong đó có chử gốc Hán gọi là chử Kan-ji. Chử phiên âm và có gốc nước ngoài gọi là của Katakana. Chử viết phiên âm theo tiếng la tinh là chử romanji. Cuối cùng là chữ viết hoàn toàn gốc Nhật gọi là hiragana. Những suy luận và tư duy của người Nhật giúp họ phát triển kinh tế, văn hóa, các loại hình nghệ thuật mang tính riêng biệt không một quốc gia nào ở Châu Á có thể áp dụng tương tự như người dân Nhật đả làm. Nếu có ai muốn bắt trước tất cả những gì từ những thành công Nhật Bản đả đạt được, thì câu trả lời là không được. Mặc dù Trung Quốc và một số nước Đông Á và Đông Nam Á đả áp dụng phần nào mô hình quản lý điều hành kinh tế của Nhật Bản nhằm tăng nguồn hàng hóa xuất khẩu, tạo khả năng tích lũy vốn lớn, thành lập các công ty nội địa khổng lồ và mở rộng thị trường lớn cho các doanh nghiệp quan trọng giúp nền kinh tế nội địa phát triển. Nhưng mỗi quốc gia có sự thành công hoàn hảo tạp thời hay chưa hoàn hảo. Phân tích kinh tế của một xã hội đều dựa vào cả thu nhập của ngươì dân, hệ thống y tế, giáo dục, phương tiện phục vụ miễn phí của chính phủ và điền kiện khai thác các nguồn thông tin và văn hóa.

Giáo sư Chalmers Johnson giảng dạy tại đại họcCalifornia, Hoa Kỳ đả nhận xét vền Nhật Bản như sau: “Dân Nhật tiết kiệm gần 20 % thu nhập một năm. Hệ thống trường học đào tạo cho nguồn nhân lực văn phòng có thể xử lý tính toán, suy luận lo-gic ngang với trình độ đại học ở Hoa Kỳ. Hệ thống hưu trí và sức khỏe so sánh với các quốc gia trên thế giới, có mức hiệu quả cao, chi phí không cao, và tỉ lệ thất nghiệp chỉ bằng một nửa của Hoa Kỳ và Đức. Và ngành công nghệ kỷ thuật cao không phải chi phí tốn kém cho việc chuyển đổi các phiên bản từ công nghệ quốc phòng sang công nghệ tiêu dùng.” Ngoài ra, trong nền kinh tế Nhật Bản, thì các dịch vụ công cộng luôn được đánh giá cao và có giá trị ưu tiên. Điểm đặc biệc cho hệ thống quản lý của chính phủ Nhật Bản luôn tuyển chọn các nhân tài, nguồn chất xám, nguồn tài năng trẻ cho bộ máy hành chính của chính phủ nhất là các cơ quan như bộ công nghiệp-mậu dịch-đầu tư, bộ tài chính, bộ kinh tế, ngân hàng Nhật Bản (BOJ, DBJ), bộ giáo dục, bộ xây dựng, bộ giao thông vận tải, bộ nông nghiệp, và các thành viên của quốc hội Nhật Bản. Nhật Bản đả chuyển đổi từ một nền kinh tế do các nhà sản xuất điều phối sang trung tâm phát triển kinh tế có sự kích thích do nhu cầu của người tiêu dùng ở vùng Đông Á.

Sau thế chiến thứ hai, Chính phủ Nhật Bản đả áp dụng chính sách khuyến khích người tiêu dùng gửi tiền tiết kiệm vào quỉ tiết kiệm do bưu điện của chính phủ quản lý. Tạo ra mức tiết kiệm thuộc loại cao trên thế giới hơn 20% nguồn thu nhập hằng năm. Với mức chi trả tiền lải thấp, chính phủ có thể giúp các tập đoàn công nghiệp và công ty xuất khẩu vay vốn với lải xuất thấp nhằm tạo ra giá thành thấp dể dàng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các công ty tài chính thường giúp các công ty lớn có sự ổn định về giá cổ phiếu cho sự ổn định và triển của nền thị trường Nhật Bản. Ngoài ra các công ty thương mua cổ phiểu của nhau như là biện pháp cho sự liên kết trong mối quan hệ cùng nhau tồn tại trên thị trường. Ngoài ra, phần lớn các công ty ở Nhật không bị chi phối bởi cổ đông như các công ty ở phương tây, do đó hội đồng quản trị có thể độc lập thực hiện các chính sách kinh tế có lợi nhuận lâu dài hơi là các công ty phưong tây luôn chú trọng vào việc tạo ra giá cổ phiếu giá tăng nhanh chóng để các chủ tịch hay giám đốc điều hành được thưởng bằng cổ phiếu của công ty hay tiền mặt cùng các phúc lợi khác.

Các công ty lớn có những ưu đải về vốn và kỷ thuật do các bộ của chính phủ hổ trợ, đồng thời các chức vụ trong hội đồng quản trị của các công ty Nhật thường do cán bộ nghỉ hưu từng làm việc trong chính phủ Nhật trước đây với cương vị là thứ trường hay trưởng phòng trong bộ máy hành chính trung ương. Bên cạnh đó các công ty lớn có chính sách thuê mướn nhân viên làm việc suốt đời đến khi nhân viên đến tuổi nghỉ hưu. Đồng thời các công ty còn cung cấp hay bù lổ cho nhà ở, câu lạc bộ thể thao, và các trợ cấp khác cho nhân viên của mình. Nhân viên thường làm việc nhiều hơn so vơí những quốc gia công nghiệp phát triển. Và phần lớn nhân viên đều xem công ty là gia đình của họ. Họ sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của công ty. Hiện tại do mức sinh sản thấp, và muốn gia tăng không khí của gia đình, một số công ty Nhật Bản cho phép nhân viên về nhà sớm hơn cho những chia sẻ với các thành viên gia đình.

Điều đáng để các quốc gia khác học hỏi là các công ty Nhật luôn xem khách hàng là thượng đế theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nếu vì bất kỳ lý do gì, công ty không thực hiện hợp đống đúng hạn thì tổng giám đốc công ty có thể đích thân quì gối trước mặt khách hàng xin lổi và mong khách hàng thông cảm bỏ qua, đồng thời bảo đảm sẻ thực hiện hợp đồng trong thời gian sớm nhất. Quan niệm trể hợp đồng có ý nghĩa là lổi của toàn thể nhân viên trong công ty, do đó người đứng đầu của công ty sẻ đứng ra nhận lổi. Ngoài ra công ty Nhật không bao giờ khen thưởng từng cá nhân trước mặt tập thể, mà họ luôn khen thưởng những kết quả đạt được do toàn thể các nhân viên hay do tập thể đóng góp tạo ra. Do đó mọi thành viên luôn nhận ra sự đóng góp của mình là vì công ty, vì tập thể.

Kinh tế Nhật Bản trong năm 2008 đả đạt được 4911 tỉ USD. Tổng số lao động là 66.5 triệu người. Vớ tỉ lệ dân số làm việc trong nông nghiệp là 4.4%, công nghiệp 27.9.%, dịch vụ 66.4%. Tỉ lệ thât nghiệp là 4% vào năm 2008. Đầu tư vốn chiếm 23% GDP trong năm 2008. Ngân sách thu của chính phủ là 1720 tỉ USD, ngân sách chi là 1788 tỉ Mỹ kim. Lạm phát giá tiêu dùng là 1.4%. Thị trường vốn 5417 tỉ USD. Thi trường tiền tổng hợp là 6120 tỉ USD. Thị trường tín dụng nội địa là 12340 tỉ USD. Giá trị cổ phiếu giao dịch trên thị trường là 4453 tỉ USD năm 2007. Thặng dư mậu dịch quốc tế là 57 tỉ USD, so với tài khoảng thanh toán là dương 156.6 tỉ USD năm 2008. Tổng giá trị xuất khẩu là 765 tỉ USD. Nhập khẩu 708 tỉ USD. Đối tác nhập khẩu chính là Trung Quốc 18.9%, Hoa Kỳ 10.4%, Arập Saudi 6.2%, Úc 6.2%, Tiểu Vương Quốc Arập 6.1%, Indonesia 4.3%. Dự trử ngoại tệ và vàng là 1011 tỉ USD. Giá trị cổ phiếu của công ty nước ngoài tại thị trường Nhật là 135.4 tỉ USD. Giá trị cổ phiếu của vốn đầu tư nước ngoài là 663.9 tỉ USD. Tỉ giá đồng Yen và Mỹ kim khoảng 92 cuối năm 2009.

Những tỉ số thống kê kể trên cho thấy thị trường kinh tế của Nhật Bản đả hoạt động như thế nào để một quốc gia 126 triệu dân chuyển mình từ sau thế chiến thứ hai. Có những con số giúp ViệtNamhiểu kinh tế thị trường phát triển dựa trên thị trường tài chính, cổ phiếu bao gồm giá trị lượng tiền lưu thông là 5417 tỉ USD so với thu nhập quốc dân GDP là 4911 tỉ USD. Còn tổng giá trị các loại tín phiếu là 6160 tỉ USD. Giá trị của thị trường tín dụng rất lớn gần gấp ba lần tổng sản phẩm quốc dân là 12340 tỉ USD. So với Hoa Kỳ, lượng tiền mặt là 14360 tỉ USD, tín phiếu khoảng 10990 tỉ USD so với thu nhập quốc dân GDP là 14440 tỉ USD và thị trường tính dụng là 15060 tỉ USD. Thị trường chứng khoán của Nhật Bản là 4453 tỉ USD (2007) so với GDP là 4370 tỉ USD, gần tỉ lệ 1:1; Còn Hoa Kỳ thì giá trị thị trường chứng khoán là 19950 tỉ USD (2007) so với GDP là 14380 tỉ USD cho tỉ lệ 1.39:1. Như vậy nền kinh tế của Hoa Kỳ tạo ra giá trị ảo nhiều hơn là nền kinh tế Nhật Bản.

Nhật Bản nhập đến 60% lượng thực phẩm. Đánh bắt cá và hải sản chiếm 15% sản lượng thế giới. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 10% trong thập niên 1960, sau giảm xuống trung bình 5% trong thập niên 1970, và 4% trong thập niên 1980. Sau cuộc khủng hoảng tài chính vào đầu thập niên 1990, mức tăng trưởng bình quân trong hai thập niên 1990 và 2000 là 1.7%. Vào tháng 10 năm 2007, Nhật chấm dứt giai đoạn phát triển và mở rộng kinh tế giai đoạn sau chiến tranh, chuyển sang một giai đoạn mới cho việc khai thác thị trường nước ngoài với nguồn vốn - tiền, công nghệ, khoa học kỷ thuật, và phương thức quản lý – cho nguồn lợi nhuận lâu dài.

Với những nét tương đồng về văn hóa và triết lý, các doanh nghiệp Việt Nam có thể làm việc trong các liên doanh, hợp tác, trao đổi mậu dịch với đối tác Nhật Bản. Ngoài ra Việt Nam sẻ tạo ra một trung tâm của mậu dịch quốc tế, kinh tế phát triển trong việc áp dụng các công nghệ khoa học kỷ thuật cao và vốn của các công ty Nhật Bản cho ích lợi của hai phía đối tác. Doanh nghiệp và nhân viên ViệtNamcó thể học hỏi nhiều hơn từ các giá trị Nhật Bản đả đạt được có thể phát huy và phát triển trong môi trường kinh doanh ở ViệtNam. Các giá trị này bao gồm: tinh thần dân tộc, xem công ty như gia đình, đóng góp cho công ty với trách nhiệm cao nhưng luôn xem mọi kết quả là cùng do tập thể tạo ra, tôn trọng người khác và luôn kiên nhẩn tìm ra những hòa hợp giúp tập thể tồn tài lâu dài, tinh thần học hỏi sáng tạo và nâng cao chất lượng và thẩm mỷ. Các thương hiệu lớn của Nhật Bản như Toyota, Honda, Mitsubishi, Toshiba, Sanyo, Sharp, Komatsu, Sumitomo, Sony, Fujitsu, Canon, Nintendo, and Kirin là một trong các công ty, tập đoàn kinh doanh, sản xuất có thể biến nguốn tài nguyên, sức lao động, và tinh thần Việt Nam trong việc phát triển kinh tê cho hai quốc gia trong việc gia tăng tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam và Nhật Bản.

Nếu Việt Nam có thể phát triển kinh tế và hợp tác trao đổi với Nhật Bản trong giai đoạn 2011-2030 thì cơ hội Việt Nam và Nhật Bản gia tăng mức tăng trường kinh tế GDP cao hơn là mức hiện tại - theo lý tưởng Việt Nam sẻ đạt mức hơn 8% tăng trưởng GDP và mức lạm phát từ 1% đến 3%, trong khi đó Nhật Bản gia tăng kinh tế ở mức 3% đến 4% một năm với nhu cầu tiêu thụ hàng hóa Nhật Bản từ các quốc gia ASEAN, Úc, Đông Á, Ấn Độ, Nga, Hoa Kỳ, Châu Âu, và Châu Phi. Thành phố Hội An trong lịch sử phát triển kinh tế mậu dịch quốc tế, và phát triển văn hóa đả có những mối bang giao với các nhà buôn Nhật Bản. Nhiều kiến trúc ở phố cổ Hội An vẩn mang những nét văn hoá của Nhật Bản. Làm sao chính phủ Việt Nam có thể thiết lập các khu kinh tế đặc biệt thu hút nhà đầu tư Nhật Bản, Âu Mỹ cho việc tạo ra những trung tâm kinh tế giải quyết những vấn đề của kinh tế xã hội của Việt Nam: công ăn việc làm, hiệu xuất khai thác tài nguyên, tái tạo môi trường, cho thuê đất để phát triển kinh tế nhưng dưới sự quản lý bảo đảm an ninh quốc gia theo luật pháp quốc tế và Việt Nam nhằm thu hút nhà đảu tư tạo khả năng linh động giúp họ hoạt động kinh tế có lời cho cả phía Việt Nam. So với Singapore, Việt Nam đủ khả năng phát triển ba mô hình kinh tế đặc biệt tươg tự như Singapore, Hồng Kông, Khu Tư Do Mậu Dịch. Các mô hình này luôn đưa các chính sách an ninh lên hàng đầu, kế tiếp là gia tăng mức phát triển kinh tế.

Nhật Bản và Việt Nam có thể cùng nhau gia tăng sự phát triển kinh tế đối chiếu ở mức độ vùng cho Việt Nam. Khi Nhật Bản đang cần sự kích thích cho sự gia tăng cho nền kinh tế trong nước, chính phủ Việt Nam có thể thỏa thuận được nhiều chính sách mậu dịch và đầu tư song phương với Nhật Bản trong việc gia tăng giá trị kinh tế của sản phẩm sản xuất tại Nhật Bản do công nhân Việt Nam thực hiện trong các chính sách xuất khẩu trong các ngành nghề có giá trị lao động thấp mà người Nhật ít làm. Còn trong nước ở các khu vực kinh tế ở phía bắc, trung, nam sẻ có những khu cộng nghiệp gia công và chế tạo theo mô hình của Singapore nhưng thu hút nhà đầu tư Nhật Bản cho các thương hiệu điện tử, xe hơi, tàu, hóa chất, và may mặc. Kinh tế du lịch củng nằm trong các chính sách phát triển kinh tế này. Ngoài ra, khi nguồn nhân công Việt Nam có thể gia tăng sự tiêu thụ của các sản phẩm Nhật Bản trên thị trường thế giới bằng các giá trị sáng tạo và cải tiến và mẫu mã thì cả hai quốc gia cùng có lợi trong thời gian trước mắt.

Khi các công ty Nhật Bản nhận ra giá trị của việc thành lập các hảng xưởng gia công và lấp ráp cho các thương hiệu Nhật Bản nhưng xe hơi Toyota, Honda, Mazda, Mitsubishi, các đồ điện gia dụng như Sony, Toshiba, Sharp, NEC, Sanyo, Canon, Panasonic, các công ty hoá chất Fujitsu, Sumitomo, Mitsui, các công ty thương mãi như Itochu, công ty máy công nghiệp như Komatsu, Kubota, và các loại công ty kinh doanh và mậu dịch khác tại các quốc gia như Thái Lan, Singapore, Mã Lai, Inđônêsia, Việt Nam cho việc xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao dưới sự quản lý của chuyên gia Nhật Bản nhưng giá thành rẻ hơn là sản xuất tại Nhật Bản. Ngoài ra do nhiều chính sách phát triển kinh doanh và đầu tư cho lợi nhuận thông qua mậu dịch quốc tế và gia công giá rẻ, lẩn khai thác nguồn tài nguyên, các công ty Nhật Bản chia ra nhiều chủng loại sản phẩm theo chức năng, chất lượng, và độ bền nhằm chuyển giao một phần công nghệ cho các dự án đầu tư ở các quốc gia Đông Nam Á. Việt Nam càng phát triển ổn định bao nhiêu thì đó là điều thuận lợi cho kinh tế và an ninh của Nhật Bản. Nhất là tạo ra một thế cân bằng mới giữa Trung Quốc, Nhật Bản và ASEAN.

Thị trường Đông Nam Á có thể gia tăng khả năng thu hút đầu tư từ Nhật Bản bằng nhiều biện pháp hiệu quả trong thời gian tới. Một trong các lý do đó là các quốc gia ở Đông Nam Á thụ động trong việc chuyển mình trở thành độc lập hơn trong việc tạo ra các thế mạnh cho việc sản xuất và tạo ra các thương hiệu riêng cho mình tạo ra hình tượng mới là một thị trường tiêu thụ hơn là nhà máy gia công chế biến để tái xuất khẩu sang một thị trường thứ ba. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á có thể dùng số lượng người tiêu dùng lớn của các quốc gia thành viên cho việc thành lập thế mạnh kinh tế, chính trị trong việc liên doanh và hợp tác với Nhật Bản tạo ra thế cân bằng kinh tế, chính trị quốc phòng trước sự lớn mạnh của Trung Quốc trong khu vực. Nhật Bản do hạn chế về hiến pháp đả không phát triển khả năng quốc phòng tương ứng với sức mạnh kinh tế của mình trong nửa thế kỷ 20 và bước sang thế kỷ 21.

Thị trường Đông Nam Á cho thấy chưa được khai thác triệt để cho vai trò nâng cao từ thị trường gia công sản xuất chuyển sang thị trường tiêu thụ và dịch vụ. Sự khác biệc giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á ở thái độ làm giàu, và giá trị khai thác nguồn tài nguyên. Nếu Việt Nam có thể tạo ra một thế mạnh như là thị trường chuyển tiếp cho các thương hiệu của Nhật Bản hay gọi là hợp tác kinh tế, khoa học, văn hóa với Nhật Bản, thì cả hai quốc gia cùng tạo ra nguồn lợi song phương lâu dài. Việt Nam cần nguồn vốn, công nghệ, chuyên môn, mạng lưới tiêu thụ mậu dịch từ Nhật Bản, trong khi đó Nhật Bản cần Việt Nam tạo ra sự cạnh tranh toàn cầu về giá cả, mẫu mã, chất lượng, tính năng, sự sáng tạo. Nguồn nhân công trẻ và năng lực ở thị trường Việt Nam luôn cần phản ánh khả năng nhạy cảm với thị hiếu và xu hướng phát triển toàn cầu dựa trên các yếu tố: công nghệ thông tin, liên lạc di động và nối kết internet tốc độ cao, mậu dịch không biên giới, lợi nhuận dựa trên số lượng. Như vậy cả Nhật Bản và ViệtNamcó thể phát triển được mối quan hệ kinh tế lâu dài cho sự ổn định trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thế kỷ 21.

Sự phát triển kinh tế của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á cần được sự giúp sức về vốn, khoa học kỷ thuật từ Nhật Bản, củng như các trao đổi mậu dịch song phưong và đa phương. Khi Nhật Bản nhận ra giá trị gia tăng cho thị trường nội địa thông qua chính sách đầu tư và trao đổi mậu dịch với các thành viện Đông Nam Á, thí họ sẻ giảm nguồn đầu tư vào Trung Quốc và chuyển sang đầu tư vào khu vực ASEAN. Điều quan trọng kế tiếp là chính phủ các quốc gia ASEAN cần tăng cường vấn đề an ninh trong việc ổn định tình hình chính trị trong nước sẻ thu hút nhiều hơn nguồn đầu tư lâu dài từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, Châu Âu, và Trung Đông. Những khủng hoảng chính trị trong khu vực như vụ đánh bom ở Ấn Độ, Indonesia, và Áp-ga-nis-tan là những việc làm mang tính chính trị. Nhưng đằng sau là phục vụ cho mục đích kinh tế của các nhóm tài chính đa quốc gia. Cuộc nội chiến ở ViệtNamtừ 1945-1975 có thể giải thích cho việc có nhiều quốc gia làm giàu thông qua các cuộc chiến ở quốc gia lân cận. Bên cạnh đó các nhóm công nghiệp quốc phòng và tài chính luôn có khả năng kiếm lợi nhuận do các cuộc chiến gây ra vì họ có thể cung cấp quân cụ, thiết bị, quần áo, thức ăn, và các loại dịch vụ khách cho chính phủ thông qua các hợp đồng với bộ quốc phòng.

Do đó muốn gia tăng phát triển kinh tế Việt Nam cần gia tăng tinh thần yêu nước, trách nhiệm, tính chân thật, nhiệt tình, say mê, học hỏi, đoàn kết để mở ra cánh cửa mời chào các quốc gia có nền công nghệ tiên tiến vào đầu tư, đồng thời cùng nâng cao trình độ dân trí trong nước để đảm đương các trách nhiệm to lớn và lâu dài hơn. Nhật Bản có lẻ là một vị dụ cho việc phát triển kinh tế và tăng cường các chính sách quản lý thị trường cổ phiếu, bất động sản, tài chính, chính sách tiết kiệm và phát triển kinh tế toàn diện. Hiện tại nền kinh tế Nhật Bản gặp nhiều thử thách cho việc khuyến khích mức tăng trưởng dân số để giảm gánh nặng cho chính phủ trong việc cung cấp tiền hưu trí, dịch vụ sức khỏe và các chi phí xã hội khác. Đồng tiền Yen củng tăng giá làm giảm đi sự cạnh tranh của hàng hóa của Nhật Bản tại các quốc gia. Các công ty của các quốc gia củng chiếm dần các thị trường mà trước đây Nhật Bản từng là nhà vô địch như xe hơi từ Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ; máy truyền hình và điện thoại di động và máy phục vụ gia đình từ Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan.

Muốn hiểu nền kinh tế Nhật Bản vận hành thế nào là quá trình nghiên cứu tốn nhiều công sức, thời gian, tiền bạc, và sự giúp đở của người Nhật. Khi nhìn qua hai bức hình của thành phố Tokyo năm tháng 8 năm 1945, và Tokyo tháng 12 năm 2009, một cán bộ quản lý hay nhân viên Việt Nam sẻ luôn tư hỏi điều gì đả giúp Nhật Bản thay đổi và thành công như vậy. Đó là sự kỳ diệu cho quá trình phát triển kinh tế của xứ sở hoa Anh Đào. Sau chưa đầy 25 năm, nước Nhật đả đạt được tổng sản phẩm quốc dân sau Hoa Kỳ trong đầu thập niên 70s, và vược qua mức thu nhập của Hoa Kỳ vào giữa thập niên 80s. Hiện nay có nhiều sự chọn lựa cho việc học hỏi từ các thành phố như Thượng Hải của Trung Quốc, Singapore của Singapore và Hồng Kông, Hán Thành của Nam Triều Tiên và Đài Loan. Nhưng có nhiều giá trị mà Việt Nam có thể thêm vào từ các bài học kinh nghiệm của Nhật Bản hay các quốc gia trong khu vực là văn hóa dân tộc và truyền thống chính trị quốc gia.

Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển mối quan hệ vơí Nhật Bản nếu các doanh nghiệp biết cách phát triển các thế mạnh của mình để tạo uy tín cho đối tác Nhật Bản. Ở Đông Nam Á, Đông Á có nhiều quốc gia củng có nguồn lao động dư thừa hay nhân công rẻ, lẩn nguồn tài nguyên sẳn có, nhưng điểm mấu chốt thu hút đầu tư là sự ổn định về chính trị, luật lệ của môi trường kinh doanh và đầu tư, cùng với những chính sách giáo dục đào tạo của chính phủ giúp nâng cao tay nghề, kiến thức cho người lao động sau khi tốt nghiệp ra trường phổ thông trung học cấp ba. Ngoài ra nhân công củng cần có thái độ làm việc nhiệt tình, say mê với tinh thần trách nhiệm cao. Với quan niệm là dù làm việc cho ai, người làm công củng phát huy tinh thần say mê, hăng say, và nhiệt tình trong làm việc, lao động và cải thiện. Chính phủ có thể làm việc với các cơ quan chính quyền Nhật Bản và các công ty trong việc phát triển các khu công nghiệp chuyên môn cao. Cùng phía Nhật Bản phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng rất cần thiết cho nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng từ 104 tỉ USD lến hơn 900 tỉ USD trong năm 2030.

Điểm quan trọng là các bước phân tích chiều sâu dựa trên các báo cáo thực tế và so sánh mà chính phủ Việt Nam thực hiện cho các khâu chuẩn bị của chiến lược phát triển thị trường nội địa, cải thiện môi trường đầu tư, hệ thống giáo dục đào tạo công nhân các kiến thức chuyên môn, ngôn ngữ giao tiếp căn bản, thái độ làm việc nhiệt tình, tôn trộng cấp trên và đồng nghiệp. Các doanh nghiệp Nhật Bản sẻ cảm thấy dể dàng giao tiếp với đối tác và nhân viên ViệtNamhơn. Trung Quốc thu hút nhà đầu tư Nhật Bạn vì có thị trường 1.3 tỉ người, ngoài ra nhiều tài nguyên cho các sản phẩm tiêu dùng trên thế giới. Chử viết  Kanji của Nhật củng có nguồn gốc từ chử Hán, giúp người Nhật hiểu người Trung Quốc hơn là các quốc gia khác. Trung Quốc có khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ canh tranh trên toàn cầu tư thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Nam Mỹ đến các quốc gia Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, Châu Phi và Đông Âu giúp nâng mức tiêu thụ của người dân Trung Quốc để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản trong các loại kinh doanh mậu dịch, bán lẻ, thức ăn nhanh, nhà hàng Nhật Bản và dịch vụ tài chính.

Yếu tố kiên nhẩn, luôn nắm vững các khả năng của đối tác trước khi thương lượng giúp các doanh nghiệp Nhật Bản thiết lập mối giao dịch lâu dài với các đối tác quốc tế. Việt Nam có thể liên doanh với các công ty Nhật Bản nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh mới trên thị trường toàn cầu với mục tiêu doanh thu của hàng xuất khẩu hằng năm từ 5 tỉ đến 60 tỉ USD trong kế hoạch phát triển 5 năm. Cùng với các đối tác như Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Châu Âu, Úc, Hàn Quốc, Đài Loan, Phi Châu, Trung Đông, Trung Quốc, Việt Nam có thể đạt được mức tổng sản phẩm quốc dân là 1000 tỉ USD vào khoảng vào năm 2030. Tỉ lệ gia tăng này do sự đóng góp của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân. Nhân viên của lảnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài sẻ làm thêm nhiệm vụ là gia tăng tiếp thị và mở rộng thị trường của các thương hiệu Việt Nam tại các quốc gia trên thế giới. Các lãnh sự quán sẻ thành lập các hội thảo hay chương trình khuyến khích đầu tư tại các khách sạn lớn tại New York, Luân Đôn, Paris, Tokyo, Singapore, Thượng Hải nhằm thu hút nhà đầu tư trên thế giới. Có rất nhiều nhà đầu có vốn và khả năng phát triển tại Việt Nam, nhưng do thiếu thông tin và sự bất ổn định về hệ thống pháp luật cho quyền sở hửu và tài chính tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài vẩn chưa dám đầu tư vào thị trường Việt Nam. Chính phủ cần quảng cáo hiệu quả các dự án đầu tư vào Việt Nam tại các thị trường có nguồn vốn lưu động cao. Bên cạnh đó các lãnh sứ quán Việt Nam tại các thị trường có sức tiêu thụ mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Đông, Nam Mỹ, Canada, Úc nên nghiên cứu các yêu cầu vền mẫu mã, chất lượng, giá cả của sản phẩm tại thị trường này để cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị để tiếp thị trong các hội chợ triển lãm quốc tế. Tiêu chuẩn cao, chất lượng thiết kế, chất liệu sử dụng, độ bền, màu sắc, giá cả là điều quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng và phát huy tiềm năng của mình.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam có thể cải cách trong các môn về hướng nghiệp như điện, hoá sinh, nử công gia chánh, điện công nghiệp, cơ khí, ngoại ngữ, kế toán, mậu dịch, nông nghiệp cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12, các môn học này sẻ củng cố những kiến thức cần thiết cho học sinh trong việc tiếp cấn các công đoạn làm việc hiện đại có hiệu xuất cao hơn và hiệu quả hơn. Để giúp học sinh có thể xin việc làm ngay sau khi tốt nghiệp lớp 12. Họ có thể vào làm việc cho các khu chế xuất trong các lĩnh vực điện tử tiêu dùng, cơ khí máy móc xe hơi và xe gắn máy, hoá sinh cho công ty dược phẩm và hóa chất, may mặc. Sự tiết kiệm về thời gian và điều kiện cơ sở vật chất giúp các học sinh lớp 12 có được một tay nghề cơ bản khi tốt nghiệp ra trường. Nhất là môn ngoại ngữ, giao tiếp, phục vụ khách hàng trong các ngành kinh tế dịch vụ hay du lịch ăn uống. Bộ Giáo Dục sẻ dựa trên sự phân tích của nhu cầu thị trường cho các ngành điện tử, hóa sinh, dịch vụ, may mặc mà có ngân sách và các chính sách hợp lý đào tạo giáo viên, chuyên viên có năng lực giảng dạy tại các trường trung học và trung tâm dạy nghề với sự đầu tư thiết bị, phòng thí nghiệm, tài liệu giảng dạy thực tế và mang tính chuyên môn cao.

Đây củng là một bước phát triển cho việc tạo ra nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp và kinh tế đặc khu trong tương lai. Nhất là khả năng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản. Những đức tính mà cán bộ và nhân viên cần phát triển là trách nhiệm, trung thành, và hợp tác tôn trọng cho lợi ích chung của doanh nghiệp Nhật Bản và nhân viên Việt Nam. Với dân số 126 triệu người, nền kinh tế lớn hơn nền kinh tế Việt Nam 53 lần là điều mà mọi người Việt Nam sẻ luôn phấn đấu cho hai mươi năm sắp tới. Khả năng phát triển kinh tế của Nhật Bản phát xuất từ giá trị con người, khiêm tốn, văn hoá, truyền thống, lịch sử, gia đình, công ty, chính phủ trong suốt giải đoạn sau thế chiến thứ hai. Nếu niềm tin và sự cởi mở từ phía Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật Bản củng như các cơ quan chính phủ Nhật Bản được gia tăng thì sự hợp tác phát triển sẻ còn đi xa hơn nửa.


Các Giá Trị Kinh Tế và Văn Hóa của Nhật Bản Cho Sự Phát Triển Kinh Tế ở Việt Nam

“Học hỏi và so sánh là các đức tính cần thiết cho một nhân viên giỏi. Hơn thế nửa là kiên nhẩn và tôn trọng sẻ giúp ngưòi nhân viên nâng cao khả năng của mình.”

*****

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chuyển sang các giai đoạn thiết yếu: (1) tái xây dựng nền kinh tế, (2) cải cách quản lý, đầu tư, và phát triển kinh tế, (3) gia tăng tốc độ phát triển kinh tế, (4) mở rộng thị trường thế giới trên nhiều lĩnh vực tài chính, công nghiệp, hóa sinh, sản phẩm giải trí và văn hóa, (5) điều chỉnh vai trò của Nhật Bản trong khu vực Châu Á và thế giới trong cả hai mặt kinh tế và ngoại giao. Khi các nhà kinh tế và nghiên cứu Hoa Kỳ và Châu Âu thường nhận ra sự thành công của Nhật Bản do sự đóng góp phần nhiều bởi các tập đoàn kinh tế, công nghiệp, mậu dịch của Nhật Bản. Nhưng Giáo Sư Takafusa Nakamura ở đại học Tokyo tái khẳng định giá trị này bao gồm chính sách của chính phủ, sự hợp tác trong các khu vực kinh tế tư nhân và chính phủ, mối quan hệ tốt đẹp của quản lý lao động, và nhiều tác nhân khác tạo ra một sự hòa hợp hiệu quả cho sự gặc hái các thành công trong kinh tế ở Nhật Bản. Bên cạnh đó giáo sư củng giải thích hai giá trị khách quan là môi trường quốc tế thuận lợi trong giai đoạn này và sự nổ lực của người dân Nhật Bản đả góp phần cho sự phát triển kinh tế kỳ diệu của Nhật Bản.

Trong giai đoạn sau chiến tranh, Nhật Hoàng Hirohito bắt đầu công việc của mình là viến thăm nhiều nơi trên đất Nhật, tạo ra sự động viên về tinh thần cho mọi người dân như là một người đại diện của hoàng tộc, một thành viên trong xã hội Nhật Bản với tính khiêm nhường, thông cảm, những sở thích học thuật như nghiên cứu sinh hóa hải dương. Người dân Nhật luôn đặt ra những mục tiêu khó khăn hơn cho mục tiêu trước mắt, nhất là phải theo kịp các quốc gia phưong tây và vược qua các quốc phương tây. Làm việc cậc lực, suy nghĩ liên tục không ngừng cho những vấn đền mà họ cần hoàn thành và vượt qua. Có thể nói là hơn cả hy sinh đơn thuần. Nhật Bản chia ra ba khu vực kinh tế - (1) khu vực kinh tế cần nhiều sức lao động, (2) khu vực kinh tế cần nhiều nguồn vốn, (3) khu vực kinh tế cần nhiều kiến thức. Khu vực kinh tế cần kiến thức là mục tiêu mà Nhật Bản đả đầu tư với nhiều ưu tiên trong việc  hàng năm dành ra số ngân sách của chính phủ và tư nhân cho các công trình nghiên cứ và phát triển khoa học công nghệ và sản phẩm. Các ngân hàng có nhiệm vu thu hút vốn từ tiền tiết kiệm của người dân để cung cấp các loại vốn vay cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhờ vậy tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế xuất khẩu phát triển rất mau, giúp Nhật Bản không chỉ theo kiệp các quốc gia công nghiệp tiên tiến mà còn vượt qua các quốc gia này trên nhiều khía cạnh.

Thuê mướn làm việc suốt đời là đặc tính thứ nhất của Nhật Bản, giúp cho sự trung thành của nhân viên vào sự thành công của công ty. Nếu công ty phát triển và làm ăn có lời, thì mọi thành viên của sẻ được hưởng lợi ích. Ngoài ra nếu khi nhu cầu tiêu thụ giảm, các doanh nghiệp vẩn ít khi xa thải nhân viên, chỉ có thể giảm giờ làm trong giai đoạn này. Các công ty lớn thường cung cấp nhà ở cho nhân viên và các điều kiện giải trí thể thao khác, hay tổ chức các lớp học cấm hoa, cách thức pha trà và câu lạc bộ thể thao cho nhân viên và gia đình nhân viên tham gia. Các công ty nhỏ có thể không có nguồn kinh phí lớn như công ty lớn, do vậy sự quan tâm của công ty có thể là các buổi du lịch hay dã ngoại ở ngoài biển do chủ công ty hay vợ của giám đốc tổ chức. Sự gắn chặc mối quan hệ giữa công ty và nhân viên thông qua nhiều hình thức và hoạt động. Như sự hổ trợ cho nhân viên tu nghiệp hay đi học. Công ty thường có bài hát riêng cho đầu giờ của một ngày làm việc. Đồng phục, phần thưởng của công ty luôn gắn chặc nhân viên trong mối quan hệ tập thể và sự phấn đấu không ngừng. Nhân viên sau giờ làm thường cùng nhay đi ăn tối hay uốn rượu bia ở các quán bar. Do sự thuê mướn suốt đời, nên các công ty có trên 100 nhân viên sẻ áp dụng sự nghỉ hưu bắt buộc, khi nhân viên bước sang tuổi 55 hay 60 tuổi. Nhưng hiện nay do sự khan hiếm về lao động, các nhân viên qua tuổi 60 vần còn tiếp tục làm việc. Một số công ty do thiếu nhân viên, đả gia tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi. Nhưng người nghỉ hưu ít khi nghỉ ở nhà, mà họ sẻ tìm một việc khác để làm như làm nhà tư vấn, làm bán thời gian, mở một doanh nghiệp nhỏ nơi mà không có sự ràng buộc phải nghĩ hưu ở tuổi nào.

Giá trị thứ hai của văn hoá trong kinh tế Nhật Bản là phân công đoạn sản xuất ra nhiều công đoạn nhỏ và chuyển cho các công ty khác gia công sản xuất. Có nghĩa một công ty sản xuất tivi hay xe hơi sẻ không nhất thiết chế tạo ra 100% linh kiện và bộ phận rồi lấp ráp lại, mả chỉ sản xuất một phần của các linh kiện, phần còn lại sẻ giao cho các công ty khác làm. Các công ty nhỏ gia công linh kiện cho các công ty lớn không phải tốn các chi phí về nghiên cứu củng như các chi phí hành chính khác, vì các chi phí này đều do công ty lớn lo, hay còn gọi là công ty mẹ. Như hảng Toyota sẻ có rất nhiều công ty con cung cấp linh kiện cho việc sản xuất xe hơi Camry hay Corrola hay Prius. Nhưng các công ty nhỏ lệ thuộc vào sự thành công của các công ty lớn cho việc tiếp tục có đơn đặc hàng cho các linh kiện cần gia công và cung cấp. Cơ cấu quản lý trong các tập đoàn của Nhật giống như một gia đình, có người cha quả lý ở trên, và các người con quản lý các bộ phận bên dưới, rồi tỏa xuống theo thứ bậc. Đó là các nhóm công nghiệp keiretsu bao gồm công ty tài chính, nhà sản xuất, công ty gia công công đoạn, nhà phân phối và nhà mậu dịch xuất nhập khẩu. Một ví dụ cho nhóm tập đoàn Sumitomo, trong năm 1991, Sumitomo bao gồm nhiều nhóm xí nghiệp và công ty nhỏ nằm trong gia đình Sumitomo: công ty mậu dịch xuất nhập khẩu Sumitomo, ngân hàng Sumitomo, hảng sản xuất điện tử NEC, những công ty nhỏ trong hệ thống – Kojima Corp, Sumitomo Chemical, Sumitomo Metals, Sumitomo Heavy, Sumitomo Cement, Sumitomo Bakelite, Sumitomo Precision, Nippon Glass và các công ty khác. Ngoài ra các công ty mậu dịch lớn của Nhật Bản có doanh số thu nhập rất lớn, sau đây là các công ty C. Itoh 115.71 tỉ USD, Mitsui & Co 110 tỉ USD, Sumitomo 109 tỉ USD, Mitsubishi 107.86 tỉ USD, Marubeni 105.71 ti USD trong năm 1989, có nghĩa cách đây 21 năm, khi đó tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản là 2386 tỉ USD trong năm 1987. So với hiện tại GDP của Nhật trong năm 2009 là 5.05 ngàn tỉ USD. Các mối quan hệ này tạo ra một đóng góp đồng bộ giúp cho nền kinh tế của Nhật Bản phát triển trong giai đoạn 1945-1990 với sự đóng góp của các gia đình công nghiệp và keiretsu là khoảng 20% GDP của Nhật Bản.

Mức tiết kiệm cao ở Nhật Bản giúp cho các ngân hàng và công ty tài chính có vốn tái đầu tư trong các ngành kinh tế xuất khẩu, tiêu dùng và nghiên cứu. Từ 1961 đế 1979, mức tiết kiệm khoảng 18.2 % đến 22.1% thu nhập của người dân Nhật. So với Hoa Kỳ là 5.4% đến 8.8%. Nhờ vậy Nhật Bản tự túc được nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế giúp quốc gia tăng nhanh năng xuất sản xuất của nền kinh tế và giá trị GDP tăng hàng năm. Chính một trong các giá trị mà doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng trong giai đoạn gia tăng tốc độ phát triển kinh tế là hoạt động trên 20% vốn tự có và 80% vốn vay, cùng lúc luôn giữ mức nguyên vật liệu ở mức thấp cho thời gian sản xuất là 5 ngày đến 7 ngày trước khi đơn đặc hàng mới được chuyển đến. Như vậy tính theo giá trị kinh tế thì vòng xoay vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản rất cao.

Sự hợp tác quốc gia dưới sự điều phối của các cơ quan chính phủ Nhật Bản trong các chính sách ưu tiên cho ngành nghề nào cần phát triển và xử dụng vốn và công nghệ như thế nào. Sự thành công trong việc hợp tác giữa chính phủ, giới công nghiệo và nhóm tài chính, và lực lượng lao động tạo ra một sự hoàn hảo của mức đầu tư cao, chất lượng nghiệp vụ của lực lương lao động, sự kết hợp chặc chẻ và thống nhất của các tổ chức doanh nghiệp, và tốc độ điều phối công nghệ và khoa học kỷ thuật cho các ngành kinh tế chủ đạo có giá trị xuất khẩu cao. Ngoài ra sự hiệu quả của việc xử lý các vấn đề mà giám đốc, trưởng xưởng đối với nhân viên luôn tiết kiệm thời gian nhất là nhân viên có thể thảo luận với cấp trên nhanh hơn cho các biện pháp xử lý. Tức là khoảng cách mà nhân viên có thể liên lạc với cấp hiệu quả hơn so với các quốc gia khác. Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích sự phát triển của hệ thống giáo dục chú trọng đến khoa học kỷ thuật và ngôn ngử quốc tế, tăng cường hợp tác và cạnh tranh nhưng không phải đối chọi trên thị trường, cung cấp vốn cho các ngành xuất khẩu, hổ trợ các dự án hợp tác với chính phủ nước ngoài, luôn khuyến khích thị trường nước ngoài mở cửa.

Khi tham khảo các vấn đề trong công việc, nhân viên cấp dưới có thể thảo luận với cấp trên trong thái độ khiêm tốn và lặng lẻ, và đưa ra các ý kiến cho cấp trên biết trước khi vấn đề được bàn thảo công khai. Đó là một trong các bước mà nhóm làm việc tạo ra, hơn là tự đưa ra ý kiên để lấy điểm trước tập thể. Các thay đổi và sửa chữa sẻ có người chịu trách nhiệm xử lý. Các ý kiến và kế hoạch luôn được thông qua cho tất cả mọi thành viên tham khảo để biết trước nội dụng. Còn quyết định cuối cùng vẩn là ở cấp trên. Sự làm việc của các nhân viên Nhật Bản ở mức độ cao trên thế giới so với các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp. Quá trình làm việc theo chu kỳ vòng tròn từ khởi điềm cho đến khi quyết định cuối cùng trải qua nhiều bước cho toàn thể công ty cùng tham khảo trước khi được phê chuẩn cho việc áp dụng và thực hiện.

Giá trị và nhiệm vụ của kỷ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bơỉ vì Nhật Bản nhận ra đất nước của họ không có nhiều tài nguyên như các quốc gia khác, khả năng mà họ phải đạt được là phát triển các ngành khoa học nghiên cứu, công nghệ kỷ thuật cao, hệ thống tính toán theo thần kinh logic, hóa sinh, gia tăng giá trị cho các sản phẩm ưu việc phục vụ thị trường trên thế giới. Nền kinh tế Nhật Bản và xã hội Nhật Bản đang chuyển sang gia đoạn hoàn thiện của các giá trị xuất phát từ con người hay người tiêu dùng và ứng dụng các lợi ích của thông tin và trong sinh hoạt cuộc sống và kinh doanh. Có nghĩa khoa học công nghệ sẻ nối kết tất cả mọi hoạt động với nhau và mục tiêu cuối cùng là phục vụ con người. Trong năm 2008 giá trị kinh tế của nông nghiệp chỉ chiếm có 1.5% GDP, công nghiệp chiếm 26.3% GDP, và các loại kinh tế dịch vụ cần nhiều giá trị kiến thức và khoa học kỷ thuật đóng góp đến 72.3% GDP. So với Úc thì kinh tế dịch vụ đóng góp là 69.8% GDP, còn Trung Quốc là 40.1% GDP, Ấn Độ là 53.4% GDP.

Đó là một số điểm khái quát về văn hóa trong kinh doanh và hoạt động kinh tế Nhật Bản có thể giúp nhân viên và cán bộ quản lý Việt Nam có một niềm đam mê học hỏi ở Nhật Bản. Điều quan trọng là làm sao tạo ra khả năng của một con người có thể nối kết với công ty hay tập thể để cùng nhau phát triển về tương lai. Sự trung thành, hy sinh, tôn trọng, khiêm nhượng, và kiên nhẩn luôn là sự kết hợp hoàn hảo. Ở Nhật Bản, sự phát triển là vận đống thăng tiến liên tục. Việt Nam cần có khái niệm hy sinh cho công ty, cho doanh nghiệp, cho tổ chức cơ quan nhằm khuyến khích mọi thành viên đóng góp nhiều hơn, làm việc nhiệt tình hơn, biết phát huy sáng kiến cho lợi ích chung. Trung Quốc, Ấn Độ là hai bài học cho Việt Nam phát triển về công nghệ thông tin và kỷ nghệ sản xuất cho xuất khẩu ở giá thành cạnh tranh và tiêu chuẩn quốc tế.

Các Giá Trị Của Trung Quốc Mà Việt Nam Cần Học Hỏi

“Không có công thức nào giúp một quốc gia thành công hoàn toàn, nhưng quốc gia đó có khả năng khai thác tiềm năng của mình thông qua việc khai thác tài nguyên, quản lý con người, và tạo điều kiện cho con người kinh doanh thành công.”

*****
John Naisbitt và Doris Naisbitt, giảng sư tại đại học Nanjing, Nankai và Tianjin ở Trung Quốc. Họ thành lập ra viện nghiên cứu Naisbitt China ở Tianjin cho việc nghiên cứu, giảng dạy về kinh tế tại Trung Quốc. Mặc dù họ là người Áo, nhưng sự say mê của họ về Trung Quốc đưa họ đến quốc gia này làm việc và sống trong thời gian dài. Chính vì lẻ đó cái nhìn của họ về Trung Quốc khác với các tác giả khác. Tôi chi nêu lại các kết luận mà hai giáo sư này nhận xét và phân tích lý do nào mà Trung Quốc thành công trong việc phát triển kinh tế của mình trong giai đoạn 1979-2010.

Họ ca ngợi các giá trị mà chính phủ Trung Quốc làm được trong việc giảm đi số lượng dân có mức thu nhập nghèo vượt qua con số 300 triệu người trong vòng 3 thập niên. Mà trong đó có sự di chuyển của hơn 200 triệu người từ vùng nông thôn lên thành thị cung cấp nguồn lao động cho sự tăng trưởng GDP liên tục ở mức trên 10% trong suốc hơn 2 thập niên và giảm dần cho mức 9%, 10% trong các năm gần đây. Bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc củng biết khai thác cơ hội để phát triển ra thị trường nước ngoài. Mặc dù có nhiều ý kiến về các giá trị văn hóa, xã hội tại Trung Quốc không tương đồng với các giá trị tại Phương Tây, như kết quả mà Trung Quốc làm được có thể khẳng định một điều là Ấn Độ củng có số dân đông như Trung Quốc nhưng không phát triển mạnh và nhanh như Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ có chế độ chính trị đa đảng, còn Trung Quốc chỉ có một đảng chính trị. Sau đây là một phần tóm lược ý kiến của hai giáo sư này cho các giá trị mà Trung Quốc đả làm được trong ba thập niên qua.

Khái niệm tái kiến thiết Trung Quốc ra đời vào năm 1979. Các công ty hay xí nghiệp đang hoạt động trên bờ vực bị phá sản. Người điều hành doanh nghiệp hay xí nghiệp đả chọn ra những kế hoành đầy tham vọng, có tầm nhìn xa, kiên quyết, nhất quán để biến đổi lực lượng lao động của họ trong tình trạng có trình độ kém, luôn bị quản thúc hay quản chế cho từng hành vi, quá dể dải thành một lực lượng làm việc với những phương thức, tinh thần hoàn toàn khác.

Bước đầu tiên mà nhà quản lý muốn làm là chọn ra cho mình một đội tinh nhuệ nồng cốt có thể đảm nhận công việc hiệu quả, và nắm rỏ mục tiêu mà doanh nghiệp họ muốn hoàn thành. Nhân viên cấp dưới biết suy nghĩ mạnh mẻ hơn để cung cấp sáng kiến và cải tiến trong công việc. Khả năng tự chủ, tự tin này giúp nhân viên tăng them tinh thần làm việc và long tự trọng trong công việc. Mọi người can đảm hơn trong việc có trách nhiệm đóng góp cho doanh nghiệp của mình phát triển.

Bước tiếp theo là cán bộ quản lý sẻ tạo ra môi trường làm việc mới nhằm tăng cường khả năng trao đổi ý kiến, đóng góp ý kiến, truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên xuống cấp dưới, hay từ cấp dưới lên cấp trên. Sự trao đổi và đóng góp này mang tính xây dựng và hoàn thiện cho doanh nghiệp, do đó mọi người luôn tin tưởng là ý kiến của mình sẻ không gây tại họa cho bản thân. Mọi người sẻ nhiệt tình đóng góp cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Nó không tạo ra mâu thuẩn mà tạo ra quá trình lập đi, lập lại cho sự hoàn thiện mỗi ngày.

Bước thứ ba là khẳn định mục tiêu mà doanh nghiệp theo điểu. Thành lập ra giá trị riêng cho doanh nghiệp gọi là văn hóa của doanh nghiệp. Nó đảm bảo mọi người sẻ có lợi khi cùng nhau thực hiện các qui ước này một cách tự giác và có ý thức cao. Sự thành công của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, có như vậy thì doanh nghiệp mới cung cấp thu nhập, tiền thưởng và các lợi ích khách cho mọi thành viên. Mọi thành việc sẻ hoạt động theo các khuôn mẫu đả đề ra, nhưng các tài năng vẩn có thể phát triển vượt ra ngoài các khuôn mẫu này cho sự lớn mạnh của công ty. Công ty sẻ xem xét kết quả này để điều chinh lại chiều kích mới cho khuôn mẫu mới để mọi thành viên khác cùng noi theo. Như vậy khuôn mẫu giúp mọi thành viên hoạt động hiệu quả, nhưng các tài năng hiếm có vẩn có thể gia tăng sức sang tạo và giá trị cống hiến cho công ty ở mức cao và linh động.

Bước thứ tư là khả năng xây dựng niềm tin và loại dần cảm giác sợ hải. Lòng tin sẻ giúp mọi người giám làm đển chọn ra kết quả đúng. Có nghĩa làm thử để loại cái sai, chọn cái đúng được chấp nhận vì mọi người chưa tạo ra một tiêu chuẩn thống nhất cho chiến lược lâu dài. Đó là cơ hội để sự sang tạo, phát minh và sang kiến có cơ hội phát huy và tồn tại trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.

Bước thứ năm là chào đón, đón nhận các giá trị nghệ thuận và trí tuệ, mặc dù đôi lúc nó đi trước thời đại. Vì các giá trị này góp phần cho sự đa dạnh của kinh doanh trong nền kinh tế, nhất là sự hình thành nhiều loại hình kinh doanh văn hóa phong phú tạo ra tác động tích cực cho các loại hình kinh tế khác tăng trưởng. Ví dụ như hội họa có thể tăng lượng du khách nước ngoài cho việc chiêm ngưỡng hay mua các tác phẩm.

Bước thứ sáu là doanh nghiệp biết thành lập nền móng tại thị trường nội địa, sau đó mở rộng sang các thị trường nước ngoài. Đồng thời mời gọi đối tác, nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác, để học hỏi công nghệ hiện đại, công nghệ mới giúp công ty tăng khả năng cạnh tranh.

Bước thứ bảy là hành vi của một người sẻ ảnh hưởng lên người khác. Sự thành công của một người luôn tạo ra sự ganh tị cho người khác. Trong khi đó thất bại lại gây ra sự than phiền từ người khác cho hành vi của mình. Thường một người có tài sẻ leo dân lên nấc thang của sự thành công, ngược lại những người không có khả năng sẻ bị khựng lại cho ví trí của mình. Quá trình này tạo ra sự hoàn thiện của quá trình sản xuất vì mọi người nhận ra sự cải tiến, sang tạo được nhận phần thưởng là chức vụ cao hơn, lương cao hơn. Sự công bằng và tự do cho đóng góp và khen thưởng sẻ giúp sự hòa hợp tồn tại và phát triển ổn định trong doanh nghiệp.

Bước thứ tám là Khi doanh nghiệp đả tạo ra chổ đứng trong thị trường, thì doanh nghiệp phải chuyển dần từ việc bắt chước các sản phẩm nước ngoài sang việc tự chế tạo ra sản phẩm do mình nghiên cứu và tạo ra sự tin tưởng và ưa thích của người tiêu dùng. Các quá trình được cải tiến, nâng cấp để tăng chất lượng, hiệu xuất, số lượng của sản phẩm tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Như vậy cuộc sống của mọi thành viên trong doanh nghiệp củng được cải thiện và nâng cấp.

Tám giá trị này được biểu hiện không chỉ ở doanh nghiệp kinh tế, mà còn ở các cơ quan chức năng trong chính phủ. Điều này có thể nhận ra khi chính phủ luôn biết cách hổ trợ doanh nghiệp kinh tế thông qua giúp vốn vay ưu đải, công nghệ cho việc phát triển tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các giao dịch mua các thương hiệu nước ngoài, trên danh nghĩa là do các doanh nghiệp kinh tế Trung Quốc thực hiện, như vốn thu mua do ngân hàng của Trung Quốc cung cấp. Tám giá trị vửa nêu còn gọi là tám trụ cột xã hội mà nền kinh tế của Trung Quốc dựa vào để phát triển trong ba thập niên qua. Nền kinh tế của Việt Nam có thể áp dụng phần nào tám giá trị này cho việc tăng tốc nền kinh tế từ 104 tỉ USD trong năm 2010 lên hơn 1000 tỉ USD trong năm 2030.

Ấn Độ và Giá Trị Quản Lý của Các Doanh Nghiệp Công Nghệ Thông Tin

“Khả năng sử quản lý nguồn nhân sự, tài nguyên, khai thác thị trường là một sự phối hợp không chỉ do trình độ của ban quản lý của một doanh nghiệp, mà nó còn mang giá trị văn hóa của quốc gia đó tác động lên sự thành công trên thị trường trong nước và ngoài nước.”

*****


Cán bộ quản lý củng không quên là có thể học hỏi như thế nào đối với các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc phát triển công nghệ thông tin và mở rộng sang các loại ngành kinh tế khác. Ấn Độ có tỉ lệ dân số rất lớn không tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở, do nhiều nguyên nhân. Như bù lại các thành phố lớn có tỉ lệ lớn sinh viên tốt nghiệp trong các ngành kinh tế, khoa học, nghiện cứu mũi nhọn. Nhờ đó mà nền kinh tế của Ấn Độ có khả năng cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ và công nghiệp này.

Sau đây là một trong các thành công của nền công nghiệp phần mềm mà Ấn Độ làm được trong ba thập niên vừa qua. Đó là sự thành công của công ty Wipro có giá trị thị trường hiện nay là hơn 30 tỉ USD vào tháng 2 năm 2011. Công ty công nghệ thông tin của Ân Đố này đả áp dụng các chiến lược phát triển thần kỳ tạo ra mức doanh thu và giá trị thị trường gân bằng 1/3 GDP của Việt Nam. Như vậy nếu Việt Nam có hai công ty như công ty Wipro thì củng có thể tăng lên giá trị thị trường là 60 tỉ USD.

Các giá trị nào mà công ty Wirpo đả áp dụng thành công? (a) mở rộng thị trường không tạo ra sự bất ổn và xáo trộn, (b) thực hiện các qui luật của xuất khẩu công đoạn, (c) cải tiến và nâng cấp mỗi ngày, (d) luôn quan tâm khách hàng một cách cao độ, (e) khuyến khích nhân viên làm việc theo phương thức của Wipro, (f) chuẩn bị kế hoạch trước ba năm cho tốc độ tăng trưởng nhanh. Wirpo đả chọn chổ đứng cho mình trong việc cung cấp nguồn chất xám giá rẻ thông qua kết nối mạng internet đối với khách hàng trong và ngoài nước. Trong năm 2000, công ty phát hành cổ phiếu đầu tiên tại thị trường New York, khi công ty đạt được mức doanh thu là 500 triệu USD. Năm 2006, giá trị thị trường của công ty là 20 tỉ USD, tạo ra doanh thu là 2.4 tỉ USD. Các công ty phần mềm và công nghệ thông tin của Ấn Độ thường có hai cách thành lập. Thông qua các du học sinh tại các đại học Hoa Kỳ, sau đó họ vào làm việc cho các công ty tại thông lũng Silicon ở California. Khi họ đả tích luỹ đủ kinh nghiệm, củng như tạo ra mối quan hệ làm ăn và uy tính tại thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu, thì họ quay về Ấn Độ thành lập công ty. Người bỏ vốn cho họ có thể là nhà đầu tư Ấn Độ hay Hoa Kỳ. Khi họ thành lập công ty có qui mô nhỏ, rồi phát triển dần thành một công ty quốc tế phục vụ mọi nơi thông qua nối kết mạnh cho các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Ân Độ đào tạo khoảng 120,000 sinh viên thạc sĩ và hơn 3 triệu sinh viên đại học về công nghệ thông tin hằng năm. Mức lương mà họ nhận bằng khoảng 20% mức lương của các nhân viên tại các công ty của Hoa Kỳ hay Châu Âu. Có nghĩa thị trường chất xám của Ấn Độ tạo ra cơn chảy công việc từ các thị trường mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu theo giá trị so sánh: kết nối internet + chất xám giá rẻ tạo ra cơ hội kiếm tiền và tạo lợi nhuận cao. Các công ty này thuê mướn nhân viên làm việc theo ba ca, tức là họ luôn hoạt động 24 giờ một này, và 365 ngày một năm cho khách hàng trên toàn thế giới không kể sự khác biệt của múi giờ.

Tata Consultancy Services (TCS) là công ty lớn nhất về dịch vụ công nghệ thông tin tại Ấn Độ. Doanh thu của họ là 3 tỉ USD trong năm 2006. Doanh thu của họ trong năm 2010 là khoảng 6.5 tỉ USD, giá trị thị trường là khoảng 46 tỉ USD. Infosys củng là một công ty Ấn Độ có giá thị trường là 38 tỉ USD trong năm 2011, tạo ra doanh thu là 4.6 tỉ USD. Ba công ty công ty tạo ra giá trị thị trường khoảng 110 tỉ USD lớn hơn bằng GDP của Việt Nam. Cả ba công ty tạo ra doanh thu là hơn 15 tỉ USD tạo ra công ăn việc làm cho hơn 420,000 người. Đó là một trong ví dụ cho việc Việt Nam có thể phát triển các doanh nghiệp trong công nghệ thông tin có qui mô hoạt động toàn cầu. Các loại dịch vụ mà cả ba công ty này cung cấp và phục vụ khách hàng toàn cầu luôn cần nguồn cung cấp nhân tài là chất lượng mà các đại học thuộc khoa học công nghệ thông tin có thể cung cấp hằng năm cho ba loại bằng cấp: thạc sĩ, đại học và trung cấp. Mà nòng cốt là đội ngủ giảng dạy có có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp tại các đại học nước ngoài ở Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, và các quốc gia khác. www.infosys.com, www.tcs.com, www.wipro.com là ba websites của ba công ty này có thể cung cấp các loại hình dịch vụ mà Việt Nam có thể phát triển và đầu tư trong các năm sắp tới.

Cho trường hợp của công ty Wipro, cán bộ quản lý của Việt Nam có thể học hỏi các bài học sau.

Bài học thứ nhất là tạo ra khả năng cung cấp dịch vụ cho các công ty bán lẻ, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ khi giá thành cho việc chi phí ở mức thấp. Công ty có thể nhận ra tiềm năng cung cấp dịch vụ toàn cầu khi công ty thành lập bản đồ thị trường của khách hàng, qua đó sẻ chuẩn bị hệ thống kết cấu có khả năng phục vụ khách hàng ở tốc độ cao, ổn định, chất lượng bảo đảm và giá thành hợp lý. Khái niệm công ty ảo là một khái niệm mới lien quan đến sự hổ trợ của hệ thống máy tín có chức năng làm việc giải quyết các sử lý mà khách hàng yêu cầu. Những khó khăn về thời gian, ngôn ngữ, trình độ thao tác, độ chính xác luôn được quan tâm và nâng cấp không ngừng. Khách hàng là các công ty đa quốc gia do đó nhu cầu của họ không phải hạn chế hay rang buộc tại một thị trường, do đó công ty phải có khả năng hoạt động cùng lúc trên nhiều mạng khác nhau, nhằm duy trình khả năng hoạt động lien tục. Sự kết hợp trong các thao tác hay hộ trợ mang tính không biên giới cho các dịch vụ. Nhân viên có thể làm việc trong một nhóm, dù họ sống hay di chuyển tại nhiều thanh phố khác nhau, nhờ cầu nối internet toàn cầu, và bảo mật của mạnh giải mã cho các thông tin mật. Sự cải tiến là giá trị sống còn, vì các công ty đối thủ sẻ vượt qua khi công ty nhà không có biện pháp cải tiến và hoàn thiện. Sự sống của công ty nó giống như nguồn khí mà nhân viên hít thở hằng ngày, do đó tinh thần cải tiến và sang tạo luôn đi đôi với nhịp sống của mọi thành viên. Thành công là ý trí mà mọi thành viên luôn ghi nhớ và thực hiện. Nó như là khẩu hiệu, mục tiêu lâu dài cho từng cá nhân cống hiến cho công ty.

Bài học thứ hai là áp dụng các bài học chuyển tiếp cho lợi nhuận. Khai thác triệt để từng lợi nhuận dù nhỏ hay lớn để phát triển công ty. Giải thích bằng cái ví dụ giúp nhân viên áp dụng và thực hiện dể dàng. Tận dụng từng loại hình kinh doanh và áp dụng tất cả sang kiến cho việc cải thiện khả năng quản lý trong từng loại hình kinh doanh, vì khách hàng có thể hoạt động bất cứ lỉnh vực nào. Nhận ra khái niệm biến công ty thành trung tâm sang tạo và cung cấp dịch vụ toàn cần với các giá trị cạnh tranh cao nhất. Khi điều kiện cho phép, công ty sẻ tận dụng tốc độ phát triển ở mức cao nhất, nhưng đồng thời củng sẻ chuyển dần sang các loại hình kinh doanh khách nhau cho lợi nhuận được phân bổ trên nhiều loại hình kinh doanh. Nhất là khi thị trường phát triển cho các nhu cầu mới. Mục tiêu mà doanh nghiệp nên chọn ra có giá trị rỏ rệt như là giá trị thị trường của công ty, doanh thu của công ty từng năm hay kế hoạch 2 năm hay 3 năm trong tương lai. Như vậy kích thích sự phấn đấu mà nhân viên có thể đóng góp cho công ty. Khi công ty cần mở rộng thị trường, thì nên chọn giải pháp là phát hành cổ phiếu để gia tăng vốn cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Đồng thời thuê mướn nhân viên có chuyên môn cao, tay nghề, long nhiệt tình cho việc sang tạo ra các loại dịch vụ và sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của thị trường. Sáng kiến mới là nguồn động lực tiếp sức cho công ty hoạt động hiệu quả và lớn mạnh hơn. Ban lãnh đạo công ty sẻ chọn ra lý tưởng hay triết là cho công ty, mà nó được dùng như kim chỉ nam cho toàn thể nhân viên của công ty thực hiện.

Bài học thứ ba là thực hiện chiến lược để dẩn đầu một lúc tại nhiều thị trường. Sự mở rộng thị trường không có nghĩa là giảm đi sự tập trung mà doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả. Sự hoạt động hiệu quả sẻ do khả năng quản lý các nhóm hoạt động trong từng loại hình kinh doanh, như họ vẩn có thể hộ trợ cho nhau. Như vậy doanh nghiệp tận dụng hết tiềm năng và năng lực của mọi nhân viên cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng không nên phân tán ra quá nhiều tài nguyên của doanh nghiệp mà rủi ro củng có thể gây ra sự thất thu. Sự phức tạp của việc kinh doanh trong nhiều thị trường củng là một tính cách hữu ích cho doanh nghiệp, như là sự thử thách vượt qua các đối thủ khác. Khi đối diện với khó khăn, thì doanh nghiệp sẻ phân tích và rút ra các giá trị cụ thể liên quan đến ngành kinh tế dịch vụ của mình. Nó mang giá trị thiết thực, cụ thể để doanh nghiệp có thể thực hiện hiệu quả và có lợi nhuận cao hơn.

Bài học thứ tư là biết cách phát triển doanh nghiệp khi doanh nghiệp tạo ra kích thích và làm chủ tình hình trong từng loại hình kinh doanh. Nhất là từng loại thị trường kinh doanh khác nhau tạo thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Khi thâm nhập vào một thị trường mới, doanh nghiệp luôn phát triển hết khả năng nhằm gia tăng thị trường, củng nhưng chiếm lĩnh nhóm dẩn đầu trong thị trường đó. Đồng thời, doanh nghiệp củng sẻ chọn ra nhiều gói đầu tư để tấn công vào một thị trường tạo ra hiệu quả của sự thành công lớn hơn. Rút ngắn các thiếu sót mà khả năng doanh nghiệp đang gặp phải, đển nâng cấp khả năng cho sự hài lòng từ khách hàng. Đối với từng loại thị trường, doanh nghiệp có thể đi lên trong top đầu để tái khẳn định các qui tắc cạnh tranh mới nhằm qua mặt các công ty đối thủ khác. Khi muốn thu mua các công ty khác, doanh nghiệp sẻ đặc ra mục tiêu mở rộng tiềm năng rộng hơn tại thị trường. Giống như thành lập cả một mắt xích có đủ tiềm năng trong từng loại ngành kinh doanh khác nhau, nhưng lại có tiềm năng hổ trợ hài hòa bên trong doanh nghiệp.

Bài học thứ năm là biến doanh nghiệp của mình thành một thương hiệu có giá trị bằng việc áp dụng các qui tắc đạo đức, thái độ làm việc ở mức cao nhất. Hay gọi là nghiêm khắc nhất. Mọi nhân viên sẻ nhận ra họ phải làm điều đúng khi họ muốn hoàn thành công việc được giao. Chuyển dần các giá trị của công ty vào trong cuộc sống của nhân viên. Luôn khẳn định một điều là giá trị không đứng yên một chổ, mà nó phải biến đổi cho sự cải thiện và nâng cấp. Sự đồng bộ mà nhân viên có thể làm việc hiệu quả là khi các giá trị được gắn liền vào trong hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thành công, luôn tạo ra các khái niệm đóng góp cho xã hội qua nhiều hình thức khác nhau.

Bài học thứ sáu là giáo dục nhân viên mới thuê tuyển và hổ trợ họ suốt quá trình làm việc với các chương trình huấn luyện nâng cao nghiệp vụ. Có thể gọi là chuyển biến giá trị chất xám vào từng nhân viên làm việc cho công ty. Như vậy giúp công ty gia tăng hiệu quả và các mục tiêu kinh doanh lâu dài. Luôn tạo ra khoảng không gian tạo cho mọi nhân viên cảm giác họ phải vận động cho sự sang tạo không ngừng. Sự tuyển chọn nhân viên cho các vị trí cần thiết mà công ty muốn thuê tuyển. Tuỳ theo chức năng, mà tốc độ tuyển dụng nhân sự có sự thay đổi khác nhau nhằm đảm bảo chất lượng của nhân viên tuyển lựa nhân viên mới. Khi đả thuê mướn, các nhân viên luôn được tham gia các khóa đào tạo cho việc hấp thụ tinh túy là các giá trị mà công ty đả thành công và gây dựng nên. Nhân tài luôn được nuôi dưỡng và nâng cao cho từng vị trí phù hợp. Khi phát triển ở qui mô toàn cầu, sự chọn lựa nhân tuyển cho cán bộ lãnh đạo luôn được chuẩn bị trước khi cần sẻ thay thế vị trí của người lãnh đạo của công ty. Mọi nhân viên luôn có thái độ làm việc là tự nâng cao trình độ và cải thiện nghiệp vụ của mình.

Bài học thứ bảy là gợi ra các câu hỏi và phê bình từ nhân viên để giúp doanh nghiệp cùng phát triển. Khái niệm trao đổi thông tin, ý kiến, các giá trị đóng góp được phổ biến mở rộng ra trên toàn bộ các bộ phận của doanh nghiệp tạo cơ hội cho mọi người trao đổi và cải thiện lẩn nhau. Sự đóng góp này có thể tiết kiệm rất nhiều cho doanh về tiền bạc và thời gian. Vì các giá trị mà nhân viên đóng góp tương tư như ý kiến của khách hàng đóng. Do đó doanh nghiệp hạn chế mọi thiệt hại nếu các trường hợp vừa nêu không được khắc phục trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Như vậy có thể làm khách hàng bỏ đi sang các công ty cạnh tranh đối thủ khác. Các câu hỏi luôn được đưa ra từ cấp trên tạo cho nhân viên cấp dưới niềm tin cho các đóng góp của mình. Nếu cán bộ lảnh đạo nghi ngờ một cấn đề gì cho kết quả không như mong muốn, nên đưa ra câu hỏi ngay tức khắc để đón nhận ý kiến của nhân viên có thể giúp cho doanh nghiệp cải thiện hay tìm giải pháp tối ưu hơn. Ngoài ra, đi kèm với câu hỏi còn là các hành động cụ thể để tạo niềm tin và sự kích lệ cho thái độ làm việc và đóng góp của nhân viên. Trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên có một hộp thư góp ý. Như vậy mọi người sẻ dể dàng đóng góp ý kiến nâng cao chất lượng và dịch vụ một cách kính đáo không gây ra hiểu lầm, đố kỵ trong nội bộ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mọi thành viên sẻ có trách nhiệm tự giác tìm ra lổi và các thiếu sót trong từng công đoạn, để góp ý. Có nghĩa nâng cao chất lượng, cải tạo qui trình làm việc cho sự hoàn thiện trước khi khách hàng nhận ra thiếu sót của mình. Đó củng là cách mà doanh nghiệp tự hoàn thiện và tạo ra cách biệt trong cuộc chạy đua với các đối tác trong và ngoài nước.

Bài học thứ tám là khen thưởng nhân viên cho sự đóng góp trước toàn thể mọi thành viên và sự tôn trọng rỏ ràng. Gia tăng thái độ làm việc tích cực, cổ vũ những giá trị đạo đức nghề nghiệp với các phần thưởng sang tạo. Sự vui mừng hay cùng nhau tận hưởng các chiến thắng của doanh nghiệp củng tạo ra luồn sức mạnh cho mọi người, và đồng thời nhắc nhở thái độ làm việc nghiêm túc của họ sau này. Thưởng nhân viên với các giá trị cụ thể như tiền thưởng, tăng lương, đi nghĩ ở nơi du lịch nổi tiếng, hay các bổng lộc khác. Có thể tặng nhân viên xuất sắc một số cổ phiếu của doanh nghiệp để gắn liền tương lai của nhân viên với sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

Bài học thứ chính là áp dụng các giá trị so sánh phân tích nhằm hạn chế các tiêu xài không cần thiết cho cán bộ cao cấp hay đầu ngành các bộ phận. Do đó sẻ tiết kiệm tối đa các chi phí, nếu nhận thấy nó không cần thiết, củng như tạo ra lợi nhuận cho công ty. Doanh nghiệp sẻ tính toán giảm đi các chi phí trung gian khi thực hiện các giao dịch hay mua bán. Tiền hoa hồng của nhân viên trong việc tham gia các giao dịch như vậy sẻ được tính toán cho sự hợp lý tính theo số người tham gia. Khi nhận ra nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới có thể tiết kiệm từ mức tiêu thụ giấy, mực in, giấy vệ sinh, nước uống, hay các chi phí lặc vặc trong hoạt động văn phòng, thì số lượng lớn sẻ giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều. Củng như việc sử dụng điện và các thiết bị không cần thiết cho mục tiêu kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có số lượng đi lại lớn cho nhân viên giữa các văn phòng trên thế giới hay trong một quốc gia, thì sự tính toán chi phí cho việc đi lại này củng sẻ giúp tiết kiệm nhiều cho doanh nghiệp. Khi thiết kế xây dựng văn phòng, hảng xưởng, người quản lý sẻ tính đến việc rút ngắn thời gian di chuyển của nhân viên từ bộ phận này sang bộ phận khác, hay các dây chuyển gia công sản xuất có thể đảm bảo chất lượng, số lượng. Nhân viên sẻ làm việc trong môi trường có không gian và sự bố trí nhân sự và các bộ phận chức năng hợp lý cho cả việc trao đổi thông tin và di chuyển hằng ngày. Như việc thiết kế nhà vệ sinh và phòng ăn, tiện cho nhân viên có thời gian di chuyển ngắn nhất. Sự tiết kiệm sẻ đi kèm theo sự tích luỷ của ngân sách. Có nghĩa chi phí tiết kiệm được sẻ được dùng vào các dự án khác có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa bỏ qua quá trình tăng giá trị của doanh nghiệp. Mọi hành vi tiết kiệm luôn đảm bảo là chất lượng của công việc luôn phải được đảm bảo và gia tăng không ngừng. Khi cần thiết thì doanh nghiệp vẩn phải chi phí cho các hoạt động cần thiết tạo ra lợi nhuận, hay hổ trợ cho các hoạt động tạo ra lợi nhuận.

Bài học thứ mười là xây dựng nền tảng của doanh nghiệp bằng việc gìn giử các nhân tài và chuyên gia có kinh nghiệm trong công việc. Họ là nòng cốt duy trì sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Nhưng đồng thời gia tăng giá trị sáng tạo bằng cách tiếp nhận nguồn nhân lực mới từ bên ngoài. Nhân viên luôn hiểu hết giá trị lịch sử mà doanh nghiệp hình thành, phát triển, mở rộng thị trường như là niềm tự hào của mọi thành viên. Bên cạnh đó hạn chế các hành vi chia nhóm hay phân rẻ trong nội bộ doanh nghiệp tạo ra sự đình trệ và thiệt hại cho sự phát triển mang tính sáng tạo của mọi người. Nếu từng nhóm làm việc mang giá trị quan hệ như gia đình tạo ra sức mạnh phát triển của nhóm và củ cả doanh nghiệp. Hoán chuyển vị trí làm việc nhằm đổi mới và gia tăng khả năng điều hành của các giám đốc của từng bộ phận. Tạo ra giá trị lảnh đạo trong từng hơi thở của các thành viên. Bên cạnh đó củng tạo ra khái niệm khi nào thì nên theo nội qui, khi nào thì có thể linh động sử lý công việc.

Bài học thứ mười một là xây dựng dựa trên các giá trị căn bản của cạnh tranh và ưu việt. Khả năng mà doanh nghiệp có thể làm được là biết đánh giá mọi hoạt động một cách nhanh chónh. Có thể nói những con số luôn vận động và làm việc trong đầu của mọi người. So sánh với cái tốt nhất hiện có trên thị trường để cố gắn vươn lên vượt qua giá trị đó. Luôn gắn liền các giá trị chiến lược theo từng hành vi làm việc hằng ngày. Mổi nhân viên có thể tự đánh giá về mình trong công việc và đánh giá đồng nghiệp trong công việc để cùng nhau tiến bộ. Giám đốc hay trưởng nhóm luôn biết được thuộc cấp của mình nghĩ gì và làm sao để mọi người đánh giá khả năng làm việc của mình. Nếu chỉ thị cấp dưới, người lảnh đạo luôn dùng các minh họa chi tiết để hạn chế hiểu làm tạo ra sai sót gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Bài học thứ mười hai là lên kế hoạch trước ba năm cho sự tăng trưởng vượt bậc. Quan niệm những gì là quá trình chuyển biến cho giá trị chính và chiến lược của doanh nghiệp. Đề ra các mục tiêu cụ thể để khẳn định các chiến lược rỏ ràng. Trong việc thực hiện chiến lược luôn gắn liền việc phân tích từng bước. Khi nhận ra nhân viên có sáng kiến hay, nên giao cho họ tham gia vào việc hoạch định chính sách kế hoạch lâu dài.

Bài học thứ mười ba là sáng tạo sản phẩm mới, dịch vụ mới mỗi ngày. Có thể từ các chi tiết hay hoạt động nhỏ nào củng liên quan đến các giá trị lớn hơn cho sang kiến được đóng góp. Nâng cao cải tiến công nghệ là bước quan trọng. Sự gia tăng khả năng xử lý vấn đề củng mang giá trị sáng tạo và cải tiến. Tốc độ hoạt động của các khâu làm việc củng nằm trong quá trình sáng tạo và cải tiến. Thành lập trung tâm cho hoạt động cải tiến ở mức tuyệt đối như là nơi để mọi thành viên có thể học hỏi và nâng cao khả năng của mình. Sáng kiến và cải tiến luôn thông qua các chương trình khởi xướng do cấp trên đề ra. Sự cải tiến về số lượng và chất lượng luôn đi kèm với nhau trong từng bộ phận của doanh nghiệp. Khi tiếp nhậ ý kiến từ bên ngoài, doanh nghiệp sẻ chuyển đổi thành ý kiến mới mang nét riêng của doanh nghiệp. Luôn tạo ra tinh thần học hỏi từ các chuyển gia hy bậc thầy bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp. Sự kiệm thời xử lý các công đoạn hay áp dụng sự chính xác và làm việc có tốc độ cao, củng như hoàn thành công việc theo chu kỳ thời gian.

Bài học thứ mười bốn là luôn gắng liền mối quan tâm đối với khách hàng khi họ cần các dịch vụ vào bất cứ thời điểm nào. Các giá trị phục vụ cho nhu cầu của khách hàng luôn được quan tâm và thực hiện cho dù là thiên tai hay các sự cố ngoài ý muốn xảy ra, thì doanh nghiệp vẩn tiềm giải pháp thỏa mản nhu cầu của khách hàng. Tạo ra sự quan tâm từ khách hàng đối với nền tản hay giá trị của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp vẩn phải chọn các phương pháp cụ thể biến sự thất bại thành thành công với sự đóng góp của toàn thể nhân viên. Khi chọn một khách hàng khó tính nào hay có giá trị tiềm năng toàn cầu, phục vụ họ với các giá trị sang tạo vượt ngoài khả năng sẻ là phương thức quảng cáo cho giá trị của doanh nghiệp. Sự thành công này chính là chìa khóa để đón nhận khách hàng mới từ thị trường trong và ngoài nước. Trong quá trình phục vụ khách hàng, doanh nghiệp còn có khả năng tiếp xúc và giáo dục khách hàng cho các việc sự dụng sản phẩm, dịch vụ có lợi nhất cho họ. Đó củng là cách tạo ra niềm tin từ khách hàng khi thể hiện tính cách chuyên nghiệp cao của doanh nghiệp.

Bài học thứ mười lăm là áp dụng quản lý nhịp độ cao để tăng khả năng hoàn thành công việc và chỉ tiêu. Có nghĩa tạo ra tốc độ làm việc cao hơn mức bình thường, như vậy giúp nhân viên hoàn thành công việc sớm hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, gia tăng lợi nhuận. Ngay cả khi đả đạt vị trí là nhà cung cấp toàn cầu có doanh thu hàng tỉ USD, thì doanh nghiệp vẩn phải doanh nghiệp phải tiếp tục  bố trí nhân sự cho các vị trí then chốt cho các nhân tuyển có khả năng tiếp tục phát triển doanh nghiệp hiệu quả hơn. Người lảnh đạo luôn linh động trong việc quản lý và thực hiện các chính sách cho doanh nghiệp. Sự linh động này mang giá trị phù hợp theo thị trường và đối thủ cạnh tranh. Đồng thời biết điều chỉnh và tổ chức các bộ phận làm việc với nhau cho mục tiêu đạt được tốc độ của sang tạo, cải tiến phục vụ khách hàng. Sự nhảy vọt cho giá trị tạo ra sản phẩm của doanh như là mục tiêu vượt mặt các đối thủ trong thị trường.

Bài học thứ mườn sáu là áp dụng khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh như là bài học cho tương lai và giới thiệu với khách hàng khác. Doanh nghiệp sẻ phân tích từng loại khách hàng và loại hình kinh doanh của khách hàng có sự liên quan đối với khả năng phục vụ của doanh nghiệp. Đó là các ví dụ cụ thể mà doanh nghiệp dùng phát triển cho các kế hoạch phục vụ khách hàng mới. Khách hàng củng có thể giúp cho doanh nghiệp nâng cao giá trị phục vụ về chuyên môn và các giá trị khác.

Những bài học quản lý kinh doanh và mở rộng thị trường mà các công ty công nghệ thông tin có thể giúp các công ty công nghệ thông tin Việt Nam học hỏi và tạo ra thương hiệu toàn cầu cho mình. Ngôn ngử quốc tế như tiếng Anh, Hoa, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Á Rập là công cụ chính giúp các doanh nghiệp Việt Nam phục vụ khách hàng khắp nơn trên thế giới. Các bài học từ các công ty Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ giúp cho doanh nghiệp trong nước mở rộng dần từ lợi nhuận ổn định, rồi phát hành cổ phiếu ra thị trường nước ngoài. Không chỉ huy động vốn nước ngoài, mà còn thu hút khách hàng nước ngoài cho tiềm năng lớn hơn, lợi nhuận cao hơn.